
Cả phiên chợ bảo mật của tôi pha đường, con gái tôi cúi mặt — tôi xin họ dốc ngược chai lên đếm bọt
"Mật gì mà ngọt như nước đường. Ông đổ mấy cân đường vào một can thế này?"
"Cậu để tôi nói một câu."
"Nói cái gì. Miệng ông thì ông nói kiểu gì chả được."
Cậu ta dốc ngược cái chai lên trước mặt hai chục người đứng vòng quanh gian hàng.
"Bà con nhìn đi. Mật thật nó có chảy tồ tồ như nước lã thế này không?"
Tôi đứng sau cái bàn gỗ kê tạm, tay còn dính sáp, vì sáng nay tôi vừa cắt vít nắp ba cầu.
Đấy là ngày thứ ba của phiên chợ đặc sản mà nhà ông Đài dựng ngoài bãi đất trống cạnh bến xe cũ.
Cậu cầm chai tên Khoát, con trai ông Đài, chừng ba mươi hai, mặc áo sơ mi có thêu tên đại lý ở ngực.
"Chú Khoát, chú đặt chai xuống hộ tôi. Đặt xuống rồi tôi nói."
"Ông run à?"
"Tôi không run. Chai ấy nghiêng thì cặn nó xóc lên, lát tôi khó nói."
"Cặn. Mật ông có cả cặn cơ à?"
"Có chứ chú."
"Nghe chưa bà con? Ông ấy tự nhận."
Có tiếng cười ở phía sau, và tôi thấy con bé Sim đứng nép sau cái thùng xốp, hai tay ôm quyển sổ ghi hàng.
Con bé mười chín, con gái tôi, nghỉ học nghề trên tỉnh về phụ tôi ba tháng nay.
"Bố ơi."
"Con đứng yên đấy."
"Bố, hay mình dọn."
"Chưa dọn được con ạ."
Ông Đài từ trong lều bạt đi ra, tay cầm cái micro nhỏ chạy pin, ông đi chậm, đi kiểu người biết cả bãi đang nhìn mình.
"Chuyện gì thế con?"
"Bố ơi, con vừa mở chai của gian số bảy. Ngọt gắt, không có mùi hoa gì cả."
"Ông Chiển, tôi hỏi ông giữa chợ. Mật ông có pha không?"
"Mật tôi không pha. Tôi nuôi hai trăm hai mươi đàn, tôi quay lấy."
Ông Đài đưa micro ra xa miệng, ông không nói với tôi nữa, ông nói với cả bãi.
"Bà con ạ, chợ này nhà tôi bỏ tiền dựng. Tôi mời bà con về đây mua hàng sạch của người trong vùng."
"Vâng."
"Ba hôm nay đã có bốn người quay lại trả hàng. Bốn chai, cùng một gian."
"Gian nào ạ?"
"Gian số bảy."
Tôi nghe rõ tiếng con bé Sim thở ra sau lưng tôi.
Hai mươi sáu năm tôi đi theo mùa hoa, không có năm nào tôi ngồi yên quá bốn mươi ngày một chỗ.
Tháng chạp tôi ở dưới đồng bằng ăn hoa nhãn, ra giêng lên vùng cao ăn hoa cà phê, tháng tư đổ ra rừng tràm, tháng bảy tám thì lên chỗ có bạch đàn với cỏ lào.
"Bố ơi, sao mình không đi sáng cho dễ nhìn?"
"Ong nó phải về hết tổ mới bịt cửa được. Sáng mình đi thì bỏ lại nửa đàn ngoài đồng."
"Nửa đàn thì sao hả bố?"
"Thì nửa đàn ấy nó bay đến tối, không tìm ra chỗ đứng, rồi nó chết."
"Bố tính cả cái đó à?"
"Bố tính cái đó trước cả tiền xe."
Đêm bốc thùng, tôi bịt cửa tổ bằng lưới, hai người khiêng một thùng, khiêng thật êm, vì xóc mạnh thì cầu ong long ra và bao nhiêu mật đổ hết vào đáy thùng.
Bàn tay tôi hai mươi sáu năm nay mùa nào cũng có chỗ sưng, ong đốt vào mu bàn tay thì tối ngủ nắm không lại được.
Vợ tôi mất năm con Sim lên bảy, từ ấy tôi đi đâu cũng dắt con theo, tới năm con vào cấp hai thì gửi ở nhà bà ngoại.
