Halab
Thợ máy nổ hai mươi bảy năm bị tổ bơm vu tráo bạc cũ, người giữ máy dốc ngược cái bao tải trước mặt cả xóm: "Ông bán cái xe đi mà đền"
Truyện

Thợ máy nổ hai mươi bảy năm bị tổ bơm vu tráo bạc cũ, người giữ máy dốc ngược cái bao tải trước mặt cả xóm: "Ông bán cái xe đi mà đền"

· 22 phút đọc · Halab

"Ông mở nắp máy của tổ tôi lúc không có ai, giờ máy kêu, ông giải thích đi."

"Cậu cho tôi mở lại nắp ấy ra một lần nữa."

"Mở nữa để ông lắp trả cái cũ vào à?"

Tôi đứng bờ mương, quần còn xắn, tay dính dầu tới cổ.

Cái máy dầu nằm trên bệ xi măng, nắp đã cạy, khói xanh phun từng nhịp.

Cậu Vãn chắn giữa tôi với cái máy, tay cầm mỏ lết to bằng bắp chân.

"Cậu để tôi nghe tiếng nó ba mươi giây thôi."

"Nghe cái gì. Máy nhà tôi trước hôm ông vào có kêu thế này đâu."

"Hôm tôi vào là hôm nào hả cậu?"

"Thứ tư tuần trước. Ông một mình trong này từ sáng tới trưa."

"Vâng, một mình."

Tôi nói vâng, vì cậu ấy đúng, hôm ấy trong trạm chỉ có tôi.

Trên bờ có đâu hai chục người, phần lớn là tổ bơm, chín nhà chung ruộng góp tiền mua máy, Vãn đứng tên giữ.

"Bà con nghe cho rõ này."

Cậu ấy nói câu ấy ra phía bờ, không quay vào tôi.

"Bạc mới tháng ba, hai triệu tám. Trong máy giờ là bạc gì thì mở ra khắc biết."

"Cậu mở ra chưa?"

"Sáng nay. Mở với ông Rệu, thủ quỹ chín nhà bầu ra."

Ông Rệu ngồi trên cái ghế nhựa ở bờ, tay cầm quyển sổ, không nói gì.

"Vâng. Thế cái bạc cậu lôi ra sáng nay, giờ nó đang ở đâu?"

Cậu Vãn khựng, rồi chỉ vào cái bao tải cạnh chân bệ.

"Trong ấy."

"Cậu để trong bao tải."

"Chứ tôi để đâu. Vàng bạc gì mà phải cất tủ."

"Cậu ạ, tôi xin cậu đừng đụng vào cái bao ấy nữa."

"Ông sợ gì trong ấy?"

Cậu ấy cười, xách cái bao tải lên, dốc ngược xuống nền bệ.

Hai nửa vỏ bạc rơi ra, lăn một vòng, nằm ngửa lên trời.

"Đấy. Bà con nhìn đi. Bạc gì mà xám xịt thế này."

Có tiếng đàn bà trên bờ nói vọng xuống.

"Bạc cũ thì đúng cũ thật."

"Đấy. Người ta cũng nhìn ra."

Tôi cúi nhìn hai nửa vỏ bạc, nhìn chứ không nhặt.

Tôi nhìn ra ba thứ, và ba thứ ấy tôi để trong bụng cho tới hôm họp tổ.

"Cậu Vãn, tôi về."

"Ông về đâu. Ông chưa nói gì mà ông về."

"Chưa mở ra thì tôi lấy gì mà nói hả cậu."

"Ông nhìn nãy giờ còn đòi xem gì nữa."

"Nhìn khác với xem, cậu ạ."

Tôi xách hộp đồ nghề đi ngược bờ mương, qua chỗ đông nhất.

Hộp ấy là thùng đạn cũ bằng sắt, quai gập, tôi dùng từ năm hai ba.

Về tới sân, thằng Rả đang ngồi rửa cái bơm tay trong chậu dầu.

"Bố về sớm thế. Máy trạm bơm sao rồi bố?"

"Nó kêu. Lộc cộc, nhịp đôi, theo vòng tua."

Thằng bé buông cái bơm, lau tay vào giẻ, quay hẳn người lại.

"Nhịp đôi là bạc chứ gì bố."

"Ừ."

"Bạc thì bố mới thay tháng ba mà."

"Ừ."

Nó không hỏi thêm, nó cúi xuống rửa tiếp, rửa lâu hơn cần thiết.

Thằng Rả mười bảy, tay trái teo từ hồi ba tuổi, cầm được mà không siết.

Nó theo tôi ra đồng từ năm mười ba, nghe máy giỏi hơn nhiều đứa đủ hai tay.

Xế chiều cậu Vãn tới nhà tôi, kéo theo hai người, cả ba đều đứng.

"Ông định giải quyết ra sao đây."

"Cậu bày cái máy ra giữa tổ, cho tôi mở nắp, mở xong tôi trả lời cậu."

"Ông cứ ra một con số đã."

"Cậu ơi, trong đầu tôi lúc này chưa có con số nào cả."

