Halab
Thợ điện xóm bị vu làm cháy cái máy thêu hai trăm mốt triệu — ông xin mười phút, chủ xưởng đá văng hộp đồ nghề
Truyện

Thợ điện xóm bị vu làm cháy cái máy thêu hai trăm mốt triệu — ông xin mười phút, chủ xưởng đá văng hộp đồ nghề

· 22 phút đọc · Halab

"Đứng lại đấy. Cháy cái máy hai trăm mốt triệu của nhà tôi rồi, ông định đi đâu."

"Cậu cho tôi vào xem cái bảng điện đã."

"Xem cái gì nữa. Ông đấu thì ông cháy, còn xem cái gì."

Tôi đang xách hộp đồ nghề đi ngang cổng xưởng, mười giờ sáng, chưa kịp đặt xuống.

Trong sân xưởng khói còn hăng, thứ khói khét của nhựa cháy, không phải khói gỗ.

Cậu Trứ chắn cổng, tay cầm cái bình chữa cháy đã xì hết bột, áo dính một vệt trắng.

"Cậu dập được rồi à?"

"Dập được. May mà dập được. Không thì ông đền cả cái xưởng."

"Cháy ở đâu hả cậu?"

"Ở cái bảng điện ông lắp chứ ở đâu."

Bà Rật mẹ cậu ấy từ trong nhà đi ra, chống gậy, đi chậm.

"Ông Bổng đấy à."

"Vâng, cháu đây bà."

"Ông lắp cho nhà tôi từ hôm nào?"

"Cháu lắp bảng ấy tháng chín năm ngoái bà ạ."

"Tháng chín năm ngoái đến giờ chưa đầy một năm mà cháy."

"Vâng."

Tôi nói vâng, vì bà nói đúng con số, chưa đầy một năm.

Ngoài hiên túm mười mấy chị thợ may, cả hai đứa nhỏ nhặt chỉ.

Có tiếng ai đó nói với ra, không rõ của ai.

"Bảng ông Bổng lắp đấy."

Cậu Trứ nghe được, quay lại nhìn cả sân một lượt.

"Đấy. Cả xưởng người ta biết."

"Cậu Trứ, tôi xin vào xem mười phút."

"Ông vào rồi ông giấu chỗ nào đi thì sao."

"Thì cậu đi cùng tôi. Cậu cầm điện thoại quay lại cũng được."

"Tôi không rảnh quay ông. Ông về đi. Chiều tôi sang nhà nói chuyện đền."

Tôi đứng thêm một lúc rồi về, vì tôi không có quyền đứng đấy.

Trên đường về, cái hộp đồ nghề của tôi nặng hơn mọi hôm.

Hộp ấy là hộp gỗ, có quai sắt, bố tôi đóng năm bố tôi bốn mươi, tôi dùng từ năm mười chín tuổi.

Về tới nhà, con Nhài đang gội đầu cho khách ngoài hiên.

"Bố, sao bố về sớm thế?"

"Bố về sớm tí."

"Nhà bà Rật cháy à bố?"

"Ừ."

"Cháy to không bố?"

"Cháy cái máy thêu."

Con bé buông cái vòi sen xuống, tay còn đầy bọt.

"Cái máy hai trăm mấy ấy hả bố?"

"Ừ."

"Bố lắp bảng điện cho nhà ấy mà."

"Ừ."

Nó không hỏi thêm câu nào, nó xả tóc cho khách, xả rất lâu.

Chiều ba giờ cậu Trứ sang thật, sang cùng hai người, và không ngồi.

"Ông tính thế nào?"

"Cậu cho tôi xem cái bảng đã rồi tôi tính."

"Ông cứ nói con số trước đi."

"Cậu ơi, chưa xem thì tôi chưa nói được câu nào."

"Vậy tôi nói. Máy hai trăm mốt, mua năm kia, giờ còn giá trị bao nhiêu thì ông với tôi ngồi bàn. Tôi lấy ông một trăm tám."

Tôi ngồi ở cái ghế nhựa, hai bàn tay đặt lên đùi.

"Một trăm tám."

"Ông thấy tôi nói cao à?"

"Tôi không nói cao hay thấp. Tôi nói tôi không có."

"Không có thì bán nhà."

"Cậu Trứ."

"Tôi nói thật đấy. Nhà ông đây, đất đây, bán đi thì đủ."

Con Nhài từ trong nhà bước ra, nó đứng ở cửa.

"Chú ơi, bố cháu chưa xem cái bảng mà."

"Cháu vào trong đi. Chuyện người lớn."

"Cháu hai mươi mốt rồi chú ạ."

"Hai mươi mốt thì cũng vào trong."

Tôi ra hiệu cho nó vào, nó đứng nguyên đấy.

"Cậu Trứ, cái máy thêu ấy cắm vào đâu?"

"Cắm vào ổ chứ vào đâu."

"Ổ nào hả cậu?"

"Ông lắp ông không nhớ à?"

