
Cả làng nghe cậu chủ đại lý chỉ vào lò rèn nhà tôi: "Nó rèn dao bằng lò than, các bác mua về mà chặt củi"
"Bà con cứ cầm thử đi, hàng của tôi thép nhập, chứ không phải thứ gõ búa dưới lò than."
"Cậu nói lại câu ấy được không?"
"Tôi nói chung thôi, bác đừng nhận vào mình."
Tôi đứng ở mép sân kho, tay còn cầm cái liềm vừa mài, lưỡi quay xuống đất.
Hôm ấy là hội mừng lúa mới, sân kho kê ba dãy bàn, ngoài rìa đứng chừng bốn chục người.
Cậu ta tên Khoản, chừng ba mươi lăm, mở đại lý cơ khí ngoài thị trấn, hôm nay tài trợ cả cái bạt che với hai thùng nước ngọt.
"Bác Đường, bác ra sớm thế."
"Tôi ra dựng cái bàn cho hội."
"Bác dựng bàn thì tốt. Còn dao thì bác cứ để cháu."
"Tôi có tranh với cậu đâu."
"Cháu nói trước cho vui vẻ. Kẻo lát bà con lại tưởng hai bên cạnh khoé."
Ông Bỉnh trưởng ban khánh tiết đang buộc dây bạt, quay xuống.
"Chú Khoản, hôm nay hội làng, ăn nói cho nó phải."
"Cháu nói đúng chứ có sai đâu bác. Thời buổi này còn ai ngồi kéo bễ."
Tôi để cái liềm xuống chiếu, để ngửa, vì lưỡi vừa mài xong thì sắc lắm.
Lò rèn nhà tôi ở cuối làng, ba đời, đến tôi là đời thứ ba, và tôi năm nay năm mươi tư.
Con Nhài nhà tôi hai mươi hai tuổi, nó đứng kéo bễ cho tôi từ năm mười sáu.
"Bố ơi, con dọn cái bàn kia nữa nhé."
"Con dọn đi. Rồi vào trong bóng mát mà ngồi."
"Con không nắng đâu bố."
"Bố bảo vào thì vào."
Nó đi dọn tiếp, tay trái xách được cái ghế, tay phải chỉ đỡ vào.
Cậu Khoản mở thùng các tông thứ nhất, dựng lên bàn một dãy dao chuôi nhựa đỏ.
"Bà con lên đây, mỗi nhà cháu tặng một con. Không lấy tiền."
"Tặng thật à cậu?"
"Tặng thật. Cháu về đây làm ăn lâu dài, tặng lấy cái tình."
Người ta xúm lên, và tiếng cười rộ ở đầu bàn, còn tôi vẫn ngồi ở mép chiếu.
"Bác Đường lên lấy một con đi bác."
"Cậu cho người ta, tôi lấy làm gì."
"Bác lấy về mà so. So xem lưỡi máy với lưỡi búa khác nhau chỗ nào."
"So thì tôi so lâu rồi cậu ạ."
"Bác so bằng mắt hả bác?"
"Bằng tay."
Cả dãy bàn cười, và cậu Khoản cầm một con dao lên, gõ cạnh sống dao vào thành bàn sắt.
"Bà con nghe cái tiếng này. Trong. Thép tốt nó kêu trong."
"Cậu gõ nữa đi."
"Bác muốn cháu gõ nữa à?"
"Cậu gõ vào chỗ giữa lưỡi ấy, đừng gõ sống."
Cậu ấy không gõ, cậu ấy đặt con dao xuống bàn.
"Bác định bắt bẻ cháu giữa hội à?"
"Tôi bảo cậu gõ thôi mà."
"Bác Đường này, cháu nói thật, cháu tôn trọng người già."
"Vâng."
"Nhưng cái lò của bác thì hết thời rồi bác ạ. Bà con đừng giận cháu nói thẳng."
Ông Bỉnh buông dây bạt xuống.
"Chú Khoản."
"Dạ."
"Cái cuốc chú đang đứng dẫm lên kia là của lò bác Đường đấy."
"Cuốc thì cuốc, bác. Cuốc có mấy đồng."
Tôi ngồi im, tôi không nói gì, vì đám đông đang vui.
Con Nhài bưng khay chè đi qua, đặt xuống bàn, và cậu Khoản nhìn cái tay phải nó.
"Cháu gái bác đấy à?"
"Con tôi."
"Tay nó làm sao thế bác?"
"Nó bị bỏng."
