
Bà chủ đại lý vải ném bộ áo bạc màu xuống chân tôi giữa sân kho: "Nhúng tay vào là hỏng, cả họ nhà bà bồi thường nổi không?"
# Bà chủ đại lý vải ném bộ áo bạc màu xuống chân tôi giữa sân kho: "Nhúng tay vào là hỏng, cả họ nhà bà bồi thường nổi không?"
"Nhúng tay vào là hỏng, cả họ nhà bà bồi thường nổi không?"
"Chị cho tôi xem tấm áo đã."
"Xem cái gì mà xem, bà mù à?"
Bà Riếc dốc ngược cái túi vải, bộ áo chàm rơi xuống nền xi măng trước mũi dép tôi.
Sân kho sáng ấy có chừng hai chục người, phần lớn là bạn hàng lấy vải sớm.
"Bà nhìn đi. Nhìn cho kỹ vào."
Tôi ngồi thụp xuống, hai đầu gối kêu rắc.
"Tôi nhìn đây."
"Áo cưới của mẹ chồng tôi để lại, tôi giữ ba mươi năm không dám mặc quá năm lần."
"Tôi biết."
"Biết mà bà dám nhận nhuộm lại?"
Tay tôi vừa chạm vào vạt áo thì bà giật lại.
"Đừng có sờ."
"Chị bảo tôi nhìn cho kỹ mà."
"Nhìn bằng mắt. Cái tay bà ám thuốc, sờ vào là bẩn thêm."
Mấy người đứng gần cười khẽ một tiếng rồi thôi.
Tay tôi thì đúng là ám thật.
Đầu ngón cái, ngón trỏ, cả kẽ giữa các ngón, xanh sẫm như bôi mực, rửa đến bợt da vẫn không ra.
"Chị nói tôi làm hỏng, tôi hỏi lại chị một câu thôi."
"Hỏi."
"Hôm tôi trả áo cho chị là mùng bảy. Hôm nay là mười chín. Mười hai ngày ấy áo ở đâu?"
"Ở nhà tôi chứ ở đâu."
"Ai giặt?"
"Bà hỏi hay nhỉ, áo nhà tôi thì người nhà tôi giặt."
"Vâng."
"Bà định đổ cho người nhà tôi à?"
"Tôi chưa nói câu nào như thế."
"Chưa nói nhưng nghĩ trong bụng rồi."
Tôi im.
Cái áo nằm dưới đất, hai vạt xoè ra, chỗ ngực bạc trắng thành một mảng loang.
Màu chàm tốt thì bạc kiểu khác. Tôi biết. Nhưng lúc ấy nói ra thì không ai nghe.
"Chị định tính thế nào?"
"Bốn triệu."
"Bốn triệu?"
"Rẻ đấy. Áo ấy ra chợ tỉnh hỏi người ta xem, tám triệu người ta còn không bán."
"Tôi nhuộm cho chị công một trăm tám."
"Thì bà cứ nhuộm thêm hai mươi bộ nữa là đủ trả."
Tiếng cười lần này to hơn.
Tôi nhặt bộ áo lên, gấp lại, đưa hai tay.
"Chị cầm về cất kỹ giúp tôi."
"Cất làm gì?"
"Cất nguyên như bây giờ. Đừng giặt lại, đừng phơi nắng."
"Bà dặn tôi giữ tang chứng à?"
"Tôi dặn chị giữ cái áo."
***
Nhà tôi ở cuối xóm bãi, chỗ đất trũng, mùa mưa nước lên tới bậc thềm thứ hai.
Sau nhà là bốn cái chum sành chôn nửa thân xuống đất, chum nào cũng phủ chiếu rách.
Chồng tôi đi làm xa từ năm kia, để lại cho tôi bốn cái chum ấy với một thằng con trai học lớp mười một.
Tối hôm đó thằng Nghiễn về, quẳng cặp xuống phản.
"Mẹ."
"Ừ."
"Ngoài chợ người ta đồn mẹ làm hỏng áo nhà bà Riếc."
"Ừ."
