Halab
Giữa phiên toà ông luật sư hỏi tôi là ai mà ngồi đấy khoát tay mấy cái cũng được xếp ngang với người tham gia tố tụng
Truyện

Giữa phiên toà ông luật sư hỏi tôi là ai mà ngồi đấy khoát tay mấy cái cũng được xếp ngang với người tham gia tố tụng

· 19 phút đọc · Halab

"Thưa toà, tôi xin hỏi cô này là ai. Cô ngồi đấy khoát tay mấy cái mà cũng được xếp ngang với người tham gia tố tụng à?"

Tôi đang dịch dở. Tay tôi dừng giữa chừng.

Người điếc thì nhìn tay, không nhìn miệng. Ông Sâm ngồi cách tôi hai mét, mắt bám vào hai bàn tay tôi, chờ.

Tôi hạ tay xuống, quay sang chủ toạ.

"Thưa toà, tôi có được dịch câu vừa rồi cho ông Sâm không ạ?"

Cả phòng xử im.

Ông chủ toạ nhìn tôi, rồi nhìn ông luật sư.

"Chị dịch đi."

"Vâng ạ."

Tôi quay lại, và tôi dịch. Dịch đủ.

Tôi thấy ông Sâm chớp mắt hai cái. Ông ấy sáu mươi ba tuổi, điếc bẩm sinh, làm nghề đóng giày ba mươi năm, mười bảy năm nay ngồi ở một cái ki-ốt trong ngõ.

Ông ấy giơ tay lên. Tôi gật.

Ông ấy ký. Tôi đọc thành lời.

"Nguyên đơn có ý kiến: ông ấy hỏi tôi có phải người của toà không."

"Chị trả lời ông ấy đi." Chủ toạ nói.

"Vâng."

Tôi ký lại cho ông Sâm: tôi do toà trưng cầu.

Ông ấy gật một cái rất chậm. Rồi ông ấy ký thêm một câu nữa.

"Nguyên đơn nói: thế thì cô dịch cho tôi câu ông kia vừa nói lần nữa."

"Ông ấy muốn nghe lại ạ?"

"Nguyên đơn nói: tôi muốn nhớ."

Tôi tên Hoà, hai mươi chín tuổi, làm phiên dịch ngôn ngữ ký hiệu được bảy năm.

Nghề này ở ta chưa có mã ngành riêng. Tôi không có biên chế ở đâu cả. Ai gọi thì tôi đi: bệnh viện, uỷ ban, công an phường, có hôm là đám ma.

Buổi tối tôi dạy một lớp ký hiệu ở nhà văn hoá phường, mười bốn học viên, phần lớn là bố mẹ có con điếc. Học phí tôi lấy tám mươi nghìn một buổi cho cả lớp, chia ra mỗi người chưa tới sáu nghìn.

Tôi kể mấy cái đó ra vì lát nữa ông luật sư kia sẽ nói tới nó, và ông ấy sẽ nói không sai.

Mẹ tôi điếc. Bố tôi nghe được.

Tôi biết ký hiệu trước khi tôi biết nói. Cái này thì không phải tôi chọn.

Hồi bé tôi hay phải đi theo mẹ. Đi khám bệnh, đi họp tổ dân phố, đi lên phường xin cái giấy.

Năm tôi tám tuổi, tôi đứng ở quầy thuốc dịch cho mẹ.

"Cháu bảo mẹ cháu là uống ngày ba lần sau ăn."

"Vâng."

"Mà cháu bao nhiêu tuổi?"

"Cháu tám ạ."

"Tám tuổi mà biết mấy cái này à?"

"Vâng."

"Giỏi nhỉ."

Người ta hay khen tôi giỏi. Tôi nhớ hồi ấy tôi thích được khen.

Đến năm mười lăm tuổi thì tôi hết thích.

Năm ấy mẹ tôi đi khám. Bác sĩ nói một câu, tôi phải dịch cho mẹ.

Tôi dịch xong thì mẹ tôi ngồi im rất lâu.

Về nhà mẹ ký cho tôi.

"Con dịch có đúng không?"

"Đúng ạ."

"Con có bớt đi câu nào không?"

"Không mẹ ạ."

"Con nói thật đi."

"Con có bớt một câu."

"Câu gì?"

Tôi không ký được. Tôi ngồi khóc.