"Bỏng gì mà co lại thế?"
"Bỏng lò."
"Ơ, thế là bác cho con gái đứng lò à?"
"Nó đứng kéo bễ thôi."
"Bác ơi, con gái người ta thì cho học may học tóc, bác cho nó vào lò làm gì."
Tôi đứng dậy chậm, và con Nhài kéo áo tôi.
"Bố. Thôi bố."
"Bố có nói gì đâu."
"Bố ngồi xuống đi bố."
Tôi ngồi xuống, và cậu Khoản còn nói thêm một câu nữa.
"Cháu nói cho bà con nghe, cái nghề ấy nó chỉ làm khổ con cái. Nó rèn dao bằng lò than, các bác mua về mà chặt củi."
Sân kho cười ồ lên, cười cả dãy.
Con Nhài quay lưng lại phía bàn, cúi xuống xếp mấy cái chén, xếp lâu hơn cần thiết.
Tôi biết nó khóc, vì mười năm nay tôi biết cái lưng nó lúc nó khóc.
Hai tay nó bỏng năm nó mười tám tuổi, hôm ấy tôi đang tôi một mẻ lưỡi phảng, mười hai cái một mẻ.
Thùng dầu tôi đặt cạnh bễ, dầu cũ lẫn nước, mà tôi biết dầu lẫn nước thì nhúng vào nó bắn.
"Bố ơi, dầu này con thấy nó nổi váng."
"Bố biết. Bố lọc rồi."
"Con thay thùng khác nhé bố."
"Còn ba cái nữa thôi con."
Ba cái nữa ấy tôi tham, vì mối người ta đặt trưa hôm sau phải giao.
Cái thứ mười một nhúng xuống thì thùng dầu bùng lên, bùng cao bằng đầu người.
Tôi giật lùi được, còn con Nhài đứng bên bễ, nó lao vào kéo tôi bằng hai tay, kéo qua vệt lửa.
Lúc tôi ngồi dậy thì áo nó cháy ở hai ống tay.
"Nhài. Nhài ơi."
"Bố có sao không bố."
"Bố không sao. Con giơ tay ra bố xem."
"Con không thấy đau bố ạ."
"Con giơ ra."
Nó giơ hai bàn tay ra, và cái câu con không thấy đau ấy tôi nghe mà lạnh cả sống lưng.
Không thấy đau là cháy sâu quá rồi.
Tôi bế nó lên xe, tôi chạy ra bệnh viện tỉnh, tôi chạy như người mất hồn.
Bà bác sĩ trực đêm ấy hỏi tôi.
"Cháu nó bị lúc nào?"
"Chừng bốn mươi phút trước."
"Bốn mươi phút mà anh chở tới đây được à?"
"Tôi chạy nhanh."
"Anh có dội nước không?"
"Tôi dội nước bể. Dội chừng năm phút."
"Được. Anh làm đúng."
Câu anh làm đúng ấy là câu duy nhất trong đời tôi được nghe, còn lại toàn là tôi làm sai.
Nó nằm viện bốn mươi mốt ngày, ghép da hai lần, tay trái lành, tay phải co gân không duỗi hết được nữa.
Vợ tôi mất từ hồi nó lên chín, nên bốn mươi mốt ngày ấy chỉ có tôi ngồi ghế nhựa ngoài hành lang.
"Bố ơi, mai con về được chưa?"
"Bác sĩ bảo còn thay băng."
"Con nhớ cái lò."
"Con còn nhớ cái lò à?"
"Con nhớ chứ bố."
Tôi ngồi im một lúc, tôi không nói được câu nào.
"Bố ơi bố đừng bỏ lò nhé."
"Bố bỏ chứ. Bố bỏ lâu rồi."
"Bố nói dối con. Bố mà bỏ lò thì con càng có lỗi."
"Con có lỗi gì?"
"Tại con mà bố bỏ nghề."
Tôi phải ra ngoài hành lang đứng một lúc, đứng quay mặt vào tường.
Ngày nó ra viện, tôi đẩy cái thùng dầu cũ ra bờ ao, đổ đi, rửa ba lần.
Rồi tôi mua thùng mới, dầu mới, và từ đấy tôi không nhận mẻ gấp nào nữa.
"Bố, mối bác Tựu giục đấy."
"Bảo bác ấy tuần sau."
"Bác ấy bảo tuần sau người ta gặt xong rồi."
"Thì để người ta gặt bằng liềm cũ."