"Tôi nhớ. Tôi lắp cho nhà cậu bốn ổ ba chấu ở dãy trong, chỗ ba cái máy vắt sổ."

"Thì đấy."

"Máy thêu cậu mua năm kia, tôi lắp bảng tháng chín năm ngoái. Lúc tôi lắp, máy thêu đặt ở đâu?"

"Ở góc trong."

"Góc trong, cạnh cửa sổ, đúng không cậu?"

"Đúng thì sao."

"Không sao. Tôi hỏi cho nhớ thôi."

Cậu ấy nhìn tôi một lúc, rồi cậu ấy đứng dậy.

"Ông đừng có vòng vo. Mai tôi sang. Không có tiền thì tôi làm to."

"Làm to là thế nào hả cậu?"

"Là cả xóm biết ông đấu điện thế nào."

Sáng hôm sau thì cả xóm biết thật, mà không phải cậu ấy đi nói.

Bà Rật ngồi quán nước đầu ngõ từ bảy giờ, ai đi qua bà cũng kể.

Tôi biết chuyện ấy vì tám giờ có bác Thuyến gọi cho tôi.

"Ông Bổng, hôm nay ông sang tôi được không?"

"Bác bảo lắp cái bơm mới ạ?"

"Ừ thì cái bơm. Mà thôi, để tôi tính lại đã."

"Bác cứ nói thẳng."

"Ông đừng giận. Nhà tôi có mỗi cái bơm với cái tủ lạnh."

"Cháu hiểu ạ. Bác cứ để đấy."

Trưa ấy thêm hai nhà gọi hoãn, một nhà chỉ nhắn một dòng.

Tôi làm nghề này trong xóm hai mươi sáu năm, chưa ngày nào ba nhà hoãn cùng lúc.

Nghề tôi sống bằng chỗ người ta dám gọi mình vào nhà, mất chỗ ấy thì hết.

Chiều tôi ra chợ, đi ngang hàng vật liệu, ông Cẩn ngoắc tôi vào.

"Nghe nói ông làm cháy máy nhà bà Rật."

"Người ta nói thế."

"Ông có làm không?"

"Cháu chưa xem cái bảng, cháu chưa nói được. Nghi thì cháu không nói."

Ông Cẩn rót nước, đẩy sang cho tôi một chén.

"Ông nói câu ấy thì tôi tin ông hơn."

"Bác tin thì bác bán chịu cho cháu cuộn dây."

"Ông lấy dây làm gì. Nhà cô Lãi với nhà ông Đoành sáng nay sang tôi hỏi mua dây rồi."

Tôi cầm chén nước lên, uống hết, đặt xuống.

"Ông đừng buồn. Người ta sợ."

"Cháu không buồn ạ."

Tối ấy tôi ngồi ngoài sân, mở hộp đồ nghề ra lau từng cái một.

Con Nhài mang ra bát cơm rang, ngồi xuống bậc cửa.

"Bố ơi."

"Ừ."

"Con tính thế này."

"Con tính gì?"

"Con lên tỉnh làm. Chị Huyến chủ tiệm trên ấy vẫn bảo con lên."

"Con đang học dở."

"Con học được bảy tháng rồi, gội với sấy con làm được."

"Còn cắt?"

"Cắt thì con học sau."

"Học sau là bao giờ?"

"Là lúc nào nhà mình xong chuyện bố ạ."

Tôi và hết bát cơm rồi mới nói được câu tiếp.

"Con ở nhà."

"Bố, người ta đòi một trăm tám."

"Bố biết."

"Con lên đấy tháng bảy triệu, ăn ở tiệm lo."

"Bảy triệu thì bao giờ đủ một trăm tám?"

"Con không tính đủ. Con tính đỡ."

"Con đỡ bố cái gì?"

"Con đỡ bố cái tiền chợ, để bố khỏi phải nhận việc bừa."

Tôi không đáp được, vì nó nói trúng cái tôi đang nghĩ.

"Bố ơi, bố có làm sai không bố?"

"Con hỏi bố câu ấy à?"

"Con hỏi để con biết đường mà nói với người ta."

"Bố chưa xem cái bảng."

"Thì bố sang mà xem."

"Người ta không cho bố vào."

Nó im một lúc, rồi nói câu làm tôi nhớ tới giờ.

"Bố, hồi con bé, bố dạy con là dây điện nó không biết nói dối."

"Ừ."

"Vậy bố phải cho nó nói."

Hôm sau cậu Trứ sang lúc chín giờ, lần này sang đông.

Đi cùng có bà Rật, hai người thợ trong xưởng, và bốn năm người trong xóm theo xem.

Cậu ấy đứng giữa sân nhà tôi, nói to.

"Ông Bổng. Hôm nay ông trả lời dứt khoát."

"Cậu vào nhà uống nước đã."

"Tôi không uống. Ông có đền hay không?"

"Cậu cho tôi vào xưởng xem cái bảng, xem xong tôi trả lời."

"Ông cứ xin vào xem. Ông vào xem để ông chối à?"