Sân nhà bà ngoại nó phơi đầy chai không của tôi, mùa này sang mùa khác.
"Bố ơi, con đi với bố."
"Con đi thì học hành thế nào."
"Con đi hè thôi."
"Hè cũng phải ngủ ngoài lều."
"Con ngủ được."
Ba tháng nay con bé về, nó ghi sổ cho tôi, nó ghi đẹp hơn tôi nhiều.
Mỗi chai mật tôi bán ra nó ghi một dòng: ngày, mùa hoa, số can, tên người mua.
"Bố ghi làm gì mà kỹ thế?"
"Để sau này ai hỏi chai này lấy ở đâu, mình chỉ được ra đúng cái can."
"Ai hỏi hả bố?"
"Chưa ai hỏi. Nhưng bố làm nghề này, bố chỉ có mỗi cái tiếng, con ạ."
Ông Đài là chủ đại lý nông sản lớn nhất vùng, kho ông ấy ăn hàng của cả trăm nhà.
Sáu năm nay tôi bán buôn cho kho ông ấy, mỗi vụ chừng hai tấn, giá thấp hơn giá lẻ nhưng được cái gọn.
"Ông Chiển, năm nay ông có bao nhiêu?"
"Tôi có hơn ba tấn ông ạ."
"Đưa cả về kho tôi."
"Tôi để lại tám tạ bán lẻ ông ạ. Giữ mối cũ, có nhà mười mấy năm rồi năm nào cũng lấy của tôi."
"Ông giữ mối làm gì. Kho tôi ăn hết."
"Vâng, nhưng tôi vẫn để tám tạ ông ạ."
Câu ấy tôi nói tháng ba, nói xong tôi cũng chẳng nghĩ gì.
Đến tháng bảy thì ông Đài dựng phiên chợ, ông gọi tôi lên.
"Ông đem hàng ra bày cho vui. Không mất tiền gian."
"Tôi cảm ơn ông."
"Nhưng có một điều."
"Ông cứ nói."
"Hàng bày ở chợ này thì phải qua chỗ tôi vào chai, dán nhãn của chợ. Tôi phải quản được chất lượng."
"Vào chai thì tôi tự vào được ông ạ. Tôi có máy vắt, có phễu lọc."
"Ông vào chai của ông thì bà con biết đường nào mà tin?"
"Bà con lấy của tôi mười mấy năm rồi ông ạ."
"Ông cứng nhỉ."
Cuối cùng tôi chịu, tôi đem hai tạ mật lên, đổ vào bốn can hai mươi lít, để trong lều kho của chợ.
Người của ông Đài vào chai giúp, dán nhãn chợ, xếp lên kệ gian số bảy.
Hôm khai mạc bán được sáu mươi tư chai, con Sim ghi kín hai trang sổ.
Sang ngày thứ hai thì có người trả hàng.
"Bác ơi, chai này cháu mua hôm qua."
"Có chuyện gì hả cháu?"
"Cháu về mở ra ăn, ngọt lợ, không giống mật bác bán cho nhà cháu mọi năm."
"Cháu cho bác xem."
"Bác xem đi."
Tôi mở nắp, tôi ngửi, rồi tôi lấy đầu đũa chấm một giọt.
Trong miệng nó ngọt trơn, ngọt đều từ đầu tới cuối, không có cái gắt hắc ở cuống họng như mật nhãn.
Ngọt như thế thì tôi biết ngay là cái gì, mà tôi chưa nói ra.
"Cháu cầm tiền đi. Bác giữ cái chai này."
Tôi cất cái chai ấy vào thùng xốp, dán một mảnh băng dính, ghi tên người trả và giờ.
Chiều hôm ấy thêm ba người nữa, tôi làm y như thế, bốn chai đứng bốn góc thùng.
Con Sim ngồi ghi, ghi tới chai thứ tư thì tay nó run.
"Bố, hay là can mình để trong lều kho, có ai đó đổ thêm cái gì vào."
"Con nghĩ được thế là con khá rồi."
"Thế mình nói với người ta đi bố."
"Nghĩ thì bố cũng nghĩ như con. Nhưng bố mới nghi. Nghi thì bố không nói."
"Đợi đến bao giờ hả bố?"