Mẹ tôi cầm hai tay tôi ra, đặt xuống đùi tôi, rồi mẹ ký:

"Từ nay con đừng bớt của mẹ câu nào."

"Vâng."

"Con bớt là con quyết định hộ mẹ. Con không có quyền ấy."

Câu tôi bớt hôm ấy, mãi sau này tôi mới kể lại được cho mẹ.

Bác sĩ nói: khối này phải mổ, nhưng ở tuổi này với thể trạng này thì tỷ lệ không cao, gia đình cân nhắc.

Tôi dịch cho mẹ: bác sĩ bảo phải mổ.

Tôi bỏ nửa sau.

Tôi bỏ vì tôi mười lăm tuổi và tôi sợ. Tôi nghĩ mẹ nghe xong thì mẹ sẽ không mổ nữa.

Mẹ tôi mổ. Mẹ sống thêm được bảy năm.

Có lần mẹ ký cho tôi:

"Nếu hôm ấy con dịch đủ, mẹ vẫn mổ."

"Sao mẹ biết?"

"Vì mẹ có hai đứa con."

"Thế thì con bỏ câu ấy cũng không sao ạ."

"Có sao."

"Sao ạ?"

"Vì bảy năm nay mẹ vẫn không biết hôm ấy người ta nói gì về mẹ."

Mẹ tôi mất năm tôi hai mươi hai.

Bảy năm nay tôi đi dịch, và tôi chưa bớt của ai câu nào.

Vụ này tôi được toà mời từ tháng trước.

Đầu phiên, chủ toạ giải thích cho tôi quyền và nghĩa vụ của người phiên dịch, rồi bảo tôi cam đoan. Tôi đứng dậy, nói đúng chữ trong luật: tôi cam đoan dịch trung thực, khách quan, đúng nghĩa.

Thư ký ghi vào biên bản. Lúc ấy tôi chưa biết ba tiếng sau tôi sẽ phải trả giá cho đúng hai chữ "đúng nghĩa".

Người gọi là chị thư ký. Chị ấy gọi lúc tôi đang ở chợ.

"Chị Hoà phải không ạ?"

"Vâng."

"Bên toà em muốn mời chị làm phiên dịch một vụ."

"Vụ gì ạ?"

"Dân sự, đòi nợ. Nguyên đơn là người điếc."

"Vâng. Chị cho em hỏi mấy câu được không ạ?"

"Chị hỏi."

"Bác ấy điếc bẩm sinh hay điếc sau?"

"Ơ… cái này em không rõ."

"Bác ấy có đi học trường chuyên biệt không ạ?"

"Em cũng không rõ."

"Bác ấy quê ở đâu ạ?"

"Chị hỏi mấy cái này làm gì?"

"Tại ký hiệu mỗi vùng một khác chị ạ. Người học trường thì ký khác người tự học ở nhà. Em phải biết trước để em gặp bác ấy một buổi."

"Gặp trước á?"

"Vâng. Không phải để bàn nội dung. Chỉ để em quen tay bác ấy."

"Cái này em chưa gặp bao giờ."

"Vâng, tại người ta hay nghĩ ký hiệu là một thứ tiếng chung."

Tôi gặp ông Sâm trước phiên một buổi, ở cái ki-ốt đóng giày trong ngõ.

Ông ấy ký chậm, tay to, ngón trỏ bên phải cụt một đốt.

"Ngón tay bác làm sao thế ạ?"

"Máy khâu đế. Năm chín tám."

"Cháu hỏi lại cho chắc: bác ký chữ 'sáu' bằng tay này thì cháu nhìn có thể nhầm sang chữ khác."

"Thì cô cứ hỏi lại."

"Vâng. Hôm ra toà bác thấy cháu hỏi đi hỏi lại thì bác đừng sốt ruột nhé."

"Cô cứ hỏi. Tôi thích người hỏi lại."

"Sao ạ?"

"Tại người không hỏi lại là người không định nghe."

Ông Sâm đóng giày trong ngõ, có một khách quen là ông Điền, chủ một xưởng nhỏ. Ông Điền mượn ông Sâm bốn trăm triệu, viết giấy tay, hẹn sáu tháng. Ba năm không trả.

Bốn trăm triệu ấy là tiền ông Sâm bán mảnh đất hương hoả dưới quê.

Hôm gặp ở ki-ốt, tôi có hỏi ông ấy một câu mà đáng lẽ tôi không nên hỏi.