"Ừ là sao?"
"Là người ta đồn thật."
"Con hỏi mẹ có làm hỏng không cơ."
"Không."
"Thế sao mẹ không cãi?"
Tôi lật cái vung nồi, mùi cá kho khô mặn xộc lên.
"Ăn cơm đi con."
"Mẹ."
"Ăn."
Nó ngồi xuống, và được hai đũa thì buông.
"Cả lớp con biết rồi."
"Ai nói?"
"Con bà Riếc học cùng khối."
"Nó nói gì?"
"Nó bảo mẹ nó sắp bán nhà con để lấy tiền."
Tôi đặt bát xuống.
"Nhà mình có gì đâu mà bán."
"Con cũng bảo thế."
"Con bảo thế thật à?"
"Vâng. Con bảo nhà tao chỉ có bốn cái chum, mày lấy chum về mà đựng nước."
Tôi bật cười. Cười xong thì mắt cay.
"Con đừng nói vậy với bạn."
"Sao lại đừng?"
"Vì nó không sai. Nhà mình đúng là chỉ có bốn cái chum."
Nó nhìn tôi một lúc lâu.
"Mẹ ơi."
"Gì?"
"Tay mẹ bao giờ mới hết xanh?"
"Chắc là không hết."
"Không hết thật à?"
"Mẹ vò chàm từ năm mười bốn tuổi. Bây giờ mẹ năm mươi ba."
"Ba mươi chín năm."
"Ừ, ba mươi chín năm."
"Thế lúc mẹ già rồi tay mẹ vẫn xanh à?"
"Chắc thế."
Nó cúi xuống bát cơm.
"Con thấy cũng được."
"Được cái gì?"
"Được là người ta nhìn tay là biết mẹ làm gì. Bố con hồi trước nói thế."
Bố nó nói thế thật.
Ngày cưới, ông ấy nắm tay tôi trước mặt họ hàng, giơ lên.
"Tay này nhuộm được vải cho cả làng mặc." Ông ấy nói thế.
Mẹ chồng tôi thì nói khác.
Bà nói tay tôi bợt như tay ngâm nước gạo ba ngày.
Bà nói mà mặt tỉnh queo, vừa nói vừa nhặt rau, cứ như đang chê con cá ươn ngoài chợ.
Tôi nhớ mãi câu ấy, không phải vì nó ác, mà vì bà nói nó bình thường quá.
Rửa bát xong, thằng Nghiễn lôi cái áo đồng phục ra hiên vắt.
"Mẹ."
"Gì con."
"Áo con cổ nó vàng rồi."
"Đưa mẹ."
Tôi cầm lên soi dưới bóng điện.
Cổ áo và hai cửa tay ngả một màu ngà, chỗ khác vẫn trắng.
"Áo này con mặc mấy năm rồi?"
"Từ hồi lớp mười."
"Hai năm."
"Vâng."
"Mồ hôi cổ nó ăn vào sợi, giặt không ra đâu."
"Con biết."
"Sao con không bảo mẹ mua cái mới?"
"Áo còn lành mà mẹ."
"Lành thì lành, nhưng bạn con nó nhìn."
"Bạn con nó nhìn thì mặc nó."
Nó nói câu ấy nhẹ tênh, vừa nói vừa vuốt cái cổ áo cho phẳng.
Nó nói như thể trên đời chuyện áo vàng cổ là chuyện đương nhiên, ai cũng thế.
"Con đưa mẹ. Mai mẹ nhuộm cho con."
"Nhuộm áo trắng ạ?"
"Nhuộm thành xanh. Xanh thì không ai thấy cổ vàng."
"Trường con bắt mặc áo trắng."
Tôi cầm cái áo trên tay một lúc lâu rồi treo lại lên dây.
"Ừ. Mẹ quên."
Nó vào nhà học bài.
Tôi ngồi ngoài hiên nhìn cái áo cổ ngà đung đưa.
Cả đời tôi làm cái nghề đổi màu cho vải.
Mà cái cổ áo của con mình thì tôi không đổi được.