Con Nhài học may được bốn tháng thì nó bỏ, nó về đứng bễ lại.
"Con học may không được à?"
"Con may được bố ạ. Nhưng con ngồi cả ngày thì tay phải nó buốt."
"Nhài. Con nói dối bố thì bố biết."
"Vâng. Con không thích may bố ạ."
"Con thích cái gì?"
"Con thích lúc thép nó đỏ lên."
Tôi không cho nó cầm búa, tôi chỉ cho nó kéo bễ và cho nó nhìn, vì nghề này ăn nhau ở con mắt.
"Bố ơi, đỏ thế này được chưa?"
"Chưa. Nó còn đỏ tối."
"Thế nào là được?"
"Là lúc nó ngả sang màu quả cam, con nhìn phải hơi nheo mắt. Lúc ấy đánh búa."
"Quá màu cam thì sao bố?"
"Quá thì nó vàng, rồi bắn hoa cà hoa cải. Lúc ấy là thép cháy, rỗ ruột, đánh mấy cũng không liền."
Nó nhớ, tôi bảo một lần là nó nhớ.
Tôi rèn dao rèn liềm theo lối ông nội tôi truyền lại, gọi là hàn thép vào sắt.
Thân dao tôi dùng sắt mềm cắt ra từ nhíp cũ, còn riêng cái lưỡi tôi hàn một dải thép cứng vào.
"Bố ơi, sao không làm cả con bằng thép cho nhanh?"
"Cả con bằng thép thì nó cứng đều, mà cứng đều thì giòn. Chặt phải cái đanh là nó nứt ngang."
"Còn hàn thép vào sắt thì sao?"
"Thì lưỡi cứng, mà lưng mềm. Chặt phải đanh thì lưỡi nó mẻ một miếng, chứ nó không gãy."
"Mẻ với gãy khác nhau à bố?"
"Khác một trời một vực. Mẻ thì con mài lại được, dùng tiếp mười năm. Gãy thì con vứt, mà lúc gãy thì mảnh nó bay."
Cái đường hàn ấy nằm dọc lưỡi, mắt thường nhìn kỹ thì thấy một vệt mờ chạy suốt.
Tôi đóng dấu vào lưng mọi con dao con liềm ra lò nhà tôi, cái dấu hình một cái móng ngựa nhỏ, đóng lúc thép còn nóng.
"Bố đóng cái này làm gì?"
"Để hỏng cái gì người ta mang lại đây, bố sửa không lấy tiền."
"Bố có bao giờ phải sửa chưa?"
"Có. Ba lần trong hai mươi năm."
"Ba lần vì cái gì bố?"
"Hai lần tôi non, một lần tôi già."
Hôm hội mừng lúa mới ấy, cậu Khoản phát hết ba thùng dao, và người ta cầm về vui lắm.
Được mười một ngày thì có chuyện.
Trưa ấy tôi đang đập một thanh phôi thì con Nhài chạy vào lò, chạy mà không kịp thở.
"Bố. Bố ơi. Chú Tựu."
"Chú Tựu làm sao?"
"Chú ấy đứt chân. Máu nhiều lắm bố."
"Đứt bằng cái gì?"
"Con không biết. Người ta khiêng chú ấy về rồi."
Bác Tựu năm ấy sáu mươi mốt, phát bờ ruộng ngoài đồng, phát bằng cái phảng.
Cái phảng ấy là hàng cậu Khoản, bán chứ không tặng, ba trăm hai một cái.
Lưỡi phảng gãy làm đôi khi bác ấy vụt vào một gốc tre, mảnh gãy bay ngược lại, cắm vào bắp chân trên đầu gối.
Người ta buộc ga rô đưa lên bệnh viện tỉnh, khâu hai mươi mốt mũi, đứt một phần gân.
Tối hôm ấy sân kho lại đông, đông hơn cả hôm hội, vì cả xóm kéo ra.
Cậu Khoản đứng ở giữa, đứng cạnh cái bàn sắt hôm nọ.
"Bà con bình tĩnh. Chuyện này để cháu nói cho rõ."
"Cậu nói đi."
"Cái phảng ấy không phải hàng của cháu."
"Sao lại không phải?"
"Bác Tựu mua ở đâu thì cháu không biết. Hàng cháu không gãy như thế được."
Bà Tựu ngồi ở bậc thềm nhà kho, tay còn cầm cái áo dính máu của chồng.