"Bác ơi, sao bác lại cho ông ấy vay nhiều thế ạ?"

"Cô hỏi thật hay cô hỏi cho câu chuyện?"

"Cháu hỏi thật."

"Ông ấy là khách quen mười một năm."

"Mười một năm thì cũng chưa đủ để đưa bốn trăm triệu bác ạ."

"Đủ."

"Sao lại đủ ạ?"

"Tại trong mười một năm ấy, ông ấy là người duy nhất vào ki-ốt tôi mà không viết ra giấy."

"Bác nói lại cháu chưa hiểu."

"Người ta vào chỗ tôi, người ta rút giấy bút ra viết: sửa cái này, bao nhiêu tiền, bao giờ lấy."

"Vâng."

"Ông Điền thì không. Ông ấy đứng đối diện tôi, nói chậm, để tôi nhìn miệng. Nói mãi rồi tôi cũng đoán ra."

"Vâng."

"Mười một năm, ngày nào ông ấy cũng chịu khó đứng đối diện tôi."

Ông ấy ký chậm lại.

"Cô biết cái đó với tôi nó là cái gì không?"

"Dạ."

"Nó là người ta coi mình là người."

Tôi không ký lại được câu nào.

"Thế nên lúc ông ấy hỏi vay, tôi bán đất."

"Chị Hoà."

"Dạ."

"Chị làm nghề này bao lâu rồi?" Ông luật sư hỏi. Ông ấy đứng, tay chống lên tập hồ sơ.

"Bảy năm ạ."

"Chị có bằng cấp gì về phiên dịch không?"

"Tôi có chứng chỉ do một tổ chức của người điếc cấp."

"Tổ chức nào?"

"Chi hội người điếc thành phố ạ."

"Không phải trường đại học."

"Không phải ạ."

"Vậy là chị không có bằng."

"Tôi không có bằng đại học về phiên dịch."

"Chị có biết ngôn ngữ ký hiệu ở nước ta chưa có bộ chuẩn quốc gia hoàn chỉnh không?"

"Tôi biết ạ."

"Nghĩa là mỗi vùng ký một kiểu."

"Có khác nhau ở một số từ ạ."

"Thế thì làm sao toà tin được chị dịch đúng?"

Tôi im một nhịp.

"Thưa toà, tôi xin trả lời."

"Chị trả lời."

"Tôi không đề nghị toà tin tôi. Tôi đề nghị toà kiểm tra tôi."

Ông luật sư quay hẳn người lại.

"Chị nói lại xem."

"Toà có quyền cho người khác kiểm chứng bản dịch của tôi. Tôi sẵn sàng."

"Ai kiểm chứng?"

"Chi hội có người. Chị Nhàn, mười bốn năm nghề — tên đầy đủ tôi xin ghi ra giấy nộp toà. Bên trung tâm giáo dục trẻ điếc cũng có người."

"Chị mời họ à?"

"Không. Toà mời. Tôi không có quyền mời ai vào đây cả."

Ông ấy nhìn tôi mấy giây. Rồi ông ấy đổi hướng.

"Chị Hoà, chị sống bằng nghề gì?"

"Bằng nghề này ạ."

"Chỉ nghề này thôi?"

"Tôi có dạy thêm buổi tối."

"Thu nhập một tháng của chị khoảng bao nhiêu?"

"Thưa toà, câu này có liên quan đến vụ án không ạ?"

"Rất liên quan. Tôi đang làm rõ chị có phụ thuộc vào ai không."

"Ông hỏi đi." Chủ toạ nói.

"Tháng nhiều thì bảy tám triệu. Tháng ít thì hai ba triệu."

"Hai ba triệu."

"Vâng."

"Ở thành phố này."

"Vâng."

"Chị có chồng con gì chưa?"

"Chưa ạ."

"Chị ở đâu?"

"Tôi thuê phòng."

"Bao nhiêu một tháng?"

"Hai triệu hai."

Ông ấy gật gù, quay xuống phía dưới, nói to hơn một chút.

"Thưa toà, tôi chỉ muốn hội đồng thấy rõ: một người thu nhập bấp bênh như vậy thì rất dễ chịu tác động."

Tôi đứng im. Ông Sâm nhìn tay tôi. Tôi vẫn phải dịch, nên tôi dịch.

Ông Sâm đọc xong thì mặt ông ấy đỏ lên. Ông ấy giơ tay.