***
Sáng hôm sau tôi ra bãi, giở chiếu, mở chum.
Nước chàm mặt trên nổi váng xanh ánh đồng, gọi là hoa chàm.
Có hoa chàm là nước còn khoẻ.
Tôi lấy que khuấy, vớt một vốc nước lên xem.
"Bà Vòm ơi."
Bà Thoại từ đầu ngõ đi vào, tay xách cái làn.
"Bà."
"Nghe chuyện chưa?"
"Chuyện tôi thì tôi nghe rồi."
"Bà Riếc đi khắp chợ nói bà nhuộm ẩu ăn bớt nước."
"Bà ấy nói được thì để bà ấy nói."
"Bà Vòm này."
"Gì?"
"Tôi hỏi thật, bộ áo ấy bà nhuộm mấy nước?"
"Mười một."
"Mười một?"
"Áo cũ, sợi đã mỏi, tôi phải xuống từng nước một cho màu ngấm chậm."
"Bà nhớ chắc không?"
"Tôi có sổ."
Tôi vào nhà lấy quyển vở học sinh cũ, bìa đã rách một góc.
"Đây. Mùng hai bắt đầu. Mỗi ngày hai nước, ngày mùng sáu ba nước, mùng bảy hồ rồi trả."
"Bà ghi cả thế này cơ à?"
"Chồng tôi bắt ghi. Ông ấy bảo miệng người ta cãi được, chữ thì không."
"Nhưng chữ này là chữ bà tự ghi."
"Vâng."
"Người ta bảo bà ghi thêm sau thì sao?"
Tôi gấp quyển vở lại.
"Thì tôi chịu."
Bà Thoại ngồi xuống bậc thềm.
"Bà tính thế nào?"
"Tôi chưa tính."
"Bốn triệu đấy."
"Tôi biết."
"Bà có bốn triệu không?"
"Không."
"Thế bà định làm gì?"
"Tôi định nhuộm nốt mấy tấm của bà Đề, người ta hẹn thứ sáu."
"Người ta huỷ rồi."
Tôi ngẩng lên.
"Huỷ khi nào?"
"Tối qua. Bà Đề bảo chờ vụ này êm đã."
"Vâng."
"Nhà bà Mấn cũng huỷ."
"Vâng."
"Bà chả nói gì à?"
"Tôi nói gì bây giờ."
Bà Thoại đứng dậy, phủi đít quần.
"Tôi thì tôi tin bà. Nhưng tôi buôn hàng, tôi cũng phải nhìn trước nhìn sau."
"Tôi hiểu."
"Bà đừng giận."
"Tôi không giận."
Bà đi rồi, tôi ngồi lại bên chum.
Bốn cái chum, mỗi cái nuôi được chừng hai chục tấm một tháng.
Không có tấm nào thì nước chàm chết.
Nước chàm chết thì phải gây lại từ đầu, mất bốn tháng, mất cả một mùa lá.
***
Hôm sau thằng Nghiễn về sớm hơn thường lệ.
Nó dựng xe, không chào, đi thẳng vào buồng.
"Nghiễn."
Không có tiếng đáp.
"Nghiễn, ra đây mẹ hỏi."
Nó ra, mặt còn hằn một vệt đỏ ở gò má.
"Ai đánh con?"
"Không ai đánh."
"Mẹ hỏi ai đánh con."
"Con ngã xe."
"Ngã xe mà rách vai áo à?"
Nó im.
"Con nói đi."
"Bà Riếc chặn con ở cổng chợ."
"Bà ấy làm gì con?"
"Bà ấy không làm gì. Bà ấy chỉ nói."
"Nói gì?"
"Bà ấy đứng giữa hàng cá, bà ấy gọi to lên."
"Gọi thế nào?"
"Bà ấy bảo cả chợ nghe đây, thằng này là con bà thợ nhuộm quỵt nợ tôi bốn triệu."
Tôi đặt cái rổ xuống.
"Rồi sao?"
"Rồi bà ấy bảo bà ấy sẽ đợi con thi xong."
"Đợi làm gì?"