"Tôi vào xem để tôi biết."

"Biết cái gì. Cả xưởng nhìn thấy khói bốc ra từ cái bảng ông lắp."

"Vâng, khói bốc ra từ đấy."

"Đấy. Ông cũng nhận."

"Tôi nhận khói bốc ra từ đấy. Tôi chưa nhận cái gì đốt ra khói ấy."

Cậu Trứ cười thành tiếng, rồi quay ra phía mấy người đứng xem.

"Bà con nghe chưa. Đấu điện xong cháy nhà người ta, giờ vặn chữ."

Bà Rật chống gậy đi lên một bước.

"Ông Bổng này."

"Vâng bà."

"Tôi năm nay bảy mươi tư. Tôi gọi ông vào nhà tôi từ hồi ông còn đi xe đạp."

"Vâng, cháu nhớ."

"Tôi có bao giờ trả thiếu ông đồng nào không?"

"Chưa bao giờ ạ."

"Vậy giờ nhà tôi mất hai trăm mốt, ông tính sao?"

"Bà ơi, cháu xin bà một buổi. Một buổi thôi."

"Một buổi ông làm gì?"

"Cháu xin xem cái bảng, xem trước mặt bà con, không xem một mình."

Cậu ấy bước sát tới mức tôi ngửi được mùi thuốc lá trên áo.

"Ông tưởng ông vào đấy ông vặn được mấy con ốc thì bà con tin ông à?"

"Tôi không vặn con ốc nào cả."

"Thế ông làm gì?"

"Tôi đứng ngoài. Người khác vặn."

"Người nào?"

"Người cậu chọn."

Cậu ấy khựng đúng nửa giây, rồi nói tiếp.

"Ông nói hay lắm. Nhưng tôi không có thời gian diễn với ông."

Cậu ấy quay đi, và đá phải cái hộp đồ nghề tôi để ở góc sân.

Hộp đổ, nắp bật, đồ trong hộp văng ra nền gạch.

Cậu ấy cúi xuống, nhặt cái kìm tuốt dây lên, xem.

"Đồ nghề ông đây à?"

"Vâng."

"Cũ thế này thì làm ăn gì."

Cậu ấy buông tay, cái kìm rơi xuống nền, đi hai bước rồi quay lại.

Cậu ấy đá cái hộp gỗ một cái nữa, hộp lật ngửa, một bên thành nứt dọc thớ.

"Ông giữ mấy cái này để làm gì. Đi đấu điện cho người ta cháy nhà."

Con Nhài chạy từ trong nhà ra, nó ngồi thụp xuống nhặt.

"Chú làm gì hộp của ông cháu?"

"Ông cháu?"

"Hộp ấy ông nội cháu đóng."

"Ông nội cháu đóng thì ông nội cháu giữ."

"Ông cháu mất mười hai năm rồi."

Cậu Trứ không nói gì nữa, cậu ấy đi ra cổng.

Tôi ngồi xuống nhặt từng thứ, cái kìm, cái tuốc nơ vít, cuộn băng, cái bút thử điện.

Vết nứt dài chừng gang tay, dọc thớ gỗ, chỗ bố tôi đóng đinh mũ.

Con Nhài lấy tay áo lau chỗ bột chữa cháy dính từ giày cậu ấy.

"Bố."

"Ừ."

"Con không lên tỉnh nữa."

"Con lên đi."

"Bố vừa bảo con ở nhà."

"Bố đổi ý rồi."

"Sao bố đổi ý?"

"Vì bố sắp phải làm một việc, mà bố không muốn con đứng đấy nhìn."

Ba hôm sau tôi có cớ vào cái xưởng ấy, cớ ấy không phải tôi nghĩ ra.

Cháy bảng thì phải có điện lại mà chạy, bà Rật gọi thợ ngoài thị trấn về đấu tạm.

Ông ấy tên Chiển, hơn tôi bảy tuổi, làm nghề từ hồi tôi chưa cầm kìm.

Đấu tạm xong ông ấy không về, ông ấy đi bộ sang nhà tôi.

"Bổng."

"Bác Chiển. Bác ngồi."

"Tao vừa ở trong ấy ra."

"Bác thấy thế nào?"

"Tao thấy tao không hiểu."

"Bác không hiểu cái gì ạ?"

"Cái bảng mày lắp thì tao hiểu. Còn cái đoạn dây chạy ra góc trong thì tao không hiểu."

Tôi đặt ấm nước xuống, ngồi thẳng lên.

"Đoạn ấy đấu vào đâu ạ?"

"Đấu thẳng vào đầu vào của bảng. Không qua cái aptomat nào cả."

"Bác chắc chứ ạ?"

"Tao chắc. Tao còn chụp ảnh. Tao làm nghề bốn chục năm, chỗ nào lạ tao chụp."

Tôi ngồi im chừng mười giây, rồi tôi hỏi câu tôi cần hỏi nhất.

"Bác Chiển, đoạn dây ấy là dây gì?"