"Đợi đến lúc bố cầm được cái sờ vào là biết."
Sáng ngày thứ ba thì thành cái cảnh ngoài bãi, cậu Khoát dốc ngược chai trước mặt hai chục người.
Và ông Đài cầm micro đi ra.
"Ông Chiển, tôi hỏi ông lần nữa. Ông có pha không?"
"Tôi không pha ông ạ."
"Bốn người trả hàng, bốn chai, đều gian ông."
"Vâng, bốn chai đều gian tôi."
"Ông giải thích thế nào?"
"Tôi xin ông một việc."
"Việc gì?"
"Ông cho tôi mở kho chợ, lấy cái can của tôi ra đây."
Cậu Khoát cười một tiếng ngắn.
"Ông định vào kho tôi lục à?"
"Tôi không lục. Tôi xin bà con khiêng can ra, tôi không đụng vào."
"Kho là kho nhà tôi. Ai cho ông ra điều kiện."
"Vâng."
Ông Đài đưa micro lên.
"Bà con ạ, tôi dựng cái chợ này ra không phải để làm khó ai. Nhưng nhà tôi có mấy chục người làm, có kho, có xe, có bạn hàng."
"Vâng."
"Người ta đồn ra ngoài kia là chợ tôi bán mật giả, thì mấy chục người ấy ăn bằng gì?"
"Tôi hiểu ông."
"Ông hiểu thì ông thu dọn gian giúp tôi. Từ mai ông đừng bày nữa."
Tôi nghe câu ấy, tôi gật đầu, tôi bắt đầu xếp chai vào thùng.
Xếp được nửa thùng thì cậu Khoát nói thêm một câu.
"Bố cứ để ông ấy bày. Nhìn con bé kia mà xem, nó đứng bán hàng ba tháng nay, mặt nó rám hết cả."
"Chú nói cái gì?"
"Tôi bảo con bé nhà ông đứng đấy tội nghiệp. Học không xong, về theo bố đi lừa người ta."
Cả bãi im một nhịp.
Con Sim đứng dậy, nó vẫn ôm quyển sổ, mặt nó đỏ lên tới tai.
Ba tháng trước nó gọi cho tôi từ trên tỉnh, gọi lúc mười giờ đêm, gọi xong tôi ngồi ngoài lều tới sáng.
"Bố ơi, con nghỉ học nghề bố nhé."
"Sao lại nghỉ hả con?"
"Con học may, mà xưởng người ta nhận vào làm phải đóng trước bốn triệu."
"Bốn triệu thì bố bán bớt hai chục thùng."
"Bố bán thùng thì sang năm bố lấy gì mà quay."
"..."
"Con về phụ bố một năm. Sang năm mật được giá thì con đi học lại."
"Con nói thế bố nghe khó chịu lắm."
"Bố ơi, con nghĩ kỹ rồi."
Nó về thật, về với một cái ba lô, và ba tháng nay nó chưa đòi tôi mua cái gì.
Có hôm nắng, tôi bảo nó vào bóng râm, nó bảo con ngồi đây khách hỏi mới có người đáp.
"Cháu không lừa ai."
"Cháu ghi sổ cho ai thì cháu là người ấy."
"Cháu ghi cho bố cháu."
"Đấy. Cháu nói rồi đấy."
Tôi đặt cái thùng xốp xuống bàn, đặt nhẹ.
"Chú Khoát."
"Gì?"
"Chú nói tôi thì tôi nghe. Ba hôm nay chú nói gì tôi cũng nghe."
"Rồi sao?"
"Chú vừa nói tới con tôi."
"Thì tôi nói. Sai chỗ nào?"
"Không sai chỗ nào cả. Chỉ có điều bây giờ tôi phải nói."
Ông Đài hạ micro xuống.
"Ông định nói gì?"
"Tôi nói trước, rồi tôi mới chứng minh. Tôi nói sai một chỗ thì tôi bỏ hàng lại đây, tôi đi, không đòi gì."
"Ông nói đi."
"Bốn chai bà con trả về, ruột trong đó không phải mật của tôi."
"Ông bảo có người tráo hàng của ông à?"
"Tôi chưa nói ai tráo. Tôi nói bốn chai ấy không phải mật của tôi."
"Ông lấy gì mà biết?"