"Vậy tôi nói. Bạc hai triệu tám, công tôi trả ông sáu trăm, máy thì nằm bờ."

"Vâng."

"Chín nhà phải bơm bù bằng máy thuê, tám trăm một buổi, ba buổi."

"Vâng."

"Cộng tròn chín triệu tư. Tôi lấy ông chín triệu."

Tôi ngồi ghế gỗ, hai tay đặt lên đùi, dầu ăn đen kẽ móng.

"Chín triệu."

"Ông thấy tôi tính cao à?"

"Tôi không nói cao thấp. Tôi nói tôi không có sẵn."

"Không có thì bán cái xe. Cái xe ba bánh ông chở máy ấy, bán đi thì đủ."

Thằng Rả nghe tiếng, ra tới bậc cửa, tay phải còn nắm giẻ lau.

"Chú ơi, cái nắp máy bố cháu đã đụng vào đâu."

"Trẻ con lui vào trong. Người lớn đang nói."

"Cháu qua mười bảy rồi chú ạ."

"Mười bảy hay hai mươi thì cũng lui vào."

Tôi hất đầu bảo nó vào, nó lùi nửa bước rồi đứng lì đấy.

"Cậu Vãn, cửa trạm ấy ai giữ chìa?"

"Ông Rệu một cái, tôi một cái. Hôm ấy ông Rệu đi ăn cưới trên tỉnh."

"Vâng. Tôi hỏi để trong đầu tôi nó rành ra thôi."

Cậu ấy găm mắt vào tôi rồi bật dậy, chân ghế miết xuống nền gạch rít một tiếng.

"Ông đừng vòng vo. Chủ nhật tổ họp ở sân kho. Ông ra mà nói."

"Tôi ra."

"Không có tiền thì tôi cho cả tổ biết ông làm ăn thế nào."

Cậu ấy chưa kịp nói với ai thì sáng hôm sau cả xóm đã biết.

Vợ cậu ấy ngồi hàng bún đầu ngõ từ sáu giờ, ai ăn cũng được nghe.

Tôi biết chuyện ấy vì bảy giờ rưỡi bác Đoài gọi cho tôi.

"Ông Trạc à, cái máy tuốt hôm nọ... hay là thôi, tôi liệu lại đã."

"Bác nghĩ sao bác cứ nói ra."

"Ông thông cảm nhé. Cả nhà tôi trông vào mỗi cái máy ấy."

"Dạ, cháu không dám nài. Bác cứ gác lại đấy."

Chưa hết trưa thì hai nhà nữa nhắn hoãn, một nhà vỏn vẹn bốn chữ.

Hai mươi bảy năm làm nghề trong vùng, chưa hôm nào ba nhà hoãn cùng ngày.

Nghề này nuôi tôi được là vì người ta dám để tôi một mình bên cỗ máy nhà họ.

Mất chỗ ấy thì tay nghề còn nguyên mà không ai gọi nữa.

Chiều tôi ra chợ mua gioăng, qua hàng đồ máy, ông Nhượng ngoắc vào.

"Nghe nói ông tráo bạc của tổ bơm."

"Người ta nói thế."

"Ông có tráo không."

"Máy chưa mở ra thì cháu chưa dám nói gì đâu bác. Nghi thì cháu không nói."

Ông Nhượng rót một chén chè, đẩy về phía tôi.

"Ông nói được cái câu ấy là tôi bớt nghi ông đi mấy phần."

"Bác bớt nghi thì bác cho cháu khất tiền bộ gioăng này."

"Ông lấy gioăng làm gì. Nhà cậu Vãn sáng nay sang tôi hỏi mua bạc mới rồi."

Đêm ấy tôi bắc ghế ra sân, lôi thùng đồ nghề lau từng món.

Thằng Rả bưng ra bát cơm nguội chan canh, ngồi bậc thềm.

"Bố này. Con ra xưởng cơ khí ngoài thị trấn phụ việc. Chú Lãm gọi con mấy lượt rồi."

"Con ra đấy làm được cái gì."

"Con quét, con rửa chi tiết, con đưa đồ."

"Tay con thế kia mà rửa chi tiết."

"Con rửa bằng tay phải. Tay trái con kẹp."

"Chú Lãm trả bao nhiêu."

"Bốn triệu rưỡi, ăn ở xưởng."

"Bốn triệu rưỡi thì bao giờ đủ chín triệu."

"Con có tính chuyện đủ đâu. Con tính chuyện đỡ."

"Đỡ là đỡ khoản nào."

"Con gánh hộ bố khoản chợ búa, bố khỏi phải vơ đại việc cho xong."

Tôi phải vét sạch bát cơm nguội mới mở miệng được.

"Con ở nhà."

"Con ở nhà thì con làm được gì cho bố."

"Con nghe máy cho bố."

"Bố nghe giỏi hơn con."

"Bố nghe bằng tai. Con nghe bằng tay."

Nó im một lúc, rồi nó hỏi cái câu tôi sợ nhất.

"Bố, cái bạc ấy có phải bố đổi không bố."

"Con đem câu ấy ra hỏi bố đấy à."