"Cậu nói cái gì thế? Chính tôi cầm tiền tôi ra cửa hàng cậu."
"Bác nhầm rồi bác ạ. Bác có hoá đơn không?"
"Ai mua cái phảng mà lấy hoá đơn."
"Đấy. Bác không có gì chứng minh cả."
Cậu Khoản nói xong thì cầm cái mảnh phảng gãy lên, cầm cái nửa còn dính cán.
"Bà con xem đi. Cái này là hàng rèn tay. Rèn tay nó mới gãy thế này."
"Cậu nhìn ra à?"
"Cháu buôn sắt thép sáu năm, cháu nhìn ra."
"Thế cậu bảo của ai?"
"Cháu không bảo của ai cả. Cháu chỉ nói trong làng này có mỗi một cái lò."
Cả sân kho quay lại nhìn tôi.
Tôi đang đứng ở ngoài rìa, tôi mới đến, tôi còn chưa kịp cởi cái tạp dề da.
"Bác Đường, bác có làm cái phảng nào cho bác Tựu không?"
"Có. Tôi làm cho bác Tựu ba cái. Cái gần nhất là năm ngoái."
"Thì đúng rồi còn gì."
Ông Bỉnh giơ tay lên, ông đứng ra giữa.
"Từ từ. Bác Đường, bác nói cho rành mạch."
"Vâng bác."
"Cái mảnh gãy kia có phải của lò bác không?"
"Cháu chưa cầm. Cháu chưa cầm thì cháu chưa nói."
"Bác cứ cầm đi."
"Cháu xin phép bà Tựu trước ạ."
Bà Tựu gật đầu, và tôi đi tới, tôi cầm cái mảnh gãy lên bằng hai tay.
Tôi lật nghiêng, tôi đưa ra chỗ có đèn, tôi nhìn cái chỗ vừa gãy.
Rồi tôi đặt xuống bàn, đặt nhẹ.
"Bác Bỉnh."
"Gì?"
"Cháu xin nói ba câu. Câu nào cháu chắc thì cháu nói chắc, câu nào cháu nghi thì cháu bảo là cháu nghi."
"Bác nói."
"Câu thứ nhất. Cái này không phải của lò cháu. Cái này cháu chắc."
"Bác lấy gì mà chắc?"
"Cháu nói sau ạ. Câu thứ hai, cái này là thép đồng chất, cứng đều từ lưng ra lưỡi. Cháu cũng chắc."
"Câu thứ ba?"
"Câu thứ ba cháu chỉ nghi thôi. Cháu nghi nó tôi già quá tay. Cái này cháu không dám nói chắc, vì phải nhìn thớ mới biết."
"Thớ là cái gì?"
"Bác cứ cho cháu làm thì bác thấy ạ."
Cậu Khoản cười một tiếng.
"Bác lại định làm trò à bác."
"Cậu Khoản, cậu vừa bảo cái này là hàng rèn tay. Cậu nhìn vào đâu mà cậu bảo thế?"
"Nhìn cái vết búa chứ nhìn vào đâu."
"Vết búa ở chỗ nào cậu chỉ tôi xem."
Cậu ấy cầm mảnh phảng lên, xoay đi xoay lại, xoay khá lâu.
"Đây. Chỗ này."
"Chỗ ấy là vết mài, cậu ạ. Vết mài nó chạy dọc. Vết búa nó là những cái lõm nông, nằm ngang."
"Bác nói thế nào chả được."
"Bác Bỉnh, cháu xin làm ba việc. Cháu nói trước cả ba, rồi cháu mới làm."
Sân kho im dần, người ta đứng dồn vào một vòng.
"Việc thứ nhất. Cháu xin ai đó không phải người nhà cháu, cầm hộ cái mảnh này, lật cái mặt lưng lên tìm hộ cháu một cái dấu."
"Dấu gì?"
"Dấu hình cái móng ngựa. Nhỏ bằng đầu đũa. Của lò cháu con nào cũng có, đóng lúc thép còn nóng nên nó chìm xuống, cạo không mất."
"Ai đi lấy cái đèn."
Anh Rỡ con ông Bỉnh chạy vào nhà lấy cái đèn pin, rồi anh ấy cầm mảnh phảng soi.
"Không có gì cả bác ạ."
"Anh soi kỹ hộ tôi phía trên cán."
"Không có. Trơn."
"Anh soi cái cuốc kia hộ tôi. Cái cuốc dựng ở cột ấy."
Anh Rỡ soi cái cuốc, rồi anh ấy ngẩng lên.