"Đợi con thi xong rồi bà ấy sang nhà mình lấy đồ trừ nợ. Bà ấy bảo lấy đúng bốn cái chum."
Cổ tôi nghẹn lại một chỗ.
"Con trả lời bà ấy chưa?"
"Con bảo chum của bố cháu."
"Bà ấy nói gì?"
"Bà ấy cười. Bà ấy bảo bố mày bỏ đi mấy năm không về thì chum là chum vô chủ."
Tôi ngồi xuống bậc thềm.
"Còn cái vai áo?"
"Con giằng ra thì vướng vào cái quang gánh hàng cá."
"Con có cãi lại không?"
"Không."
"Sao con không cãi?"
"Con nhớ mẹ dặn con là mình không cãi ngoài chợ."
Tôi nhìn nó, cái vệt đỏ trên má, cái vai áo bung chỉ.
"Mẹ dặn sai rồi."
"Mẹ bảo gì cơ?"
"Không. Mẹ nói lung tung."
Tối ấy tôi khâu lại cái vai áo dưới bóng điện vàng.
Khâu xong tôi ngồi thêm rất lâu.
Tôi nghĩ, chửi tôi thì được. Chửi thằng bé giữa hàng cá thì không.
***
Ba hôm sau bà Riếc cho người sang.
Thằng cháu bà, cao lớn, đứng ngoài cổng không vào.
"Bác Vòm."
"Ừ."
"Bà cháu bảo bác chuẩn bị đi."
"Chuẩn bị gì?"
"Rằm này ở sân kho có mấy bà lái vải trên tỉnh xuống lấy hàng. Bà cháu bảo sẽ nói chuyện bác ở đấy."
"Nói chuyện gì?"
"Cháu không biết."
"Bà cháu có nói tôi phải mang gì đi không?"
"Bà cháu bảo bác mang tiền."
"Ừ."
Nó đứng thêm một lúc.
"Bác ơi."
"Gì?"
"Cháu nói cái này bác đừng nói lại."
"Ừ."
"Hôm mùng chín cô cháu về, có mang cái áo ấy ra sân."
"Ra sân làm gì?"
"Cháu không rõ. Cháu chỉ thấy cô cháu bắc nồi ngoài sân."
"Nồi to hay nhỏ?"
"Nồi luộc bánh chưng."
Tôi im một lúc.
"Cháu về đi."
"Cháu nói thế có sao không bác?"
"Không sao."
"Cháu sợ bà cháu."
"Thì cháu đừng nói với ai nữa."
Nó về rồi, tôi ngồi bên bậu cửa đến tối.
Nồi luộc bánh chưng thì nước sôi.
Vải chàm gặp nước sôi thì màu đi, đi đều, đi cả trong lẫn ngoài.
Nhưng nghe cháu nó kể thì mới là nghe.
Tôi chưa nhìn thấy cái nồi. Tôi cũng chưa nhìn thấy tấm áo ở gần.
Tôi chỉ mới nghi.
Nghi không đủ để đứng trước hai chục người mà nói.
***
Rằm, sân kho đông hơn hôm trước.
Ba bà lái vải trên tỉnh ngồi ghế nhựa, trước mặt là mấy chồng vải mộc.
Bà Riếc thấy tôi thì đứng lên.
"Đến rồi đấy à."
"Vâng."
"Mang tiền chưa?"
"Chưa."
"Tôi đoán ngay mà."
Bà quay sang mấy bà lái.
"Các chị nghe cho rõ nhé. Đây là người tôi thuê nhuộm áo cưới của mẹ chồng tôi."
"Vâng."
"Nhuộm xong thành ra thế này."
Bà lôi bộ áo trong túi ra, giơ lên bằng hai tay, xoay một vòng cho cả sân nhìn.
Mảng bạc trắng ở ngực trông càng rõ dưới nắng.
"Các chị làm nghề vải cả, các chị nói giúp tôi xem, thế này là nhuộm hay là phá."
Một bà lái nheo mắt.
"Bạc ghê thật."
"Đấy. Chị ấy còn không nhận."