"Mày hỏi hay đấy."

"Bác nói cho cháu nghe."

"Dây nhôm."

"Dây nhôm."

"Ừ. Nhôm. Mà cái bảng của mày với mấy đường ra của mày thì toàn đồng."

"Chỗ nó nối vào nhau thì thế nào ạ?"

"Thì đấy. Chỗ ấy là chỗ tao không hiểu. Nó không có ống nối. Nó chỉ vặn xoắn tay rồi quấn băng dính."

"Bác ơi, cháu xin bác một việc."

"Việc gì?"

"Bác đừng nói với ai chuyện này vội."

"Sao lại đừng?"

"Vì cháu nói bây giờ thì thành cháu chống chế. Cháu muốn nói trước mặt đông người, và cháu muốn bác là người sờ vào chứ không phải cháu."

Ông Chiển nhìn tôi, nhìn lâu, rồi ông ấy gật.

"Mày tính thế là phải."

"Bác giúp cháu nhé."

"Tao giúp. Nhưng tao nói trước, tao thấy sao tao nói vậy. Nó có ra chỗ mày thì tao nói, mà nó ra chỗ nào khác thì tao cũng nói."

"Cháu chỉ cần thế bác ạ."

Chiều ấy tôi sang xưởng lúc bốn giờ, lúc chị em thợ may còn đủ mặt.

Bà Rật ngồi ở hiên, cậu Trứ đang nghe điện thoại, thấy tôi thì tắt máy.

"Ông lại sang xin xem à?"

"Không cậu. Hôm nay tôi sang trả lời. Tôi không đền."

Sân im một nhịp, rồi cậu Trứ cười.

"Ông nói lại xem."

"Tôi không đền, vì cái cháy ấy không phải từ chỗ tôi làm."

"Ông chối được thì ông giỏi."

"Tôi không chối. Tôi nói trước, rồi tôi nhờ người khác chứng minh."

"Ông nói trước cái gì?"

Tôi đặt hộp đồ nghề xuống sân, nắp hộp buộc tạm một sợi dây thép.

"Tôi nói trước bốn điều. Sai một điều thì tôi đền cả một trăm tám, tôi ký giấy vay, tôi không xin bớt đồng nào."

Bà Rật chống gậy đứng dậy.

"Ông Bổng, ông nói cho rõ."

"Vâng bà. Cháu nói điều thứ nhất."

Tôi quay về phía cái tường trong xưởng, chỗ bảng điện đen sì một mảng.

"Từ cái bảng cháu lắp, có một đoạn dây kéo thêm chạy dọc chân tường ra góc trong. Đoạn ấy không phải cháu kéo."

"Ai kéo?"

"Cháu chưa nói. Cháu nói cái nhìn thấy được trước."

"Ông nói tiếp đi."

"Điều thứ hai. Đoạn ấy đấu thẳng vào đầu vào của bảng, không đi qua cái aptomat nào."

Cậu Trứ nhíu mày.

"Đấu thế thì sao?"

"Thì cái máy thêu chạy trên đoạn ấy không có gì che cho nó cả."

"Ông nói tiếp."

"Điều thứ ba. Đoạn dây ấy là dây nhôm. Còn toàn bộ dây cháu kéo trong nhà này là dây đồng."

"Nhôm với đồng thì khác gì nhau."

"Khác nhiều cậu ạ. Nhưng cái khác quan trọng nhất nằm ở điều thứ tư."

"Ông nói."

"Điều thứ tư. Chỗ đầu dây nhôm nối vào đầu dây đồng, không có ống nối ép. Chỉ vặn xoắn bằng tay rồi quấn băng dính."

Tôi nói xong bốn điều, tôi ngồi xuống bậc thềm.

"Cháu nói xong ạ. Giờ cháu xin bà cho người khác vào xem, không phải cháu."

"Ai xem?"

"Bà cho bác Chiển ngoài thị trấn xem. Bác ấy vừa đấu tạm cho nhà bà hôm kia, bác ấy không phải người nhà cháu."

Cậu Trứ xen vào.

"Ông ấy với ông cùng nghề."

"Vâng, cùng nghề. Nên cậu gọi thêm người thứ hai."

"Người nào?"

"Cậu gọi ai cậu muốn. Cậu gọi anh Quýnh quấn mô-tơ ngoài chợ cũng được, anh ấy có mua đồ của cháu bao giờ đâu."

"Ông tưởng tôi không dám gọi à."

"Cháu mong cậu gọi."

Cậu Trứ gọi thật, gọi ngay giữa sân, và cậu ấy gọi anh Quýnh.

Nửa tiếng sau anh Quýnh sang, đi xe máy, xách theo cái túi vải.

Bà Rật cho người ra thị trấn gọi ông Chiển, ông sang, không chào ai, đi thẳng chỗ tường cháy.

"Cái đèn pin."

Có người đưa cái đèn pin, ông Chiển soi dọc chân tường, soi chậm.

"Có. Đoạn dây kéo thêm đây. Chạy sát chân tường, luồn sau mấy cái giá vải."