"Con hỏi cho chắc, ngoài kia ai vặn thì con còn biết đằng đỡ lời bố."

"Bố chưa mở cái máy ấy ra."

"Thì bố ra mà mở."

"Người ta không cho bố vào trạm."

Nó đặt bát xuống bậc thềm, nói chậm, nhìn thẳng vào tôi.

"Bố, ngày con còn bé tí, bố bảo con cái máy nó có chối bao giờ đâu."

"Ừ."

"Vậy bố phải cho nó nói."

Đến thứ sáu thì có đường vào lại cái trạm ấy, đường ấy tôi không phải bày ra.

Máy nằm bờ mà ruộng vẫn phải có nước, tổ thuê máy ngoài về đặt tạm.

Người chở máy về là ông Chửng, thợ máy dầu ngoài thị trấn, làm nghề từ hồi tôi còn rửa chi tiết thuê.

Kê xong máy ông chưa chịu về, cuốc bộ tạt vào sân nhà tôi.

"Trạc."

"Bác Chửng. Bác ngồi."

"Tao vừa ở trong trạm ra."

"Bác thấy thế nào ạ?"

"Tao thấy có cái tao không thông."

"Bác không thông chỗ nào ạ?"

"Cục bạc trong bao tải thì rõ rồi. Còn bốn cái đầu ốc trên nắp thì tao chịu."

Tôi đặt ấm xuống, ngồi thẳng lưng.

"Đầu ốc làm sao ạ?"

"Nó bị ngoạm. Bốn cái ngoạm cả bốn, hai má bẹt xuống, cạnh tù hết."

"Bác chắc chứ ạ?"

"Chắc. Bốn mươi năm cầm cờ lê, hễ gặp cái gì gợn là tao chụp lại."

"Ngoạm kiểu mỏ lết hay kiểu cờ lê lệch cỡ ạ?"

"Mỏ lết. Lệch cỡ chỉ tròn hai góc chéo nhau, cái này bẹt hai má song song."

"Bác ơi, hàm mỏ lết nó để lại khía chứ ạ?"

"In vào má ốc như răng lược. Tao gạt móng tay thử, gờ còn sắc, mới toanh."

Tôi để trôi chừng mười nhịp thở, rồi thả ra câu quan trọng nhất.

"Bác Chửng, trong hộp đồ của cháu không có cái mỏ lết nào."

"Không có thật à?"

"Cháu có tuýp với cờ lê vòng mười bốn. Ốc máy người ta thì cháu không kẹp mỏ lết bao giờ."

"Sao mày không kẹp?"

"Bố cháu cấm. Ông cụ bảo mỏ lết là để vặn ống nước."

Ông Chửng gật, rồi im lâu hơn tôi tưởng.

"Còn cục bạc trong bao tải, tao có cầm lên. Nó mòn lệch hẳn một phía."

"Lệch phía nào ạ?"

"Phía dưới. Mòn thành vệt bóng, còn phía trên vẫn nguyên lớp phủ."

"Mặt lưng nó có số không bác?"

"Có chữ có số. Mà tao đeo kính lão, tao chịu."

"Bác đừng đọc. Bác cứ để nguyên đấy cho cháu."

"Mày định làm gì?"

"Cháu nhờ bác một việc. Chuyện này bác khoan hẵng hở ra với ai."

"Sao lại đừng?"

"Cháu mà mở miệng lúc này thì hoá ra cháu gỡ tội cho cháu."

"Rồi sao?"

"Cháu muốn nói trước cả tổ, và người cầm cờ lê là bác chứ không phải cháu."

Ông Chửng để mắt ở tôi khá lâu, sau cùng thì gật.

"Giúp. Có điều tao rào trước, mắt tao nhìn sao thì mồm tao nói vậy."

"Cháu chỉ cần thế bác ạ."

Ông đứng dậy ra về, tới cổng thì quay lại hỏi một câu.

"Thằng con mày đâu?"

"Nó sang rửa cái bơm cho nhà bà Lếnh. Không lấy tiền."

"Làm không để làm gì?"

"Cháu hỏi rồi. Nó bảo để người ta còn dám gọi bố."

Chủ nhật tổ họp ở sân kho, bốn giờ chiều, dưới mái tôn.

Chín nhà đi đủ, thêm hơn hai chục người trong xóm đứng ngoài.

Cái máy dầu khiêng từ trạm ra, đặt giữa sân, nắp vẫn cạy dở.

Cậu Vãn ngồi bàn đầu, ông Rệu cạnh đấy, quyển sổ thu chi mở sẵn.

"Ông Trạc ra rồi thì ông nói đi."

Tôi đặt thùng đồ nghề xuống nền sân kho, không mở.

"Tôi xin ba câu. Câu đầu tiên, tiền này tôi không trả."

Cả sân hẫng một nhịp, rồi cậu Vãn phá lên cười.

"Ông nhắc lại tôi nghe cái nào."

"Tiền này tôi không trả, vì cục bạc nằm trong máy ấy chẳng phải tay tôi đút vào."

"Ông chối được thì ông giỏi."

"Chối thì tôi không chối. Tôi nói ra trước, rồi mượn tay người khác làm cho ngã ngũ."