Tôi bước lên hai bước.
"Chị Riếc."
"Gì?"
"Trước khi mấy chị ấy nói, tôi xin nói một câu."
"Bà nói đi. Nói cho hết đi rồi trả tiền."
Tôi quay sang ba bà lái.
"Các chị cầm giúp tôi cái áo."
"Cầm làm gì?"
"Các chị lộn trái nó ra."
Bà Riếc cau mặt.
"Lộn trái làm gì?"
"Tôi chưa nói tôi đúng. Tôi mới xin các chị lộn trái."
"Bà giở trò."
"Chị sợ à?"
Cả sân im.
Bà Riếc dúi cái áo vào tay bà lái ngồi giữa.
"Lộn. Lộn cho bà ấy hết đường."
Bà lái lộn trái tấm áo ra, trải lên chồng vải mộc.
"Các chị nhìn mặt trong."
"Nhìn rồi."
"Mặt trong bạc hay còn màu?"
Bà lái cúi sát.
"Bạc."
"Bạc đúng chỗ mặt ngoài bạc phải không ạ."
"Ừ. Trùng nhau."
"Các chị sờ giúp tôi chỗ ấy."
Ba bà cùng đưa tay.
"Cứng."
"Cứng như hồ phải không ạ."
"Cứng hơn hồ. Nó ráp."
Tôi hít một hơi.
"Vậy thì tôi xin thưa với cả sân."
"Bà thưa đi."
"Tấm áo này không hỏng vì nhuộm."
Bà Riếc cười phá lên.
"Chứ hỏng vì gì? Vì nó tự bạc à?"
"Hỏng vì bị luộc."
Tiếng ồn nổi lên rồi tắt.
"Bà nói lại xem."
"Tôi nói tấm áo này bị ngâm nước sôi, hoặc bị dội chất tẩy, hoặc cả hai."
"Bà lấy gì bảo thế?"
"Tôi không bảo. Ba chị đây vừa sờ rồi, tôi xin ba chị nói."
Bà lái ngồi giữa ngẩng lên.
"Bà nói cái đã. Chúng tôi sờ thì chúng tôi biết cứng, chứ chúng tôi có biết vì sao đâu."
"Vâng. Vậy tôi xin nói ba điều, sai điều nào các chị bắt tôi ngay tại chỗ."
"Nói."
"Điều thứ nhất. Vải chàm giặt nước lạnh vò tay thì bạc ở nếp gấp, ở mép cổ, ở gấu, ở chỗ cọ xát. Bạc thành đường, thành vệt, không bạc thành mảng giữa ngực."
Bà lái gật.
"Cái đó đúng."
"Điều thứ hai. Chàm ăn từ ngoài vào. Nhuộm ít nước thì mặt ngoài đậm, mặt trong nhạt. Nhuộm ẩu là mặt trong không có màu, chứ mặt ngoài vẫn đậm."
"Ừ."
"Nên nếu tôi nhuộm ẩu thì các chị lộn trái ra phải thấy mặt trong nhợt sẵn từ đầu, bạc đều khắp, chứ không phải bạc đúng cái mảng trùng khít với mặt ngoài."
Bà lái ngồi bên trái nói chen vào.
"Cái này thì tôi công nhận."
"Điều thứ ba. Nước sôi và thuốc tẩy thì ăn xuyên qua sợi. Nó không cần biết mặt nào. Nó ăn tới đâu là hai mặt cùng mất màu tới đó, sợi co lại, mặt vải cứng, sờ vào ráp."
Tôi dừng.
"Ba chị vừa sờ. Ráp hay không ráp?"
"Ráp."
"Hai mặt trùng nhau hay lệch nhau?"
"Trùng."
Tôi quay sang bà Riếc.
"Chị Riếc."
Bà không nói.
"Tôi hỏi chị một câu thôi. Mùng chín, ai bắc nồi ngoài sân nhà chị?"
Mặt bà đổi.
"Bà theo dõi nhà tôi à?"
"Tôi không theo dõi. Tôi hỏi."