Anh Quýnh cúi xuống, sờ.

"Đúng rồi. Đoạn này ra góc trong."

Bà Rật hỏi vọng vào.

"Đoạn ấy đấu vào đâu hả các anh?"

Ông Chiển gỡ nắp nhựa của bảng bằng tuốc nơ vít của chính ông.

"Đấu vào đây. Đầu vào. Trước aptomat."

"Trước aptomat là sao?"

"Là cái aptomat này nó không quản đoạn dây ấy. Nó không biết đoạn ấy tồn tại."

Sân bắt đầu có tiếng xì xào, mấy chị thợ may bỏ máy đứng dậy.

"Điều thứ ba đâu."

Cậu Trứ nói câu ấy, và cậu ấy nói to hơn cần thiết.

Ông Chiển cắt một đoạn dây kéo thêm, đưa cho anh Quýnh.

"Anh xem hộ tôi."

Anh Quýnh bóc lớp vỏ, xoè cái lõi ra ánh sáng.

"Nhôm."

"Anh chắc không?"

"Chắc. Nhôm nó trắng bạc, mềm, bẻ mấy cái là gãy. Đồng nó đỏ, bẻ dai."

Anh ấy bẻ thử ngay đấy, bẻ ba cái, sợi lõi gãy làm đôi.

Rồi anh ấy cắt một đoạn từ đường ra của bảng, bóc, xoè ra.

"Cái này đồng. Đỏ au."

Ông Chiển cầm cả hai đoạn giơ lên cho cả sân nhìn.

"Bà con nhìn hai màu. Không cần biết nghề cũng nhìn ra."

Bà Rật đưa tay ra.

"Đưa tôi cầm."

Bà cầm hai đoạn lõi, lật đi lật lại, đưa lên gần mắt.

"Khác nhau thật."

"Điều thứ tư."

Tôi nói câu ấy từ bậc thềm, tôi không đứng lên.

Ông Chiển lần theo đoạn nhôm tới chỗ nó gặp đường đồng, khuất sau cái giá vải.

Ông kéo cái giá vải ra, lộ một cục băng dính đen cháy nhũn, chảy thành giọt.

"Đây rồi."

Cậu Trứ bước tới.

"Cái gì đây."

"Cái mối nối. Anh nhìn đi."

Ông Chiển gỡ lớp băng dính cháy bằng đầu tuốc nơ vít, gỡ chậm cho cả sân nhìn.

Bên trong là hai đầu dây vặn xoắn vào nhau, xoắn tay, không có ống nối, không có ốc ép.

Và đầu dây nhôm thì không còn là đầu dây nữa.

"Nó chảy thành hạt."

Anh Quýnh nói câu ấy, anh ấy nói khẽ, mà cả sân nghe.

"Hạt gì?"

"Đầu nhôm nó chảy ra rồi đông lại thành hòn tròn, như hạt cườm ấy bà ạ."

"Sao lại chảy?"

Ông Chiển đứng thẳng lên, ông ấy trả lời bà Rật.

"Vì chỗ tiếp xúc nó kém. Kém thì nó nóng. Nóng lâu thì nó chảy."

"Nóng bao lâu?"

"Không phải một ngày một buổi. Cái này nó nướng dần từng ngày."

"Rồi sao nữa?"

"Rồi nó chảy, nó rơi, nó rơi trúng cái đống vải vụn ở dưới."

Ông hất cằm xuống chân tường, chỗ ấy một vũng cháy đen, tro vải còn nguyên hình.

"Bà nhìn cái vệt muội. Nó đi từ dưới lên."

"Từ dưới lên là sao hả anh?"

"Là lửa nó bắt từ dưới đất bốc lên bảng, chứ không phải từ bảng rơi xuống đất."

Cậu Trứ nói xen vào, giọng đã khác lúc nãy.

"Muội thì muội nào chả giống muội nào."

Anh Quýnh quay sang cậu ấy.

"Anh Trứ, anh sờ vào cái mặt trên của bảng đi."

"Sờ làm gì."

"Anh sờ."

Cậu ấy sờ, đầu ngón tay đen sì.

"Rồi anh sờ mặt dưới."

Cậu ấy sờ, ngón tay đen đặc hơn, dính hơn.

"Đấy. Mặt dưới bám dày hơn mặt trên. Khói nó tạt lên từ dưới, nên mặt dưới ăn muội trước."

Bà Rật ngồi xuống cái ghế gần nhất.

"Anh Chiển, anh nói thật với tôi."

"Bà hỏi."

"Cái bảng ông Bổng lắp có sai chỗ nào không?"

Ông Chiển quay lại nhìn cái bảng một lượt thật kỹ, rồi trả lời.

"Bảng ấy có bốn cái aptomat, mỗi đường một cái, đúng dòng. Dây ra đủ tiết diện. Mối nào cũng ép ống, không có mối vặn tay nào."

"Vậy là không sai?"