"Ông nói trước cái gì?"

Tôi giơ tay lên, xoè bốn ngón cho cả sân nhìn.

"Bốn điều. Trật một điều là tôi đền trọn chín triệu, viết giấy nợ, không mặc cả nửa đồng."

Ông Rệu bỏ kính xuống, nói câu đầu tiên từ nãy.

"Ông Trạc nói cho rõ."

Tôi xoay về phía cỗ máy, chỉ lên bốn cái đầu ốc trên nắp.

"Bốn cái ốc bắt nắp đều bị ngoạm. Hai má bẹt song song, có khía in vào."

"Ngoạm thì sao?"

"Khoan, cậu. Điều thứ hai."

"Ông nói."

"Cái vặn ra dấu ấy là mỏ lết, không phải cờ lê. Mà hộp đồ tôi không có mỏ lết."

"Ông vứt đi thì sao."

"Vâng, tôi có thể vứt. Nên tôi mới xin cậu đừng đụng vào cái bao tải hôm trước."

Cậu Vãn nhìn xuống cái bao tải nằm dưới chân bàn.

"Điều thứ ba."

"Ông nói."

"Cái bạc cậu lôi ra mòn lệch một phía. Dưới bóng, trên còn nguyên lớp phủ."

"Mòn thì cũ chứ sao."

"Cậu ạ, chỗ khác nhau nằm ở điều thứ tư."

"Ông nói nốt đi."

"Điều thứ tư. Mặt lưng cái bạc có số đúc. Số ấy không phải số cái bạc tôi lắp tháng ba."

"Ông nhớ được số à?"

"Tôi nhớ. Nhưng tôi không đọc số ấy ra bây giờ."

"Sao lại không đọc?"

"Vì tôi đọc thì cậu bảo tôi bịa. Tôi viết ra giấy, gấp lại, đưa bác Rệu cầm."

Tôi rút mảnh giấy trong túi áo ngực, viết từ tối qua, gấp làm tư.

Ông Rệu cầm mảnh giấy, không mở, đặt xuống bàn rồi úp quyển sổ lên.

"Được. Giờ ai xem?"

"Bác cho người khác xem, không phải cháu."

"Ai?"

"Bác Chửng ngoài thị trấn. Bác ấy vừa mang máy thuê về cho tổ mình hôm thứ sáu."

Cậu Vãn xen vào ngay.

"Ông ấy với ông cùng nghề."

"Vâng, chung nghề. Thế nên cậu kiếm thêm một người nữa, ai cũng xong. Cậu Diệp bán đồ máy ngoài chợ chẳng hạn."

"Sao lại cậu Diệp?"

"Vì tôi chưa mua của cậu ấy cái gì, cậu ấy không nợ tôi ân nghĩa nào."

"Ông tưởng tôi không dám gọi à."

"Tôi mong cậu gọi."

Cậu Vãn bấm máy thật, bấm ngay giữa chỗ đông ấy, gọi cậu Diệp.

Bốn mươi phút sau cậu Diệp sang, xách theo cái hòm nhựa.

Ông Chửng đã đứng sẵn vòng ngoài từ lúc nào, đi vào, không chào ai.

"Đèn pin đâu."

Ai đó dúi cho ông cái đèn pin, ông rọi lên mặt nắp, rọi từng li.

"Có. Cả bốn cái. Ngoạm hết."

Cậu Diệp ghé sát, lấy ngón cái miết ngang đầu ốc.

"Đúng rồi. Bẹt hai bên."

Ông Rệu hỏi vọng ra.

"Bẹt thì làm sao hả các anh?"

Ông Chửng lấy cờ lê vòng mười bốn trong hòm cậu Diệp, tra vào đầu ốc.

Ông xoay thử, cái vòng quay lỏng một góc rồi tuột.

"Bà con nhìn. Cờ lê đúng cỡ mà tra vào không ăn nữa. Sáu cạnh giờ còn bốn."

Cậu Diệp giơ mỏ lết của mình, kẹp vào một cái ốc còn nguyên ở mặt bên máy, siết rồi nhả.

"Bà con lại đây xem."

Người ta xúm vào, đèn pin rọi thẳng chỗ ấy.

Trên má ốc hiện hàng khía nhỏ, đều tăm tắp, in nghiêng.

"Đấy là dấu hàm mỏ lết. Bà con nhìn cái này rồi nhìn lên bốn cái ốc nắp."

Ông rọi đèn lên nắp, hai chỗ, một hàng khía, một hàng khía.

"Giống nhau."

Cậu Diệp nói khẽ mà cả sân nghe.

Tiếng xì xào chạy từ vòng ngoài vào trong.

Cậu Vãn đứng dậy, nói to hơn cần thiết.

"Thì ai vặn chả được. Ông Trạc mượn mỏ lết của người ta thì sao."

"Vâng, tôi mượn được."

"Đấy. Ông cũng nhận."

"Tôi nhận là tôi mượn được. Tôi chưa nhận là tôi đã mượn."

Tôi lấy mũi chân đẩy thùng đồ nghề ra giữa sân, nắp vẫn đóng.