"Không có nồi niêu gì hết."
"Chị nói chắc chứ?"
"Chắc."
"Tôi ghi nhớ câu ấy."
Bà con dâu bà Riếc đứng phía sau, tay xách giỏ.
Bà lái ngồi giữa bỗng quay đầu lại.
"Chị kia."
"Dạ?"
"Chị đưa tay tôi xem."
"Xem tay tôi làm gì?"
"Chị cứ đưa."
Cô ta giấu tay ra sau lưng.
Cả sân nhìn theo cái động tác ấy.
"Chị Riếc."
"Gì?"
"Bảo con dâu chị đưa tay ra."
"Việc gì phải đưa."
"Vậy tôi xin phép nói tại sao tôi muốn xem."
"Bà nói."
"Người nào vừa động vào thuốc tẩy thì móng tay bợt trắng, kẽ tay khô nứt, da đầu ngón mỏng đi. Cái đó ba tuần chưa hết."
Tôi giơ hai bàn tay mình lên.
"Còn tay tôi thì ám chàm, ám cả đời không ra. Hai cái ấy khác nhau lắm, các chị nhìn là biết."
Bà lái ngồi giữa đứng dậy, đi vòng ra sau.
"Chị cho tôi xem tay, tôi không làm gì chị đâu."
Cô con dâu lùi một bước rồi đứng lại.
Rồi đưa hai tay ra.
Móng bợt, kẽ nứt, đầu ngón đỏ như bị bỏng nhẹ.
Sân kho im đến mức nghe thấy tiếng gà bên hàng xóm.
"Chị làm gì mà tay thế này?"
"Tôi... tôi rửa nhà."
"Rửa nhà bằng gì?"
"Bằng nước tẩy."
"Ngày nào?"
Cô ta nhìn mẹ chồng.
Bà Riếc quát.
"Câm."
Cái tiếng quát ấy còn to hơn mọi thứ.
***
"Mẹ."
Cô con dâu quay sang bà Riếc.
"Mẹ bảo con nói là con không đụng vào."
"Tao bảo mày câm."
"Con câm từ hôm mùng chín đến giờ rồi."
Bà Riếc bước tới, giơ tay.
Bà lái ngồi giữa chặn lại.
"Từ từ đã."
"Đây là chuyện nhà tôi."
"Chuyện nhà chị mà chị lôi ra sân kho, thì bây giờ nó là chuyện của cả sân."
Bà Riếc đứng sững.
Cô con dâu nói tiếp, giọng run nhưng không dừng.
"Mùng chín con giặt áo. Con thấy vạt áo dính vết dầu ăn."
"Rồi sao?"
"Con sợ mẹ mắng. Con đun nồi nước sôi, con thả áo vào, con đổ thêm nửa chai tẩy."
"Rồi?"
"Vớt lên thì nó trắng ra một mảng."
Cả sân ồ lên.
"Con định giấu. Con nhúng lại vào chậu nước chè cho nó sẫm lại."
"Rồi?"
"Không ăn. Nước chè trôi hết trong một đêm."
Bà lái ngồi giữa quay sang bà Riếc.
"Chị biết chuyện này khi nào?"
Bà Riếc không đáp.
"Chị Riếc, tôi hỏi chị."
"Mùng mười."
"Mùng mười chị đã biết."
"Thì sao."
"Thế mà mùng mười chín chị vẫn kéo người ta ra đây đòi bốn triệu."
"Tôi đòi thì có gì sai. Áo tôi hỏng thật mà."
"Hỏng ở tay con dâu chị."
"Nó là con dâu tôi, nó lấy đâu ra bốn triệu."
Cả sân lặng thêm một nhịp.
Bà lái ngồi bên trái bật cười khan.
"Hoá ra chị đòi bà này để bù cho con dâu chị."
"Tôi có nói thế đâu."
"Chị vừa nói."
Bà Riếc nhìn quanh, tìm một người để tựa vào, không tìm được ai.
Tôi bước lại gần, nhặt tấm áo trên chồng vải, gấp lại.
"Chị Riếc."