"Tôi xin bà con làm hộ tôi mấy việc, không việc nào tôi tự tay làm."
Trong đám đông có bác Hòn, người nuôi ong ở xóm bên, hơn tôi bốn tuổi, nuôi từ hồi còn dùng thùng gỗ đóng tay.
Có cả cô Nhượng bán hàng khô ở dãy đối diện, người bốn năm nay mùa nào cũng lấy của tôi hai chục chai.
"Bác Hòn, bác ra đây giúp cháu."
"Mày cần gì?"
"Bác cầm hộ cháu bốn cái chai. Cháu không sờ vào chai nào cả."
"Rồi."
"Cô Nhượng, cô lấy hộ cháu bốn cái thìa sạch với bốn cái cốc thuỷ tinh trong."
"Có ngay."
Cậu Khoát khoanh tay.
"Bày trò."
"Chú cứ đứng đấy xem. Cháu mời chú xem gần."
Tôi lấy trong thùng ra ba chai mật của tôi, ba chai còn nguyên nhãn chợ, chưa bán.
"Bác Hòn, bác đặt bốn chai trả về sang bên trái. Ba chai này sang bên phải."
Bác Hòn đặt xong, đứng lùi lại.
"Bà con nhìn hộ cháu vào đáy chai. Cả bảy chai."
Có người cúi xuống, có người bê chai lên soi ngược nắng.
"Cháu nói trước. Ba chai bên phải, đáy chai có một lớp lấn cấn màu vàng đục, dày chừng đốt ngón tay út."
"Đúng. Có."
"Bốn chai bên trái, đáy trong veo. Không có lớp ấy."
"Ừ, trong."
"Bà con để ý giúp cháu, cháu chưa động vào chai nào."
Ông Đài bước tới gần bàn.
"Lớp đục ấy là cái gì?"
"Là phấn hoa ông ạ."
"Phấn hoa?"
"Con ong nó về tổ, chân sau nó cắp hai cục phấn. Phấn rơi vào lỗ tổ, quay mật thì phấn theo mật ra."
"Rồi sao?"
"Lọc mấy lần cũng còn hạt mịn. Để yên một tuần nó lắng xuống đáy."
Bác Hòn gật đầu, gật một cái rõ.
"Đúng. Mật quay ra để lâu thì đáy nó có lớp ấy. Mật nào đáy trong veo như nước thì phải hỏi lại."
"Bác nói hộ cháu to lên."
"Tao nói rồi đấy. Cả bãi nghe rồi."
Cậu Khoát xen vào.
"Lọc kỹ thì hết. Ông lọc dối thì ông có cặn, thế thôi."
"Chú nói đúng một nửa."
"Nửa nào?"
"Lọc máy thì hết thật. Nhưng chú nghe cháu hỏi bác Hòn câu nữa."
"Bác Hòn, mật lọc sạch phấn thì để một tháng, mặt trên nó thế nào?"
"Trong. Nhưng ngửi vẫn ra mùa hoa."
"Vâng."
Tôi quay sang cô Nhượng.
"Cô mở hộ cháu một chai bên trái. Cô mở, không phải cháu."
Cô Nhượng vặn nắp, đưa lên mũi.
"Ngọt. Mà không có mùi gì."
"Cô mở tiếp một chai bên phải."
Cô Nhượng mở, ngửi, rồi cô ngẩng lên.
"Cái này thơm. Thơm kiểu ngai ngái."
"Đấy là mùi hoa nhãn cô ạ. Mật nhãn để lâu thì mùi nó ngả sang ngai ngái như thế."
"Ừ, đúng cái mùi mọi năm cô lấy của cháu."
"Cô nói câu ấy hộ cháu một lần nữa được không ạ."
"Được. Cô lấy của cháu bốn năm rồi. Chai bên phải này là mùi mật nhà cháu. Chai bên trái không phải."
Ông Đài đứng im, tay ông ấy vẫn cầm micro mà không đưa lên.
Tôi đi tới cái bàn phụ, chỗ để cái thùng đá tôi mang theo mọi phiên chợ.
"Bác Hòn, bác mở hộ cháu cái thùng này."
Trong thùng có bốn chai mật khác, chai cũ, nhãn giấy tôi tự viết tay, dán từ mùa trước.
"Bốn chai này cháu để trong thùng đá ba hôm nay. Bà con nhìn vào ruột chai."