"Bác Chửng, bác mở hộ tôi cái thùng này. Tôi không đụng vào."

Ông Chửng bật khoá, lật nắp, dốc nghiêng cho cả sân nhìn vào lòng thùng.

"Cậu Diệp, cậu đếm hộ tôi."

Cậu Diệp bới từng món, xếp ra nền xi măng thành hàng.

"Tuýp. Cần tuýp. Cờ lê vòng, cờ lê dẹt, một bộ chín cái. Kìm. Búa nhựa. Thước lá."

"Có cái mỏ lết nào không?"

"Không có."

"Cậu lộn cả cái túi vải dưới đáy ra."

Cậu Diệp lộn cái túi, đổ ra mấy con ốc lẻ với cuộn băng tan.

"Cũng không."

Cậu Vãn nhìn hàng đồ nghề trên nền, giọng đã bớt to.

"Ông không có thì ông đi mượn."

"Vâng. Cậu cứ hỏi trong xóm xem tôi mượn mỏ lết của nhà ai."

Ông Rệu gõ bút xuống bàn hai cái.

"Thôi. Sang cái bạc."

Ông Chửng nhấc cái bao tải lên, không dốc, chỉ mở miệng bao.

Ông đưa cả bao cho cậu Diệp, cậu ấy thò tay lấy ra hai nửa vỏ bạc.

"Cậu xem hộ tôi."

Cậu Diệp lau hai nửa bạc bằng giẻ sạch, đưa ra chỗ sáng, lật đi lật lại.

"Mòn lệch. Một phía bóng lì, một phía còn lớp phủ chì."

Ông Rệu chống tay đứng khỏi ghế.

"Lệch thì có gì lạ?"

"Có ạ. Bạc mòn lệch hẳn một phía thì nó chạy lâu rồi, chạy dưới tải nặng."

"Bao lâu?"

"Không phải một tháng. Cái này ăn dần từng vụ."

Ông Chửng đỡ lời, chỉ vào nửa bạc trong tay cậu Diệp.

"Bác Rệu ạ, bạc lắp tháng ba tới giờ là năm tháng, bơm có ba vụ nước."

"Rồi sao?"

"Chạy năm tháng thì mới hơi xỉn mặt, không bóng lì thành vệt thế này."

"Chắc không anh?"

"Bác đưa tay sờ đi. Sờ hai phía, sờ bằng đầu ngón."

Ông Rệu sờ thật, đưa ngón trỏ miết dọc một phía rồi phía kia.

"Khác nhau thật. Bên này trơn hơn hẳn."

Ông ngồi xuống, tự lật nửa bạc lên xem mặt lưng.

"Có số."

"Bác đọc to lên hộ cháu."

Ông Rệu đeo kính, đưa gần đèn, đọc từng chữ.

"Sáu... không... hai... rồi cái gạch... rồi ba... không."

Cậu Diệp ngẩng lên, nói ngay, không cần nghĩ.

"Sáu không hai gạch ba mươi là cốt đúp ba mươi. Máy tổ ta ăn cốt hai lăm, không dùng loại ấy."

Sân im hẳn, im tới mức nghe cả tiếng quạt cây ngoài hiên.

Tôi vẫn đứng nguyên chỗ cũ, không bước lên bước nào.

"Bác Rệu. Bác mở cái mảnh giấy cháu đưa bác nãy ra được rồi."

Ông Rệu nhấc quyển sổ, mở mảnh giấy đọc, rồi đưa sang cậu Diệp.

Cậu Diệp cầm, đọc to.

"Sáu không hai gạch ba mươi. Không phải bạc tôi lắp. Bạc tôi lắp năm sáu tám gạch hai lăm."

"Còn gì nữa không?"

"Còn ạ. Dưới nữa."

"Đọc nốt."

"Cái bạc này lấy ra từ một cái máy khác, máy đời cũ, xi-lanh có vết xước dọc."

Người ta quay nhìn nhau, có người quay hẳn phía cậu Vãn.

Cậu Vãn vẫn ngồi, mười đầu ngón tay bấu vào mặt gỗ.

"Ông Trạc, ông nói cái máy nào."

"Cậu hỏi tôi à?"

"Tôi hỏi ông."

"Tôi chưa nói máy nào. Tôi chỉ nói cái bạc ấy ra từ máy khác."

Ông Chửng bước tới cạnh máy, gõ vào thành máy hai cái.

"Bác Rệu, trong tổ mình ngoài cái máy này còn cái máy dầu nào nữa không?"

Ông Rệu chưa kịp đáp thì có người ngoài nói trước.

"Còn cái máy tuốt lúa nhà cậu Vãn. Máy dầu cũ, mua lại của người ta năm kia."

Ông Chửng gật, quay sang cậu Vãn, giọng vẫn đều.

"Anh Vãn, cái máy tuốt của anh, năm nay anh thay bạc chưa?"

"Tôi thay từ đầu vụ."

"Ai thay?"

"Tôi tự thay."

"Anh tự thay bằng cái gì?"

Cậu Vãn im, và cả sân kho đứng nghe cậu ấy im.