"Gì."
"Tôi trả áo cho chị."
"Bà định giễu tôi à?"
"Tôi nhuộm mười một nước cho tấm áo này. Tôi không nỡ vứt nó xuống đất lần thứ hai."
Bà không đỡ.
Tôi đặt tấm áo lên tay cô con dâu.
***
"Bác."
"Ừ."
"Bác không mắng cháu à?"
"Cháu làm hỏng cái áo, cháu đã biết là hỏng."
"Vâng."
"Cái ấy cháu sửa được. Đem lên tôi, tôi cho ăn lại chín nước, chỗ ấy sẽ sẫm lại, không bằng cũ nhưng mặc được."
"Thật ạ?"
"Thật. Nhưng có một cái cháu không sửa được."
"Cái gì ạ?"
"Mười hai ngày cháu để người ta chửi tôi ngoài chợ."
Cô ta cúi đầu.
"Cháu xin lỗi bác."
"Tôi nhận."
Bà lái ngồi giữa nhìn tôi.
"Bà Vòm."
"Vâng."
"Bà làm nghề bao lâu rồi?"
"Ba mươi chín năm."
"Sao lúc nãy bà không nói luôn là bà làm ba mươi chín năm?"
"Tôi nói thì các chị vẫn phải sờ."
"Đúng."
"Nên tôi để các chị sờ trước."
Bà lái gật đầu một cái.
"Tuần sau tôi có bốn mươi tấm mộc. Bà nhuộm được không?"
"Bốn mươi tấm thì tôi phải xin thêm hai chum."
"Chum thì tôi ứng."
"Vâng."
Bà Riếc lúc ấy mới lên tiếng.
"Chị lấy hàng của nó thì đừng lấy hàng của tôi nữa."
"Vâng, chị nói thế thì tôi nghe."
"Chị nghe là sao?"
"Là tôi không lấy hàng của chị nữa."
"Chị đùa tôi à?"
"Tôi buôn vải hai mươi năm, chị ạ."
"Thì sao?"
"Tôi sợ nhất là lấy hàng của người dám giơ cái áo bị chính nhà mình luộc lên trước mặt tôi rồi bảo tôi là người trong nghề, chị nói giúp tôi xem."
Bà Riếc há miệng rồi ngậm lại.
"Chị làm tôi mất mặt."
"Không. Chị tự làm."
Bà lái ngồi bên phải từ nãy chưa nói câu nào, giờ mới lên tiếng.
"Chị Riếc."
"Gì nữa."
"Tôi hỏi chị một câu, chị không phải trả lời cũng được."
"Chị hỏi."
"Cái mảng bạc ấy, chị biết từ mùng mười."
"Tôi nói rồi."
"Mùng mười tới rằm là năm hôm."
"Thì sao?"
"Năm hôm ấy chị mang cái áo đi những đâu?"
Bà Riếc không đáp.
"Tôi hỏi vì tuần trước chị có sang bên tôi. Chị có giơ cái áo ra."
"Tôi giơ thì làm sao."
"Chị bảo tôi đừng đưa vải cho người trong xóm bãi nữa."
Cả sân quay đầu.
"Tôi nói cho chị biết, tôi nghe chị. Tôi đã bảo cái Đề với cái Mấn hoãn."
Bà Đề đứng ở mé sân, mặt đỏ lên.
"Chị bảo tôi hoãn thật."
"Tôi có ép chị đâu."
"Chị không ép. Chị chỉ bảo ai lấy hàng người ấy thì đừng lấy hàng chị."
Tôi nghe tới đó thì hiểu mười hai ngày vừa rồi mất đơn là vì cái gì.
"Chị Riếc."
"Gì."
"Hôm kia chị chặn con tôi ở cổng chợ."
Bà Riếc quay phắt lại.
"Tôi nói chuyện với nó tử tế."
"Chị gọi to giữa hàng cá."
"Tôi có quyền đòi nợ."
"Chị bảo bố nó bỏ đi mấy năm không về thì chum là chum vô chủ."
Cái sân đang ồn thì im hẳn.