"Thưa toà, nguyên đơn xin có ý kiến."

"Ông ấy nói đi."

"Nguyên đơn nói: ông luật sư vừa bảo cô ấy nghèo nên dễ mua."

"Tôi không nói thế!"

"Nguyên đơn nói: tôi cũng nghèo. Ông có định nói tôi cũng dễ mua không?"

Ông luật sư quay sang tôi.

"Chị dịch sai ý tôi rồi."

"Tôi dịch nguyên văn câu ông vừa nói ạ."

"Tôi nói là 'dễ chịu tác động'."

"Vâng. Và tôi đã ký đúng cụm 'dễ chịu tác động'. Bác Sâm hiểu nó thành 'dễ mua'."

"Vậy là chị dịch không chuẩn."

"Thưa toà, tôi xin trình bày một câu về nghề."

"Chị trình bày."

"Ký hiệu không có nhiều từ mềm như tiếng Việt. Tiếng Việt nói vòng được, ký hiệu thì phải ký ra cái việc. Ông luật sư nói vòng, nhưng cái việc bên trong thì chỉ có một."

Chủ toạ ghi vào sổ.

"Thưa toà, tôi thấy việc này rất mất thời gian."

"Ông ngồi xuống." Chủ toạ nói.

Nghỉ giữa giờ, tôi ra hành lang.

Ông Sâm đi theo. Ông ký cho tôi.

"Cô mệt không?"

"Tôi không mệt."

"Cô có sợ không?"

"Bác hỏi thế nghĩa là bác đang sợ."

Ông ấy cười. Răng ông ấy thiếu hai cái hàm dưới.

"Tôi sợ. Tôi sợ nhất cái đoạn người ta nói mà tôi không biết người ta nói gì."

"Cháu dịch hết mà bác."

"Tôi biết. Nhưng lúc cô dừng tay, tôi vẫn sợ."

Tôi đứng im.

"Cô Hoà này."

"Dạ."

"Lúc nãy cô dừng tay mấy giây."

"Vâng, cháu có dừng."

"Vì sao?"

"Vì cháu phải hỏi toà xem có được dịch câu đó không."

"Sao lại phải hỏi?"

"Vì đấy là câu nói về cháu, không phải nói với bác. Cháu không được tự ý thêm."

Ông ấy nhìn tôi lâu.

"Cô có thể lờ đi mà."

"Cháu có thể."

"Sao cô không lờ?"

Tôi ký chậm, vì câu này khó ký.

"Vì mẹ cháu cũng điếc. Và có một lần cháu đã lờ đi một câu."

Vào lại phòng xử, đến phần công bố bản tự khai và biên bản lấy lời khai của đương sự.

Thư ký đọc. Tôi dịch theo.

Đọc được một đoạn thì tôi thấy ông Sâm nhíu mày. Ông ấy giơ tay.

"Thưa toà, nguyên đơn có ý kiến ạ."

"Chị dịch."

"Nguyên đơn nói: cái này tôi không nói."

Chủ toạ ngẩng lên.

"Ông ấy nói ông ấy không khai như thế à?"

"Vâng ạ. Nguyên đơn nói: tôi không nói câu 'hai bên thoả thuận miệng là khi nào có thì trả'."

"Nguyên đơn khai thế nào?"

Ông Sâm ký. Tôi dịch.

"Nguyên đơn nói: tôi nói là hẹn sáu tháng. Trong giấy cũng ghi sáu tháng."

Ông luật sư đứng dậy ngay.

"Thưa toà, lời khai này đã có chữ ký điểm chỉ của nguyên đơn. Nguyên đơn đã xác nhận."

"Đúng là có điểm chỉ ạ." Tôi nói. "Nhưng tôi xin hỏi một câu."

"Chị hỏi."

"Buổi lấy lời khai hôm ấy, ai là người phiên dịch ạ?"

Phòng xử im.

Thư ký lật hồ sơ. Chủ toạ cũng lật.

"Trong biên bản ghi… có người phiên dịch là anh Nguyễn Văn Doanh."

"Thưa toà, tôi xin hỏi tiếp: anh Doanh là ai ạ?"

Ông luật sư nói nhanh.

"Là người biết ký hiệu, được mời hỗ trợ."

"Anh ấy có quan hệ gì với bị đơn không ạ?"

Ông luật sư không trả lời ngay.

Ông Điền — bị đơn — ngồi ở hàng ghế bên kia, cúi xuống.