Cậu Diệp bỏ hai nửa bạc xuống bàn, chùi tay vào giẻ.

"Anh Vãn, tháng ba anh có ra chỗ tôi hỏi mua bạc không?"

"Tôi không nhớ."

"Ngày mười một. Anh hỏi cốt hai lăm, tôi hết hàng, bảo anh chờ. Rồi anh mua cặp gioăng nắp với lọ keo làm kín. Tôi ghi sổ, có tên anh."

Ông Rệu lật quyển sổ thu chi ngược về phía sau.

"Cậu Vãn. Tháng ba tổ chi tiền bạc mới hai triệu tám, tôi ghi ở đây. Ai đi mua?"

"Tôi đi."

"Mua ở đâu?"

"Trên tỉnh."

"Có hoá đơn không?"

"Mua hàng máy móc thì ai đưa hoá đơn."

"Cậu mua trên tỉnh, mà tháng ba cậu lại ra chợ hỏi mua cốt hai lăm."

Cậu Vãn bật dậy nhanh quá, cái ghế đổ ra sau.

"Bác định hỏi cung tôi à?"

"Tôi không hỏi cung. Tôi giữ sổ, tôi phải hỏi cho hết."

"Bác cứ hỏi tôi mà không hỏi ông Trạc. Ông ấy ở trong trạm một mình cả buổi."

"Cậu Vãn, cậu bình tĩnh."

"Chín nhà giao cái máy vào tay tôi. Máy hỏng thì bà con réo tên tôi chứ réo ai. Tôi phải tìm ra người chứ."

"Cậu ạ."

Tôi nói câu ấy, không to.

"Cậu nghi tôi là phải."

Cả sân quay sang tôi, kể cả cậu Vãn.

"Máy tôi thay, chìa cậu đưa, cả buổi trong trạm chỉ có tôi. Cậu không nghĩ tới tôi thì nghĩ tới ai."

"Ông nói thế là ông nhận à?"

"Tôi nhận là cậu nghi đúng đường. Tôi không nhận là cậu kết luận đúng."

"Khác gì nhau."

"Khác chỗ này cậu ạ. Nghi thì đi mở máy. Cậu không mở, cậu đi kể."

Cậu Vãn không đáp.

"Cậu kể trước khi cậu biết. Cả xóm nghe cậu kể, không ai nghe cái máy nói."

Ông Chửng dựng cái ghế đổ lại, rồi nói với cậu Vãn.

"Anh Vãn, tôi làm nghề bốn mươi năm, tôi nói anh một câu rồi tôi về."

"Anh nói."

"Bạc trong máy tổ giờ là cốt đúp ba mươi, ép vào ổ hai lăm thì nó phải kênh."

"Rồi sao?"

"Kênh thì nó gõ. Gõ từ hôm nào thì anh biết, vì anh ở trạm chứ tôi không ở."

Ông Rệu gấp quyển sổ lại, gấp chậm, rồi đứng lên.

"Cậu Vãn, cái máy tuốt của cậu, cậu bảo mọi người khiêng nó ra đây."

"Ra đây làm gì?"

"Ra đây cho anh Chửng với cậu Diệp mở nắp."

Cậu Vãn đứng giữa sân kho, giữa chín nhà chung ruộng, không trả lời.

Ông Rệu đợi một lúc lâu rồi nói với cả tổ.

"Bà con nghe cho rõ. Tôi không bắt ai nhận cái gì cả."

"Vâng."

"Nhưng tiền bạc mới hai triệu tám, sổ ghi là đã chi. Cậu Vãn hoàn lại cho tổ."

"Bác..."

"Cậu hoàn vào tay tôi, hoàn trước mặt bà con, hoàn ở đúng cái sân này."

Cậu Vãn cúi mặt, hai tay vẫn để trên bàn.

"Còn tiền thuê máy ba buổi hai triệu tư, tôi trừ vào phần cậu."

"Bác trừ thế thì..."

"Thì cậu chịu. Cậu là người giữ máy, giữ chìa, giữ tiền."

Ông Rệu quay sang tôi, đổi hẳn giọng.

"Ông Trạc, tổ tôi có lỗi với ông. Ông muốn tổ tôi làm gì thì ông nói."

Tôi nghĩ một lúc cho đàng hoàng, chứ không cốt tìm câu nghe kêu.

"Bác bảo cô hàng bún đầu ngõ ra ngồi lại chỗ ấy."

"Ngồi lại?"

"Vâng. Cô ấy rải ở đâu thì nhặt lại ở đấy, trước đúng những cái tai đã nghe."

"Có mỗi thế thôi ư."

"Có mỗi thế ạ. Xin lỗi cháu ở chỗ vắng thì cháu chẳng để làm gì."

Ông Rệu gật, và sáng hôm sau cô ấy ra ngồi thật, từ sáu giờ.

Còn cậu Vãn thì chiều hôm ấy chưa xong.

Vì lúc tổ giải tán, thằng Rả đứng vòng ngoài, nó không vào, chỉ đứng đấy.

Có bà nào trông thấy nó, hỏi vọng ra.