"Không sai. Mà tôi nói thêm một câu."

"Anh nói."

"Nếu cái máy thêu ấy cắm vào ổ do ông Bổng lắp, thì hôm ấy aptomat nó nhảy từ lâu rồi, cháy làm sao được."

Sân im hẳn, im tới mức nghe tiếng cái quạt trần quay chậm trong xưởng.

Tôi đứng lên khỏi bậc thềm, tôi đi tới chỗ mấy chị thợ may.

"Các chị cho tôi hỏi một câu."

"Ông hỏi đi."

"Cái máy thêu ấy để ở góc trong, chỗ cửa sổ. Nó nằm đấy từ hồi nào?"

"Từ hồi mua về. Nặng lắm, chả ai khiêng đi đâu."

"Vậy trước hôm cháy, có ai kéo thêm dây ra góc ấy không?"

Mấy chị nhìn nhau, rồi chị Đắc lên tiếng, chị làm ở đấy lâu nhất.

"Có. Ra Tết."

"Ra Tết ạ?"

"Ra Tết, cậu Trứ mua thêm cái máy ép nhiệt, đặt cạnh máy thêu. Hôm ấy có người tới kéo dây."

"Chị có nhớ ai kéo không?"

"Tôi không biết tên. Người lạ, đi xe tải nhỏ, chở cái máy ép tới rồi kéo dây luôn."

"Kéo trong bao lâu?"

"Buổi sáng. Ăn trưa xong là xong."

"Sau hôm ấy máy thêu cắm vào đâu ạ?"

"Cắm vào cái ổ mới. Cái máy ép cũng cắm vào đấy. Hai cái chung một ổ."

Tôi quay sang cậu Trứ.

"Cậu Trứ."

Cậu ấy không nhìn tôi.

"Cậu có nhớ hôm ấy không?"

"Tôi nhớ thì sao."

"Người kéo dây ấy có phải thợ điện không cậu?"

"Người ta bán máy thì người ta kéo."

"Vâng. Người bán máy."

Bà Rật quay phắt sang con trai, bà chống gậy đứng dậy.

"Trứ."

"Mẹ."

"Mày mua cái máy ép hồi ra Tết à?"

"Con mua."

"Mày mua sao mày không nói với tao?"

"Con mua bằng tiền con."

"Tao không hỏi tiền. Tao hỏi cái dây."

Cậu Trứ im.

"Mày gọi ông Bổng chưa?"

"Con không gọi."

"Sao không gọi?"

"Gọi ông ấy thì ông ấy lại bảo phải thay cả tuyến, lại tốn."

"Ông ấy bảo tốn bao nhiêu?"

"Con có hỏi đâu."

"Mày không hỏi mà mày biết tốn?"

Cậu ấy không đáp, và cả cái sân ấy đứng nghe.

Ông Chiển thu cái tuốc nơ vít vào túi.

"Anh Trứ."

"Gì."

"Người bán máy kéo dây cho anh, họ kéo dây nhôm, họ đấu trước aptomat, họ nối bằng băng dính."

"Thì họ làm."

"Họ làm rồi họ đi. Còn cái tên gánh chuyện này mấy hôm nay là tên ông Bổng."

Cậu Trứ vẫn đứng đấy, hai tay đút túi.

Anh Quýnh nhặt cái đoạn dây nhôm lên, cầm ngang tầm mắt cậu ấy.

"Anh Trứ, tôi nói câu cuối rồi tôi về."

"Anh nói."

"Cái đầu dây này nó nướng dần từ ra Tết tới giờ. Nó nướng bảy tháng."

"Anh nói tôi biết à?"

"Tôi nói để anh nhớ. Bảy tháng ấy anh đi qua nó mỗi ngày."

Bà Rật gõ cái gậy xuống nền hai cái, gõ để mọi người im.

"Ông Bổng."

"Vâng bà."

"Tôi có lỗi với ông."

"Bà đừng nói thế ạ."

"Tôi ngồi ngoài quán nước ba buổi. Tôi nói với bao nhiêu người."

"Vâng."

"Ông muốn tôi làm gì thì ông nói."

Tôi nghĩ thật một lúc, không phải nghĩ để nói cho hay.

"Bà ra ngồi lại cái quán ấy."

"Ngồi lại?"

"Vâng. Bà ngồi đúng chỗ ấy, và bà nói lại với đúng những người ấy."

"Chỉ thế thôi à?"

"Chỉ thế thôi ạ. Bà nói ở đâu thì bà gỡ ở đấy."

Bà Rật gật đầu, và sáng hôm sau bà ra ngồi thật, từ bảy giờ.

Còn cậu Trứ thì hôm ấy chưa xong.

Bà quay sang cậu ấy ngay giữa sân, trước mặt mười mấy chị thợ may.

"Trứ, mày sang nhà ông ấy mấy lần?"

"Hai lần."

"Lần thứ hai mày làm gì ở đấy?"

Cậu ấy không đáp.

Con Nhài lúc ấy đang đứng ngoài cổng, nó không vào, nó chỉ đứng đấy.