Bốn chai đều đục, đặc, có chai đã đóng thành một khối vàng mờ như mỡ.
"Ơ, sao nó đông lại thế?"
"Đấy là kết tinh cô ạ. Mật để lạnh thì đường tự nhiên trong mật nó kết thành hạt."
"Hỏng à?"
"Không hỏng. Cô xúc một thìa xem, hạt nó mịn, tan trong miệng."
Cô Nhượng xúc một thìa, đưa lên miệng, gật gật.
"Mịn thật. Tan luôn."
"Bây giờ cháu xin cô cầm một chai bên trái, cô để vào thùng đá này. Lát nữa cô xem."
Cậu Khoát bật cười.
"Ông định bắt cả chợ đứng đợi ông ướp lạnh chai mật?"
"Chú Khoát, cháu chưa xong. Cháu còn một việc, việc này xong ngay."
Tôi rút trong túi áo ra một mẩu sáp bằng hai đốt ngón tay, sáp vít nắp tôi cắt sáng nay, còn mềm.
"Bà con xem cái này. Đây là sáp con ong nó vít miệng lỗ tổ lại."
"Nó vít làm gì?"
"Khi nào mật trong lỗ đủ đặc, ong nó mới vít. Chưa đủ đặc thì nó còn quạt cánh cho bay hơi nước."
"Con ong nó biết đủ hay chưa đủ à?"
"Nó biết trước cả người, bác ạ."
Tôi bẻ đôi mẩu sáp, đưa cho bác Hòn một nửa.
"Bác Hòn, người trong nghề gọi cái tôi vừa nói là gì ạ?"
"Là vít nắp. Đủ vít nắp thì mới quay. Quay non thì mật loãng, để mấy tháng là chua."
"Cháu quay non bao giờ chưa bác?"
"Mày mà quay non thì tao chửi mày từ đời nào rồi."
Có tiếng cười, lần này cười khác lúc nãy.
Tôi cầm một chai bên phải, dốc ngược, giữ nguyên.
"Bà con đếm hộ cháu. Bọt khí ở đáy chai đi lên tới cổ chai, mất mấy nhịp."
Có người đếm to, đếm tới bảy thì bọt mới lên tới cổ.
"Bây giờ chú Khoát dốc ngược hộ cháu một chai bên trái. Chú dốc, không phải cháu."
Cậu Khoát cầm chai, dốc.
Bọt khí chạy lên gần như không kịp đếm.
Cả bãi im.
"Chú Khoát, chú đếm được mấy nhịp?"
"..."
"Chú đếm đi. Bà con đứng đây nghe."
"Hai."
"Vâng. Hai."
Ông Đài đặt cái micro xuống bàn, đặt hẳn xuống.
"Ông Chiển, ông nói thẳng ra đi."
"Ông cho tôi hỏi ông một câu trước."
"Ông hỏi."
"Hai tạ mật của tôi, tôi đổ vào bốn can hai mươi lít, tôi giao vào kho chợ hôm hai mươi ba. Bốn can ấy giờ ở đâu ạ?"
"Trong kho."
"Ông cho bà con khiêng ra đây được không ạ?"
"Khoát, đi lấy."
"Bố..."
"Tao bảo mày đi lấy."
Cậu Khoát đứng yên chừng ba giây, rồi cậu ta đi.
Cậu ta đi vào lều kho, một lúc lâu mới ra, ra tay không.
"Bố ơi, can của ông ấy hết rồi. Bán hết rồi."
"Hết là thế nào? Ông ấy bày có hai hôm."
"Con... con không nhớ."
Bác Hòn bỏ chai xuống bàn.
"Cậu Khoát, cậu vừa bảo hết. Cậu bán được bao nhiêu chai mà hết?"
"Tôi không tính."
Con Sim từ nãy vẫn đứng, đến lúc ấy nó mở quyển sổ ra.
"Bác ơi, cháu ghi hết ạ. Mỗi chai bán ra cháu ghi một dòng."
"Cháu ghi được bao nhiêu?"
"Hôm khai mạc sáu mươi tư chai. Hôm qua ba mươi mốt chai. Cộng chín mươi lăm chai."
"Chai này nửa lít, thế là bao nhiêu lít hả cháu?"
"Bốn mươi bảy lít rưỡi ạ."