"Cái này có. Có cái móng ngựa."
"Cái cuốc ấy là của lò cháu, cháu làm năm kia."
Ông Bỉnh cầm cả hai thứ lên, ông so, ông so trước mặt mọi người.
"Đúng. Một bên có, một bên không."
Cậu Khoản bước lên một bước.
"Dấu thì mài đi là mất chứ gì."
"Cậu nói phải. Nên cháu mới xin làm việc thứ hai."
"Việc gì?"
"Cháu xin bẻ cái mảnh gãy này. Bẻ nốt ra làm đôi."
"Bác bẻ để phi tang à?"
"Cháu bẻ để bà con nhìn cái ruột nó."
Ông Bỉnh nhíu mày.
"Bẻ ra thì thấy cái gì?"
"Thấy cái mặt gãy, cháu gọi là thớ. Thép tôi khác nhau thì thớ khác nhau."
"Bác nói trước đi. Bác nói trước rồi hẵng bẻ."
"Vâng bác. Cháu nói trước."
Tôi đưa cái mảnh cho ông Bỉnh cầm, tôi không giữ trong tay.
"Cái này bẻ ra, mặt gãy sẽ mịn như nhung, xám trắng, hạt nhỏ tới mức không nhìn ra hạt. Và nó sẽ gãy đứt phựt, không cong tí nào."
"Rồi sao?"
"Rồi cháu xin bẻ một con dao của lò cháu. Con dao ấy bẻ mãi mới gãy, mà mặt gãy hai bên khác nhau."
"Khác thế nào?"
"Phía lưng thì xám tối, hạt thô, sờ ram ráp. Phía lưỡi thì mịn hơn. Vì lưng là sắt, lưỡi mới là thép."
"Bác nói chắc chưa?"
"Cháu chắc ạ. Cháu sai một chữ thì cháu xin đóng cửa lò, không rèn nữa."
Con Nhài nắm lấy khuỷu tay tôi, nắm chặt.
"Bố."
"Con buông ra."
"Bố đừng nói câu ấy bố ơi."
"Bố nói rồi."
"Bác Bỉnh, cháu xin bác cho gọi bác Thoả thợ hàn ngoài chợ."
Con Nhài buông tay tôi ra.
"Bố. Bác Thoả kia mà?"
"Ừ. Bác Thoả."
"Bố gọi ai chả được, sao bố lại gọi bác ấy."
"Vì bác ấy tranh mối với bố. Cả xóm biết."
"Thì đấy, sao bố lại gọi."
"Chính vì thế bố mới gọi con ạ."
Bà con quanh đấy nghe hết, mấy người quay sang nhìn nhau.
Ông Bỉnh cho anh Rỡ chạy đi gọi, và bác Thoả sang, tay còn xách cái kìm.
"Bác Thoả, bác cầm kìm. Bác kẹp bác bẻ. Tôi không cho bác Đường động tay."
"Ừ. Để tôi."
"Bác Đường bác đứng ra xa cho tôi."
"Vâng ạ."
Tôi lùi ra ba bước, tôi đứng khoanh tay, và con Nhài đứng sau lưng tôi.
Bác Thoả kẹp cái mảnh phảng vào ê tô nhà kho, lấy ống tuýp lồng vào, bẩy một cái.
Nó gãy ngay, gãy đánh tách, gãy không kịp cong.
"Ối giời."
"Nó gãy nhanh thế."
Bác Thoả cầm hai nửa lên, đưa ra chỗ đèn, nhìn một lúc lâu, rồi bác ấy quay sang ông Bỉnh.
"Ông Bỉnh."
"Sao?"
"Mịn. Mịn như nhung. Trắng xám. Không thấy hạt."
"Đúng như bác Đường nói à?"
"Đúng từng chữ."
Sân kho ồ lên một cái, rồi im.
"Bác Thoả, bác bẻ hộ cháu con dao này nữa."
Tôi đưa con dao tôi đeo ở thắt lưng, con dao tôi rèn năm ngoái, dùng hằng ngày.
"Con dao của mày à?"
"Của cháu. Bác cứ bẻ."
Bác Thoả kẹp vào ê tô, bẩy một cái không gãy.
"Ơ."
Bác ấy bẩy cái thứ hai, cái thứ ba, và lần thứ ba thì thân dao cong xuống chừng một đốt ngón tay.
"Nó cong này. Nó không gãy."
"Bác bẩy tiếp giúp cháu."