Chị Đắc quay ra hỏi nó.

"Cháu ơi, chú ấy sang nhà cháu làm gì?"

Con bé nhìn tôi, tôi gật.

"Chú ấy đá cái hộp đồ nghề của bố cháu. Đá hai lần."

"Hộp làm sao?"

"Nứt một bên."

"Hộp ấy mua bao nhiêu?"

"Hộp ấy ông nội cháu đóng ạ."

Sân lại im.

Bà Rật quay sang cậu Trứ, bà không quát, bà nói chậm.

"Mày xin lỗi ông ấy."

"Con..."

"Đứng đây mà xin. Đứng đúng chỗ mày chửi ông ấy hôm trước."

Cậu Trứ ra giữa sân, cúi đầu, nói được ba chữ.

"Cháu xin lỗi."

Tôi đứng dậy, tôi xách hộp đồ nghề lên.

"Cậu Trứ."

"Vâng."

"Tôi nhận cái xin lỗi này."

"Vâng."

"Nhưng tôi nói với cậu một câu, cậu nghe rồi cậu để đấy cũng được."

"Ông nói."

"Cậu không sai ở chỗ cậu nghĩ tới tôi. Bảng ấy tôi lắp, máy cháy trong nhà cậu, cậu nghĩ tới tôi là phải."

"..."

"Cậu sai ở chỗ cậu nghĩ xong là cậu tin luôn. Cậu không cho tôi mười phút."

"..."

"Mười phút ấy, giá cậu cho tôi hôm đầu, thì hôm nay không ai phải đứng ngoài nắng thế này."

Bà Rật hỏi tôi thêm một câu.

"Ông Bổng, thế cái máy thêu của tôi giờ tính sao?"

"Bà gọi người sửa máy. Còn phần điện thì cháu làm lại cho bà, không lấy tiền."

"Sao lại không lấy tiền?"

"Vì cháu lắp bảng ấy mà cháu không dặn bà một câu."

"Ông dặn gì cơ?"

"Cháu phải dặn bà rằng sau này nhà có thêm máy gì thì gọi cháu. Cháu quên."

Ông Chiển đứng cạnh, ông ấy nói chen vào.

"Mày dặn thì nó cũng chả nhớ."

"Cháu vẫn phải dặn bác ạ."

Tôi làm lại tuyến điện cho cái xưởng ấy trong bốn ngày.

Tôi bỏ hết đoạn dây nhôm, kéo dây đồng đủ tiết diện, mỗi máy một đường, mỗi đường một aptomat riêng.

Chỗ nào phải nối thì tôi ép ống, ép xong để hở cho ông Chiển sang xem rồi mới bọc.

"Mày cẩn thận quá đấy."

"Cháu cẩn thận cho cháu thôi bác."

Bốn ngày ấy tôi không lấy đồng nào, và tôi mất bốn ngày công.

Ba nhà hoãn hôm trước thì có hai nhà gọi lại, nhà thứ ba là bác Thuyến thì không.

Bác ấy thuê người ngoài thị trấn lắp cái bơm, lắp xong rồi.

Tôi đi ngang nhà bác ấy một lần, bác đang tưới rau, bác quay đi.

Tôi không giận, vì hôm ấy bác sợ thật, cái sợ ấy tôi hiểu.

Con Nhài thì vẫn lên tỉnh, nó đi tháng sau.

"Con đi thật à?"

"Con đi thật bố ạ."

"Bố hết chuyện rồi mà."

"Bố hết chuyện, nhưng con vẫn phải học cắt."

"Học ở nhà cũng học được."

"Ở nhà con gội cho mấy bà trong xóm, một ngày ba cái đầu."

"Ừ."

"Trên ấy một ngày hai chục cái. Tay con nó nhanh lên bố ạ."

Tôi ra bến xe tiễn nó, xách túi cho nó, đứng đợi xe chạy.

"Bố ơi, bố cầm cái này."

"Cái gì đấy con?"

"Con mua cho bố hôm qua."

Trong túi nilon là hai cái ke góc bằng thép, loại bắt vít nẹp góc đồ gỗ.

"Con mua cái này làm gì?"

"Bố bắt vào chỗ nứt của hộp. Nó không liền lại được, nhưng nó không nứt thêm."

"Con nghĩ ra à?"

"Con hỏi ông Cẩn ngoài chợ."

Xe chạy rồi tôi mới về, tới nhà thì trời tối, tôi ngồi hiên bắt hai cái ke vào thành hộp.

Bắt xong tôi cầm hộp lên xem, vết nứt vẫn còn rõ, mà hộp thì cứng lại.

Từ hôm ấy tôi có thêm một thói quen trước không có.

Nhà nào gọi tôi lắp, xong tôi lấy điện thoại cũ chụp cái bảng lúc chưa đóng nắp.

Chụp cả mối nối, chụp cả cái nhãn ghi dòng của từng aptomat.