Bà lái ngồi giữa nhíu mày.
"Chị nói câu ấy với đứa bé à?"
"Tôi nói lúc bực."
"Nó bao nhiêu tuổi?"
"Tôi biết đâu."
"Mười bảy," tôi nói. "Nó mười bảy."
Bà lái ngồi giữa gật đầu một cái rất chậm.
"Chị Riếc, tôi làm nghề này lâu, tôi có một cái tật."
"Tật gì."
"Tôi không mua vải của người tôi không dám cho con tôi đến nhà."
Bà Riếc đứng đó, hai tay còn cầm cái túi vải rỗng.
Không ai đỡ lời cho bà một câu.
Mấy người lấy hàng sớm bắt đầu tản ra, người thì đi, người thì quay lưng nói chuyện khác.
Chỉ có cô con dâu vẫn đứng nguyên, ôm bộ áo tôi vừa đặt vào tay.
***
Chiều hôm ấy tôi về, đi ngang chợ.
Bà Đề gọi với ra.
"Bà Vòm ơi."
"Vâng."
"Ba tấm của tôi, thứ sáu tôi mang sang nhé."
"Vâng."
"Bà đừng giận tôi chuyện hôm nọ."
"Tôi không giận."
"Thật không?"
"Thật."
Tôi nói thật, nhưng tôi không quên.
Cái quên và cái giận là hai chuyện khác nhau.
Về đến nhà thì trời chạng vạng.
Tôi giở chiếu, mở chum.
Chum thứ ba mặt nước xỉn, không còn hoa chàm.
Tôi khuấy thử, mùi lên chua.
Chết rồi.
Mười hai ngày không có tấm nào xuống, nước nằm không, nó chết.
Tôi ngồi bệt xuống bên chum, tay còn ướt.
Nước chàm chết thì không cứu được. Phải gây lại từ lá, mất bốn tháng.
Cái chum ấy chồng tôi gây năm ông ấy chưa đi.
Thằng Nghiễn đi học về, dựng xe.
"Mẹ ngồi đây làm gì?"
"Ngồi chơi."
"Chum sao thế?"
"Chết một cái."
"Chết là sao?"
"Là nước hỏng. Phải làm lại từ đầu."
"Có cứu được không mẹ?"
"Không."
Nó ngồi xuống cạnh tôi.
"Ngoài chợ người ta nói mẹ thắng."
"Ừ."
"Sao mẹ không vui?"
"Mẹ có vui."
"Con nhìn mặt mẹ con biết."
Tôi quay đầu nhìn nó.
"Con này."
"Dạ."
"Hôm nay có ba bà trên tỉnh sờ tấm vải rồi nói giúp mẹ một câu."
"Vâng."
"Nếu ba bà ấy không sờ, mẹ có nói mấy thì cũng chỉ là mẹ nói."
"Con hiểu."
"Nên con nhớ cho mẹ. Việc gì cũng phải để người ta tự sờ lấy."
"Con nhớ."
Nó nhìn xuống cái chum.
"Bốn tháng ạ?"
"Bốn tháng."
"Thế thì con nghỉ hè con phụ mẹ."
"Không cần."
"Con đi cắt lá cũng được mà."
"Mẹ bảo không cần."
"Sao ạ?"
"Vì mẹ muốn con học."
Nó im.
"Mẹ."
"Gì."
"Tay con sau này có xanh không?"
"Không."
"Sao mẹ chắc thế?"
"Vì mẹ chắc."
Trời tối hẳn.
Tôi đậy ba cái chum còn sống, để cái chum chết mở nắp cho nó bay hết mùi chua.
Ngày mai tôi sẽ đi tìm lá.
Bốn mươi tấm của bà lái trên tỉnh, ba chum thì chật, nhưng làm được.
Người ta hỏi tôi có hả không.
Tôi nghĩ mãi mà không biết trả lời thế nào.
Tôi chỉ biết là hôm ấy tôi không phải cãi một câu nào.
Tấm vải nó tự nói.
Mà tấm vải thì không biết nói dối.