Tới cái thứ năm thì nó mới gãy, gãy mà hai mảnh còn dính nhau một chút.
Bác Thoả bẻ rời ra, soi đèn, rồi bác ấy đưa cho ông Bỉnh.
"Ông xem đi. Hai màu."
"Hai màu thật."
"Trên xám tối, ram ráp. Dưới sát lưỡi thì mịn."
"Có cái vệt ranh giới này là gì hả bác Thoả?"
"Là đường hàn. Chỗ thép ăn vào sắt."
Ông Bỉnh cầm hai thứ, giơ cả hai lên cho cả sân nhìn.
"Bà con lên đây mà sờ. Ai muốn sờ thì lên."
Người ta lên, người ta chuyền tay nhau, hơn hai chục người sờ cái mặt gãy.
"Cái này nhám thật."
"Cái kia nó mịn như miếng sứ ấy."
Bác Thoả đặt hai mảnh xuống bàn, rồi bác ấy nói to.
"Tôi nói câu này rồi tôi về. Tôi hàn ngoài chợ mười tám năm, tôi cắt thép hằng ngày. Cái mảnh gãy kia là thép cứng đều, tôi già, giòn. Nó không phải hàng lò ông Đường."
"Bác chắc chứ ạ?"
"Tôi chắc. Mà tôi với ông Đường có họ hàng gì đâu, tôi còn cạnh tranh với ông ấy mấy cái mối."
Cậu Khoản đứng đấy, cậu ấy chưa nói gì.
Tôi bước lên một bước, và tôi nói vừa đủ nghe.
"Cậu Khoản."
"Gì bác."
"Hôm hội, cậu gõ con dao vào thành bàn, cậu bảo thép tốt nó kêu trong."
"Thì sao?"
"Cậu có nhớ tôi bảo cậu gõ vào giữa lưỡi không?"
"Bác bảo thì bác bảo."
"Cậu không gõ. Hôm ấy tôi tưởng cậu không muốn gõ."
"Thì sao?"
"Bây giờ tôi nghĩ khác. Tôi nghĩ cậu không biết gõ vào đấy để làm gì."
"Bác nói cái gì?"
"Thép tôi già quá tay thì gõ vào giữa lưỡi nó kêu chói, kêu như miếng thuỷ tinh. Người trong nghề nghe là biết."
"Bác đừng dạy tôi."
"Tôi không dạy cậu. Tôi hỏi cậu một câu thôi."
"Bác hỏi."
"Lô phảng ấy cậu lấy của ai?"
Cậu Khoản không đáp ngay, cậu ấy nhìn xuống bàn.
"Tôi lấy hàng qua mối. Tôi đâu có tự làm."
"Cậu lấy qua mối thì cậu có xem hàng không?"
"Xem chứ."
"Cậu xem cái gì?"
"Xem... mẫu mã."
"Vâng. Mẫu mã."
Ông Bỉnh gõ cái ống tuýp vào chân bàn hai cái.
"Chú Khoản."
"Dạ bác."
"Nãy chú bảo cái phảng ấy không phải hàng của chú."
"Cháu..."
"Chú nói to lên cho bà con nghe. Có phải hàng của chú không?"
"Bác Tựu mua ở chỗ cháu. Nhưng lô ấy..."
"Có hay không?"
"Có ạ."
Sân kho im tới mức nghe rõ tiếng con chó sủa ở xóm dưới.
Bà Tựu đứng dậy khỏi bậc thềm, tay vẫn cầm cái áo.
"Cậu bảo tôi nhầm. Cậu bảo tôi không có gì chứng minh."
"Bác ơi cháu..."
"Cậu nói câu ấy trước mặt cả xóm, lúc chồng tôi còn nằm trên tỉnh."
"Cháu xin lỗi bác."
"Cậu xin lỗi tôi làm gì. Cậu xin lỗi cái chân ông ấy ấy."
Cậu Khoản quay sang tôi, cậu ấy quay hẳn người.
"Bác Đường."
"Cậu nói."
"Cháu nói bậy. Cháu xin lỗi bác."
"Cậu nói bậy chỗ nào?"
"Cháu bảo hàng bác là hàng chặt củi."
"Còn gì nữa không cậu?"
Cậu ấy im.
"Câu ấy tôi nghe xong tôi về tôi ngủ được. Còn một câu nữa thì tôi không ngủ được."
"Câu nào ạ."
"Cậu hỏi tôi cho con gái vào lò làm gì."