"Cháu ơi, hôm nọ chú Vãn sang nhà cháu bảo gì bố cháu?"

Nó nhìn tôi, tôi gật.

"Chú ấy bảo bố cháu bán cái xe ba bánh đi mà đền."

"Xe ấy nhà cháu để chở gì?"

"Chở máy đi sửa cho người ta. Máy nặng, bố cháu không vác được."

"Xe ấy mua bao nhiêu?"

"Xe ấy bố cháu đóng lấy ạ. Đóng từ hồi con chưa đẻ."

Sân kho lại im, lần này cậu Vãn ra tới cổng thì dừng.

Ông Rệu gọi giật lại, không quát, nói chậm.

"Vãn."

"Bác."

"Quay vào."

Cậu ấy quay vào, đi ngược giữa sân, qua mặt chín nhà.

"Cậu xin lỗi ông ấy."

"Cháu..."

"Đứng đây mà xin. Đứng đúng chỗ cậu dốc cái bao tải hôm nọ."

Cậu Vãn đứng đúng chỗ ấy, cúi đầu, nói được bốn chữ.

"Cháu xin lỗi ông."

Tôi xách thùng đồ nghề lên, bước lại gần hai bước.

"Cậu Vãn."

"Dạ."

"Câu ấy tôi nhận."

"Dạ."

"Có điều tôi gửi cậu một câu, cậu nghe xong bỏ đấy cũng chẳng sao."

"Ông nói."

"Cậu mất bạc thật, máy cậu gõ thật, cậu nghĩ tới tôi là phải."

"..."

"Chỗ cậu hỏng là nghĩ tới đâu cậu đóng đinh tới đấy."

"..."

"Ba mươi giây. Hôm ấy tôi xin cậu ba mươi giây để nghe tiếng máy."

"..."

"Cậu rộng tay cho tôi ba mươi giây ấy, hôm nay đâu đến nỗi kéo cả tổ ra phơi nắng."

Cậu ấy không nói gì, đi ra cổng, và không ai giữ lại.

Ông Rệu hỏi thêm một câu trước khi tổ về hết.

"Ông Trạc, thế cái máy của tổ giờ tính sao?"

"Bác mua cho cháu một cặp bạc cốt hai lăm. Còn công lắp thì cháu không lấy."

"Sao lại không lấy?"

"Tại hồi tháng ba cháu lắp bạc xong, cháu chẳng dặn tổ lấy một tiếng."

"Ông định dặn cái gì?"

"Rằng hễ có ai định cạy cái nắp ấy thì gọi cháu. Cháu bỏ quên mất."

Ông Chửng đứng bên cạnh, nói chêm vào.

"Mày có dặn thì người ta cũng bỏ ngoài tai."

"Ngoài tai thì ngoài tai, cháu vẫn cứ phải dặn bác ạ."

Sửa cỗ máy ấy mất hai ngày, làm giữa sân kho, không đem vào trạm.

Tôi cạo ổ, đo cổ trục, ghi số vào giấy, đánh nhám ba vết xước trong xi-lanh rồi lắp.

Bốn đầu ốc bị ngoạm tôi thay hết bằng ốc mới, tiền ốc tôi trả.

"Mày kỹ tính vừa vừa thôi chứ."

"Cháu kỹ là kỹ phần cháu thôi bác ạ."

Hai ngày ấy tôi không lấy công, và tôi mất hai ngày làm.

Ba nhà hoãn hôm trước, hai nhà gọi lại, riêng bác Đoài thì im.

Có bận tôi qua ngõ, bác đang cào thóc, thấy tôi thì cúi xuống cào tiếp.

Tôi chẳng trách bác được, dạo ấy bác sợ thật, nỗi sợ ấy tôi biết ở đâu ra.

Thằng Rả vẫn ra chỗ chú Lãm, sang tháng sau nó xách túi đi.

"Thế là con quyết đi hẳn hử."

"Con quyết rồi bố ạ."

"Chuyện nhà mình yên cả rồi mà con."

"Chuyện của bố xong rồi, còn cái nghề tiện thì con vẫn phải đi học."

"Ở nhà bố dạy con chẳng được à."

"Ở nhà con chỉ tháo ra lắp vào. Ngoài ấy ngày con nhìn mấy chục cái vừa ra lò, mắt con quen đi bố ạ."

Tôi chở nó ra bến xe bằng cái xe ba bánh ấy, chở cả túi đồ nó tự sắm.

"Bố, bố giữ lấy cái này."

"Cái gì mà bọc kỹ thế con."

"Hôm qua con tạt qua chợ, con sắm cho bố."

Trong bọc là cờ lê vòng mười bốn, còn mới, dầu chống gỉ chưa lau.

"Nhà mình có cái mười bốn rồi mà con."

"Cái ấy mòn rồi bố. Tra vào ốc nó rơ."

"Rơ thì bố vẫn vặn được."

"Bố vặn được, nhưng nó ngoạm bố ạ."

Tôi cầm cờ lê lên, quay đi quay lại trong tay, không nói gì thêm.