Bác Hòn quay lại phía cậu Khoát.
"Bốn can là tám mươi lít. Bán ra bốn mươi bảy rưỡi. Vậy còn hơn ba chục lít nằm đâu mà cậu bảo hết?"
"..."
Ông Đài quay sang nhìn con trai.
"Khoát."
"Bố cứ nghe ông ấy nói."
"Tao hỏi mày. Ba chục lít để đâu?"
Cô Nhượng cầm quyển sổ, giơ lên cho người đứng sau xem.
"Chữ con bé đẹp thật. Ghi cả tên người mua."
"Cô ơi, cô xem hộ cháu trang cuối."
Trang cuối con bé ghi bốn dòng riêng, bốn chai trả về, có tên, có giờ.
"Bác Hòn, cháu xin bác một việc cuối."
"Nói."
"Bác vào lều kho, bác nhìn hộ cháu dưới gầm kệ. Cháu không vào."
"Tao nhìn cái gì?"
"Bác nhìn xem có cái can hai mươi lít nào của cháu không. Can cháu có buộc dây dù đỏ ở quai, cháu buộc để phân biệt với can nhà khác."
Bác Hòn đi vào, ba người trong bãi đi theo, cậu Khoát không đi.
Một lúc sau bốn người khiêng ra ba cái can, quai can nào cũng có một khúc dây dù đỏ.
"Ba can. Còn gần đầy."
"Bác mở hộ cháu một can."
Bác Hòn vặn nắp, cúi xuống ngửi.
Rồi bác ngẩng lên, bác không nói với tôi, bác nói với ông Đài.
"Ông Đài, ông ra ngửi cái này đi."
Ông Đài đi tới, ông cúi xuống, ông đứng thẳng lên rất chậm.
"Thơm."
"Ngai ngái phải không ông?"
"Phải."
"Đấy là mật nhãn. Mật này còn nguyên trong can. Vậy cái ông bán ngoài kệ là cái gì?"
Cả bãi quay hết về phía cậu Khoát.
Cậu ta lùi lại nửa bước, lưng chạm vào cái cột lều.
"Bố. Con giải thích."
"Mày nói."
"Con... con thấy hàng ông ấy đặc quá, chảy chậm, khách chê là mật đông cứng không múc được."
"Rồi sao?"
"Con pha loãng ra cho dễ bán."
"Pha bằng cái gì?"
"..."
"Tao hỏi mày pha bằng cái gì."
"Nước đường nấu với ít mật."
Có một tiếng gì đó chạy qua cả bãi, không phải tiếng ồ, mà là tiếng người ta hít vào.
"Chú Khoát."
"..."
"Chú vừa nói chú pha loãng cho dễ bán."
"Tôi nói rồi đấy."
"Chú pha bao nhiêu chai?"
"Tôi không nhớ."
"Chú nhớ chứ. Chín mươi lăm chai bán ra thì có bao nhiêu chai chú pha?"
Ông Đài xoay người lại, mặt ông tái đi.
"Nó pha bao nhiêu thì tôi đền bấy nhiêu. Ông Chiển, ông cứ nói con số."
"Ông ạ, tiền thì tôi không nói bây giờ."
"Ông muốn gì?"
"Tôi muốn ông cầm cái micro lên."
Ông Đài đứng im.
"Ông cầm micro lên, ông nói lại cho chín mươi lăm người mua hàng của tôi hôm qua và hôm kia nghe."
"..."
"Ba hôm nay ông nói vào micro ba lần rằng gian số bảy có vấn đề. Bà con đứng đây nghe cả ba lần."
"Tôi nghe."
"Tôi xin ông nói vào cái micro ấy đúng một lần."
Ông Đài cầm cái micro lên, bật, tiếng rít nhỏ chạy qua bãi.
Ông đứng thế một lúc lâu, lâu tới mức có người quay đi chỗ khác.
"Bà con ơi."
"..."
"Ba hôm nay tôi nói mật gian số bảy có vấn đề."
"..."
"Tôi nói sai. Mật của ông Chiển không pha gì cả."
"..."
"Người pha là con trai tôi. Nó pha trong kho nhà tôi."
Cái micro trong tay ông ấy hạ xuống, rồi ông ấy đưa lên lại.
"Ai mua chai nào của gian số bảy hai hôm nay thì đem sang lều tôi. Tôi trả tiền gấp đôi."