"Cháu..."
"Cậu quay lại đằng kia mà nói. Đừng nói với tôi."
Con Nhài đứng ở phía sau, nó lùi lại nửa bước.
"Cháu xin lỗi cô."
Nó không đáp.
"Cô ơi, cháu nói không suy nghĩ."
"Anh có suy nghĩ đấy chứ."
"Cháu thật lòng..."
"Anh nghĩ tay tôi thế này thì nhà tôi làm ăn gì cũng dở."
"Không phải."
"Hai tay tôi bỏng vì tôi kéo bố tôi ra khỏi lửa. Anh có biết không?"
Cậu Khoản đứng im.
"Anh không biết thì anh đừng hỏi. Hỏi giữa hội, người ta cười, mà anh cười to nhất."
Không ai nói gì cả, mấy bà đứng gần đấy quay mặt đi.
Con Nhài nói xong thì nó không khóc, nó đứng thẳng, và tôi thấy nó cao hơn mọi hôm.
Ông Bỉnh bảo mọi người về, khuya rồi, mai còn gặt.
Người ta về từng tốp, ra tới ngõ mới nói với nhau.
Tôi ở lại quét cái mảnh vụn trên nền, quét cho hết, kẻo trẻ con dẫm.
Sáng hôm sau tôi lên bệnh viện tỉnh thăm bác Tựu, tôi mang theo một cái phảng mới.
"Ông Đường."
"Bác nằm im, đừng ngồi dậy."
"Tôi ngu quá ông ạ."
"Bác ngu chỗ nào."
"Ông làm cho tôi ba cái phảng, dùng hơn hai chục năm. Thế mà tôi tham ba trăm hai."
"Rẻ thì ai chả ham bác."
"Tôi ham cái mới. Tôi tưởng cái mới thì nó hơn."
"Bác nghĩ thế cũng phải thôi."
"Phải cái gì. Suýt nữa thì tôi mất cái chân."
"Bác cầm cái này. Cháu không ngủ được, cháu ra lò làm đêm qua."
Bác ấy cầm cái phảng, lật cái lưng lên tìm cái dấu móng ngựa.
"Có rồi. Đây rồi."
"Vâng."
"Ông Đường, tôi trả tiền ông."
"Bác cứ để đấy. Bao giờ bác đi lại được thì bác trả."
Về tới nhà thì có ba người đứng đợi ở cổng lò, cầm dao chuôi nhựa đỏ.
"Bác Đường, bác xem hộ cháu cái này."
"Cái này thì tôi không xem được. Tôi không rèn nó, tôi mà chê nó thì thành ra tôi cạnh tranh."
"Thế bác bảo cháu làm sao?"
"Anh mang ra chỗ bác Thoả. Bác ấy nói thì khách quan hơn tôi."
Trưa ấy con Nhài dọn cơm, hai bố con ngồi ở hè.
"Bố ơi."
"Gì con."
"Nếu hôm qua cái mảnh ấy bẻ ra mà nó không mịn thì sao hả bố?"
"Thì bố đóng cửa lò."
"Bố nói thật à?"
"Bố nói trước cả xóm rồi. Nói rồi thì phải làm."
"Sao bố dám nói câu ấy?"
"Vì bố cầm nó rồi. Bố cầm rồi thì bố biết."
"Nhỡ bố nhìn nhầm."
"Bố nhìn nhầm thì bố phải chịu. Nghề này nó thế."
Nó gắp cho tôi miếng cá, gắp bằng tay trái.
"Bố có bao giờ tiếc là bố không bỏ nghề không?"
"Có."
"Lúc nào?"
"Bốn mươi mốt ngày ở cái hành lang bệnh viện."
Nó không nói gì nữa, nó ăn cơm.
Nửa tháng sau, cậu Khoản đóng cửa cái đại lý ngoài thị trấn, dọn đi.
Không phải vì ai đuổi, mà vì trong xóm không còn ai bước vào cửa hàng ấy nữa.
Trước hôm dọn, cậu ấy đi xe máy xuống lò tôi, đứng ngoài cổng, không vào.
"Bác Đường."
"Cậu vào đi."
"Cháu đứng đây thôi ạ."
"Cậu xuống có việc gì?"
"Cháu trả bác cái này."
Cậu ấy đưa cho tôi một cái túi bóng, trong có ba trăm hai chục nghìn.
"Tiền cái phảng của bác Tựu. Cháu lên tỉnh, bác ấy không nhận."