Rồi tôi hỏi chủ nhà một câu, và bắt họ nghe hết câu.

"Bác ơi, sau này nhà bác mua thêm máy gì thì bác gọi cháu."

"Ừ ừ."

"Bác đừng ừ. Bác nhắc lại cho cháu nghe."

"Ông này buồn cười."

"Cháu buồn cười một tí, nhưng cái dây nó không buồn cười đâu bác ạ."

Có người nghe xong thì cười, có người nghe xong thì gật.

Còn tôi thì hiểu ra một điều, hiểu hơi muộn, muộn mất hai mươi sáu năm.

Đấu đúng thôi thì chưa đủ.

Cái tôi làm nằm khuất trong tường, người ta không nhìn thấy, nên cái người ta nhìn thấy là mặt tôi.

Mà mặt tôi thì chỉ giữ được bằng cách nói trước, nói to, nói lúc chưa ai hỏi.

Chia sẻ:FacebookXThreadsTelegram
Thấy lỗi trong bài? Báo cho ban biên tập

Đọc tiếp

Cả phiên chợ bảo mật của tôi pha đường, con gái tôi cúi mặt — tôi xin họ dốc ngược chai lên đếm bọt
Truyện

Cả phiên chợ bảo mật của tôi pha đường, con gái tôi cúi mặt — tôi xin họ dốc ngược chai lên đếm bọt

Sang ngày thứ ba của phiên chợ đặc sản, con trai ông chủ chợ dốc ngược chai mật của tôi lên trước mặt hai chục người và bảo tôi đổ đường vào can. Bốn người mang chai quay lại trả, bốn chai đều của gian số bảy. Tôi nuôi ong hai mươi sáu năm, đi theo mùa hoa từ đồng bằng lên vùng cao, tôi chỉ có mỗi cái tiếng để sống. Con gái tôi mười chín tuổi, ba tháng nay ngồi ghi sổ cho tôi, bị người ta nói giữa bãi là theo bố đi lừa người. Tôi nghi ngay từ chai thứ nhất, nhưng nghi thì tôi chưa nói. Đến khi họ đụng tới con tôi, tôi mới xin bà con cầm hộ mấy cái chai và làm giúp tôi mấy việc rất nhỏ.

· 22 phút đọc
Cả làng nghe cậu chủ đại lý chỉ vào lò rèn nhà tôi: "Nó rèn dao bằng lò than, các bác mua về mà chặt củi"
Truyện

Cả làng nghe cậu chủ đại lý chỉ vào lò rèn nhà tôi: "Nó rèn dao bằng lò than, các bác mua về mà chặt củi"

Hội mừng lúa mới, cậu chủ đại lý cơ khí mới về phát dao tặng cả làng, rồi chỉ vào lò rèn cuối xóm mà nói một câu khiến cả sân kho cười ồ. Ông thợ rèn ba đời ngồi im, không cãi một tiếng. Câu ác nhất không nhằm vào cái lò, mà nhằm vào đôi bàn tay co gân của đứa con gái đứng kéo bễ cho ông. Mười một ngày sau, một người trong xóm phát bờ ruộng thì lưỡi phảng gãy làm đôi, mảnh thép bay ngược cắm vào chân. Cả xóm kéo ra sân kho giữa đêm, và người bị chỉ mặt hôm hội lại là người bị gọi tên đầu tiên. Ông không cãi, ông chỉ xin nói trước ba câu rồi mới nhờ người ngoài nghề cầm kìm. Cái ruột của một mảnh thép gãy có thể nói ra những gì mà miệng người không nói được.

· 22 phút đọc
Sáu năm em gửi tiền về xây nhà, nhờ anh ruột đứng tên hộ, ngày em về anh nói giữa đám giỗ: "Tin người thì tự chịu" — em xin bóc bốn viên gạch chân tường
Truyện

Sáu năm em gửi tiền về xây nhà, nhờ anh ruột đứng tên hộ, ngày em về anh nói giữa đám giỗ: "Tin người thì tự chịu" — em xin bóc bốn viên gạch chân tường

Sáu năm tôi ngủ trên hai tấm ván kê lên bốn viên gạch bờ lô trong cái lán tôn, ăn cơm hộp mười lăm nghìn để dành năm nghìn, quỳ lát nền tới mức mất gần hết vân tay. Tháng nào tôi cũng gửi tiền về cho anh chị xây cái nhà ngoài mảnh vườn nhà mình, và năm thứ tư tôi còn xin nghỉ mười tám ngày về tự tay làm phần hoàn thiện. Ngày tôi về hẳn, anh tôi nói giấy tờ đã đứng tên anh chị, và bảo tôi tin người thì tự chịu. Anh tôi có công thật, sáu năm trông nom và lo mẹ ốm, cả họ đều biết. Hôm giỗ ông nội, trước ba chục người, tôi không cãi câu nào. Tôi chỉ xin bóc bốn viên gạch chân tường, và tôi nói trước cái nằm sau nó trước khi ai cầm đục.

· 22 phút đọc