Bác Hòn quay sang cậu Khoát.
"Cậu Khoát, cậu đứng đây nghe bố cậu nói chưa đủ. Cậu phải nói một câu."
"Tôi nói gì?"
"Lúc nãy cậu nói con bé kia học không xong, về theo bố đi lừa người ta. Cả bãi này nghe."
"..."
"Cậu nói câu ấy trước mặt hai chục người thì cậu xin lỗi nó trước mặt hai chục người."
Cậu Khoát nhìn xuống đất.
Con Sim vẫn ôm quyển sổ, nó không nhìn cậu ta, nó nhìn tôi.
"Cháu... tôi xin lỗi cháu."
"Cháu nghe rồi ạ."
"Tôi nói bậy."
"Vâng."
Con bé chỉ nói có thế, rồi nó cúi xuống ghi thêm một dòng vào sổ.
Sau đó bãi chợ vãn dần, người ta đi từng tốp, ra tới đường mới nói với nhau.
Cô Nhượng lôi cái chai trong thùng đá ra, chai đã đứng đấy hơn tiếng đồng hồ.
"Cháu ơi, chai này nó vẫn trong veo. Không đóng hạt gì cả."
"Vâng cô."
"Mật thật thì phải đóng hạt à?"
"Mật nào cũng có ngày đóng hạt cô ạ, sớm hay muộn thôi. Cái chai này thì nó không đóng."
"Sao nó không đóng?"
"Vì trong đấy phần lớn là nước đường nấu, cô ạ. Đường nấu nó không đóng hạt kiểu ấy."
Cô Nhượng đặt cái chai xuống bàn, đặt mạnh hơn cần thiết.
Ông Đài ở lại sau cùng, ông ngồi xuống cái ghế nhựa cạnh gian tôi.
"Ông Chiển."
"Vâng."
"Sáu năm ông bán cho kho tôi, tôi chưa lần nào trả hàng ông."
"Vâng, chưa lần nào."
"Vậy mà ba hôm nay tôi tin thằng con tôi hơn tin ông."
"Nó là con ông mà."
"Ông đừng nói câu ấy."
"Ông có bốn người mang chai trả về, ông có kho, có mấy chục người làm. Ông nghi tôi thì cũng có lý của ông."
"Có lý cái gì."
"Cái sai của ông không phải ở chỗ ông nghi tôi."
"Thế ở chỗ nào?"
"Ở chỗ ông cầm micro nói trước khi ông mở can ra ngửi."
Ông Đài ngồi im, hai tay ông chống lên đầu gối.
"Mai ông cứ bày. Gian số bảy tôi để trống cho ông cả tuần."
"Tôi không bày nữa ông ạ."
"Ông giận tôi."
"Tôi không giận. Tôi chỉ không bán ở đây được nữa."
"Sao lại không được?"
"Vì mật của tôi phải vào chai ở chỗ tôi đứng nhìn. Ba hôm nay tôi để người khác vào chai hộ, thành ra thế này."
Ông Đài gật đầu, gật rất chậm.
"Còn chỗ hai tấn tôi ăn của ông mỗi vụ?"
"Vụ này ông cứ ăn như cũ. Nhưng tôi xin phép ông một điều."
"Điều gì?"
"Từ vụ sau tôi rút xuống một tấn. Tấn còn lại tôi bán lẻ."
"Ông cắt của tôi một nửa."
"Vâng."
"Vì thằng Khoát à?"
"Không ông ạ. Vì tôi tính sai một chỗ, và tôi tính sai từ tháng ba."
"Sai chỗ nào?"
"Tôi tưởng bán buôn cho gọn thì đỡ mệt. Hoá ra bán gọn thì cái tiếng của mình nằm trong tay người khác."
Tối ấy tôi với con Sim dọn lều, chất thùng lên xe, buộc dây.
Ba cái can quai dây đỏ còn lại, tôi khiêng lên trước.
"Bố ơi."
"Gì con?"
"Mình mất bốn mươi bảy lít rưỡi."
"Ừ."
"Ông Đài đền rồi mà."
"Ông ấy đền tiền. Tiền thì đền được."
"Còn cái gì không đền được hả bố?"
"Chín mươi lăm cái nhà đã mở chai mật ấy ra ăn, con ạ."