"Cái cũ bố để nhà mà vặn ống nước. Máy người ta thì bố dùng cái này."

Đợi xe khuất hẳn tôi mới quay đầu, về tới ngõ thì trời sập tối.

Tôi ngồi thụp xuống hiên, nhặt cờ lê cũ khỏi thùng, treo lên vách.

Rồi xếp cờ lê mới vào đúng chỗ cái cũ vừa nằm.

Từ bận ấy tôi sinh ra một nếp trước kia chẳng bao giờ có.

Nhà nào gọi mở máy, chưa đụng cái ốc nào tôi đã chụp bốn đầu ốc với mặt lưng cục bạc cũ.

Rồi giữ chủ nhà lại, bắt nghe hết một câu.

"Bác ơi, sau này có ai mở cái máy này thì bác gọi cháu."

"Ừ ừ."

"Bác ừ suông thế không được. Bác nói lại một lượt cho cháu."

"Cái ông này, rách việc."

"Cháu rách việc tí, chứ cái đầu ốc chẳng đùa với bác đâu."

Người thì bật cười, người thì gật gù, mỗi nhà một kiểu.

Riêng tôi vỡ ra một điều, vỡ ra chậm mất hai mươi bảy năm.

Vặn đúng thôi thì chưa đủ.

Việc của tôi nằm kín trong ruột máy, chẳng ai ngó, thành ra thứ bày trước thiên hạ lại là cái mặt tôi.

Mà cái máy thì nó thật thà lắm.

Ai đụng vào nó, nó cũng giữ lại dấu, chờ có người chịu cúi xuống mà đọc.

Chia sẻ:FacebookXThreadsTelegram
Thấy lỗi trong bài? Báo cho ban biên tập

Đọc tiếp

Người đàn bà đan trần tre bị đổ cho làm sập trần giữa buổi khai trương — bà xin ba người lạ đếm hộ một gang tay
Truyện

Người đàn bà đan trần tre bị đổ cho làm sập trần giữa buổi khai trương — bà xin ba người lạ đếm hộ một gang tay

Mảng trần tre sà xuống đầu khách giữa buổi khai trương khu nhà nghỉ bên hồ. Người thầu chỉ thẳng vào bà thợ đan trước bảy chục người, hỏi bà đan hay bà lừa. Bà không cãi, chỉ xin được sờ vào tấm trần đã rơi. Sáu ngày sau, một người đàn bà quét dầu chống mọt ngã từ giàn giáo tre xuống nền cát. Đêm ấy cả xóm bãi kéo ra, và bà thợ đan xin nói ba câu: câu nào chắc thì bà nói chắc, câu nào nghi thì bà bảo là bà nghi. Rồi bà xin ba người không quen nhau, mỗi người đếm hộ một gang tay.

· 25 phút đọc
Thợ điện xóm bị vu làm cháy cái máy thêu hai trăm mốt triệu — ông xin mười phút, chủ xưởng đá văng hộp đồ nghề
Truyện

Thợ điện xóm bị vu làm cháy cái máy thêu hai trăm mốt triệu — ông xin mười phút, chủ xưởng đá văng hộp đồ nghề

Mười giờ sáng, khói khét nhựa còn hăng trong sân xưởng may, người thợ điện hai mươi sáu năm nghề bị chặn ngay ở cổng. Cái máy thêu hai trăm mốt triệu cháy rụi, và cả xưởng đều nhớ cái bảng điện ấy do ông lắp. Ông chỉ xin vào xem mười phút, xem trước mặt mọi người, không xem một mình. Người ta không cho. Ba nhà trong xóm hoãn việc cùng một ngày, con gái ông bỏ dở lớp học nghề, còn cái hộp đồ nghề bố ông đóng thì nứt một đường dọc thớ gỗ. Đến hôm ông sang trả lời, ông không cầm kìm, không vặn con ốc nào, chỉ nói trước bốn điều rồi nhờ người khác sờ vào.

· 22 phút đọc
Cả phiên chợ bảo mật của tôi pha đường, con gái tôi cúi mặt — tôi xin họ dốc ngược chai lên đếm bọt
Truyện

Cả phiên chợ bảo mật của tôi pha đường, con gái tôi cúi mặt — tôi xin họ dốc ngược chai lên đếm bọt

Sang ngày thứ ba của phiên chợ đặc sản, con trai ông chủ chợ dốc ngược chai mật của tôi lên trước mặt hai chục người và bảo tôi đổ đường vào can. Bốn người mang chai quay lại trả, bốn chai đều của gian số bảy. Tôi nuôi ong hai mươi sáu năm, đi theo mùa hoa từ đồng bằng lên vùng cao, tôi chỉ có mỗi cái tiếng để sống. Con gái tôi mười chín tuổi, ba tháng nay ngồi ghi sổ cho tôi, bị người ta nói giữa bãi là theo bố đi lừa người. Tôi nghi ngay từ chai thứ nhất, nhưng nghi thì tôi chưa nói. Đến khi họ đụng tới con tôi, tôi mới xin bà con cầm hộ mấy cái chai và làm giúp tôi mấy việc rất nhỏ.

· 22 phút đọc