"Bác ấy không nhận thì cậu giữ."
"Cháu không giữ được."
"Cậu mang ra chỗ ông Bỉnh, cậu bỏ vào quỹ khuyến học của làng. Nói rõ là tiền gì."
"Nói rõ ạ?"
"Nói rõ. Chứ cậu bỏ vào lặng lẽ thì nó lại thành chuyện khác."
"Bác Đường, cháu hỏi bác một câu."
"Cậu hỏi."
"Sao hôm ấy bác không nói toạc ra ngay từ đầu là hàng của cháu dởm?"
"Vì lúc ấy tôi chưa cầm."
"Chỉ có thế thôi ạ?"
"Chỉ có thế. Nghi thì tôi không nói. Tôi nói ra mà sai thì cái nghi của tôi đi khắp làng, gỡ không kịp."
"Bác..."
"Với lại tôi cũng chưa chắc lô ấy là cậu biết hay cậu không biết. Cái đó đến giờ tôi vẫn chưa chắc."
"Cháu không biết bác ạ. Cháu thề với bác."
"Thì tôi có bảo cậu biết đâu."
Cậu ấy dắt xe ra, rồi cậu ấy quay lại.
"Cháu xin lỗi cô Nhài."
"Cậu nói với nó rồi mà."
"Cháu nói lại lần nữa."
Con Nhài đứng ở cửa lò, tay còn cầm cái cần bễ, nó gật đầu một cái.
Gật đầu chứ nó không nói, và tôi không bảo nó phải nói.
Từ hôm ấy lò tôi đông khách hơn, đông tới mức tôi phải hẹn người ta sang tuần.
Nhưng tôi mất một thứ.
Từ đêm ấy cả xóm nhớ mặt bác Thoả, và người ta mang đồ tới chỗ bác ấy nhiều hơn.
Ba mối làm cửa sắt trước vẫn qua lò tôi đặt bản lề với chốt, giờ họ làm luôn một thể ở chỗ bác ấy.
Mỗi tháng chừng hơn hai triệu.
"Bố ơi, bác Thoả lấy mất mối nhà mình."
"Bác ấy có lấy đâu con. Người ta tự sang đấy."
"Thì cũng là mất. Bố không tiếc à?"
"Tiếc chứ."
"Thế sao đêm ấy bố lại gọi bác ấy?"
"Vì bố nhờ người trong nhà thì cả làng nó không tin."
"Bố biết trước là sẽ mất mối à?"
"Bố biết."
"Bố biết mà bố vẫn nhờ."
"Bố nhờ. Vì hôm ấy bố cần người ta tin, chứ bố không cần người ta thương."
Con Nhài ngồi im một lúc lâu, rồi nó đứng dậy kéo bễ.
Cuối năm ấy tôi đóng thêm một cái dấu thứ hai, đóng cạnh cái móng ngựa.
Cái dấu ấy là một chữ N.
"Bố đóng chữ gì thế bố?"
"Chữ tên con. Từ nay dao liềm ra lò này thì hai bố con cùng chịu."
"Con có làm gì đâu bố. Con kéo bễ thôi."
"Con kéo bễ thì lửa mới đủ. Lửa không đủ thì thép không chín."
"Bố..."
"Với lại bố già rồi. Bố muốn người ta quen cái chữ ấy trước khi bố nghỉ."
Nó cầm cái dấu, nó xoay đi xoay lại trong tay trái.
"Bố ơi, sau này con có được cầm búa không?"
"Được. Nhưng cầm bằng tay trái. Tay phải đánh búa cả ngày thì gân nó rút."
"Thế con làm được nghề này không hả bố?"
"Cái búa không phải là cái nghề."
"Thế cái gì mới là cái nghề?"
"Cái mắt. Con nhìn ra được thép chín hay thép cháy thì con làm được."
"Con nhìn ra rồi bố ạ."
"Bố biết."
Bây giờ mỗi mẻ tôi ra lò, tôi vẫn đóng hai cái dấu.
Tôi đóng lúc thép còn đỏ, đóng xong thì nhúng.
Người ta hỏi tôi sao không đóng lúc nguội cho dễ, tôi bảo đóng lúc nguội thì nó nổi, mài một cái là mất.
Cái gì mình dám nhận thì phải đóng lúc còn nóng, đóng cho nó ăn vào tận trong ruột.
Sau này ai có bẻ ra, thì cái ruột nó nói hộ mình.