"Nhưng bố ơi, ông Đài đã nói vào micro rồi."
"Người đứng ở bãi thì nghe được. Người mua xong về nhà thì có nghe đâu."
"Vậy mình làm sao hả bố?"
"Con còn quyển sổ, con ghi tên với chỗ ở của người mua."
"Con ghi được tám mươi mốt người bố ạ. Mười bốn người con không kịp hỏi."
"Thế thì tuần sau bố với con đi tám mươi mốt nhà."
"Đi làm gì hả bố?"
"Đổi chai. Nhà nào cầm chai ấy thì mình đổi cho họ chai mới, mật trong can nhà mình."
"Đi tám mươi mốt nhà thì mình lỡ mùa hoa cỏ lào rồi bố."
"Ừ, lỡ."
"Lỡ mùa ấy thì đàn nó đói."
"Đói thì mình cho ăn thêm. Tốn hơn, nhưng ong nó không chết."
Con bé ngồi im một lúc trên thùng xe.
"Bố ơi, sao bố không nói ngay từ hôm đầu?"
"Nói gì hả con?"
"Nói là có người tráo mật của mình."
"Hôm đầu bố chỉ nghi thôi."
"Nghi thì cũng nói được chứ bố."
"Con ạ, nghi mà nói ra thì bố với chú Khoát khác gì nhau."
"..."
"Chú ấy cũng chỉ nghi bố thôi. Rồi chú ấy cầm chai lên dốc ngược giữa chợ."
Con bé không nói nữa, nó buộc nốt cái dây cuối.
Xe chạy lúc mười một giờ đêm, chạy đêm cho ong khỏi xóc nắng.
Mười ngày sau tôi với con đi hết tám mươi mốt nhà, có nhà đổi, có nhà bảo thôi bác ạ cháu ăn hết rồi.
Ở cuối một cái xóm ven đê, bà cụ chủ nhà giữ chặt cái chai cũ không cho tôi đổi.
"Chai này không phải mật nhà cháu bác ạ."
"Tôi biết. Hôm ấy tôi đứng ở bãi, tôi nghe hết."
"Vậy bác giữ làm gì?"
"Tôi giữ để lúc nào có đứa nào ngoài chợ nó nói ai một câu, tôi mang ra tôi kể."
Tôi để bà cụ giữ cái chai ấy.
Vụ sau tôi rút xuống một tấn giao kho, đúng như tôi đã nói với ông Đài.
Một tấn còn lại tôi vào chai ngay tại lều, con Sim dán nhãn viết tay, có ghi mùa hoa và tháng quay.
Bán chậm hơn, đi xa hơn, tiền về ít hơn chừng một phần tư.
"Bố ơi, mình lỗ so với năm ngoái."
"Ừ, lỗ."
"Bố có tiếc không?"
"Bố tiếc chứ."
"Thế sao bố vẫn làm?"
"Con còn nhớ hôm ở bãi, cô Nhượng ngửi chai của mình rồi cô bảo đúng cái mùi mọi năm cô lấy không?"
"Con nhớ."
"Cô ấy nói được câu ấy vì bốn năm nay năm nào cô ấy cũng cầm chai của nhà mình."
"Vâng."
"Nếu bốn năm ấy bố đổ hết vào kho người ta, thì hôm ở bãi không ai đứng ra nói hộ bố một câu."
Con bé ghi cái gì đó vào sổ, ghi xong nó gấp lại.
"Bố ơi, con ghi thêm một cột."
"Cột gì?"
"Cột mùi. Mỗi chai bán ra con ghi mùa hoa với cái mùi của nó."
"Ghi thế thì mệt lắm con."
"Mệt thì mệt. Nhưng sau này ai cầm chai nhà mình lên, con nói trước được mùi của nó."
Tôi ngồi nhìn con bé viết cái đầu cột, viết chậm, viết đẹp.
Nghề này người ta hay bảo con ong làm ra mật, mà kỳ thực con ong chỉ làm ra một thứ.
Nó lấy mật hoa về, quạt cánh cho bay hết nước, rồi tới lúc đủ đặc nó mới lấy sáp vít lỗ lại.
Nó vít vào cái nó chắc, và nó không vít vào cái nó chưa chắc.
Người làm nghề tử tế thì cũng chỉ có mỗi cái ấy để học.