"Tôi hỏi thân chủ của ông." Chủ toạ nói. "Ông Điền, anh Doanh là ai?"

Ông Điền đứng lên.

"Dạ… là cháu tôi ạ."

"Cháu ruột?"

"Con ông anh tôi."

Cả phòng có tiếng người hít vào.

Tôi đứng ở chỗ của tôi, hai tay để xuôi, vì lúc này tôi không có gì để dịch.

Chủ toạ đặt bút xuống.

"Chị Hoà."

"Dạ."

"Chị biết chuyện này từ bao giờ?"

"Thưa toà, tôi biết từ lúc thư ký đọc tên ạ."

"Chị biết anh Doanh?"

"Tôi không biết mặt. Nhưng tôi biết tên."

"Vì sao?"

"Vì trong nghề này ở thành phố, người dịch được ở mức làm việc với cơ quan tố tụng chỉ có mấy người. Tôi biết hết. Không có ai tên Doanh."

"Nghĩa là sao?"

"Nghĩa là anh ấy biết ký hiệu ở mức nói chuyện trong nhà. Cái đó khác với dịch lời khai ạ."

"Khác thế nào?"

"Thưa toà, ký hiệu trong nhà thì hai người tự hiểu nhau là được. Còn dịch lời khai thì phải dịch đúng từng chữ, kể cả những chữ mình thấy vô lý."

"Chị nói tiếp đi."

"Ví dụ hôm nay bác Sâm nói 'sáu tháng'. Người trong nhà có thể dịch thành 'khi nào có thì trả', vì họ nghĩ ý bác ấy là thế, và họ nghĩ như thế cho êm chuyện."

"Chị cho là anh Doanh cố tình?"

"Thưa toà, tôi không cho là gì cả. Tôi không được phép suy đoán. Tôi chỉ nói cái tôi biết chắc: hôm nay bác Sâm khai khác biên bản, và người dịch hôm ấy là cháu ruột bị đơn."

"Thưa toà, tôi xin bổ sung một điều nữa. Ngón trỏ phải bác Sâm cụt một đốt. Bác ký chữ 'sáu' thì người không quen tay bác rất dễ nhìn ra chữ khác. Tôi mất một buổi ngồi ở ki-ốt mới quen. Người dịch hôm ấy có ngồi với bác một buổi nào không, tôi không biết."

Ông luật sư đứng lên lần nữa.

"Thưa toà, việc mời người thân làm phiên dịch cho người khuyết tật nghe nói là được phép."

"Được phép ạ." Tôi nói. "Nhưng người thân của bên kia thì không, thưa toà."

Chủ toạ gõ bút xuống bàn.

"Người phiên dịch là người thân thích của đương sự thì phải từ chối tham gia tố tụng. Chỗ này luật ghi rõ, ông ạ."

Ông ấy quay sang tôi.

"Chị là phiên dịch. Chị không phải luật sư."

"Vâng, tôi không phải luật sư."

"Chị không có quyền phát biểu về giá trị pháp lý của biên bản."

"Vâng."

"Thế chị đứng đây làm gì?"

"Tôi đứng đây để dịch."

"Vậy chị dịch đi, đừng nói."

"Vâng."

Tôi quay sang ông Sâm.

Và tôi dịch. Tôi dịch nguyên cả đoạn ông luật sư vừa nói với tôi, không bớt chữ nào.

Ông Sâm nhìn hết. Rồi ông ấy giơ tay xin nói.

Chủ toạ gật.

"Nguyên đơn nói: tôi xin hỏi ông luật sư một câu."

"Ông ấy hỏi đi."

"Nguyên đơn hỏi: hôm lên toà lấy lời khai, sao không ai hỏi tôi câu nào bằng tay như cô này?"

Ông luật sư không đáp.

"Nguyên đơn nói tiếp: hôm ấy tôi ngồi ba tiếng. Cháu ông Điền nói với người ta, rồi quay sang bảo tôi ký vào đây bác. Tôi hỏi ký cái gì. Nó bảo bác cứ ký."

"Ông ấy có đọc biên bản không?" Chủ toạ hỏi.

"Nguyên đơn nói: tôi có đọc. Tôi đọc được chữ."

"Ông ấy đọc mà vẫn ký?"

Ông Sâm ký một hồi dài. Tôi dịch, và tôi phải dừng một nhịp giữa chừng.

"Nguyên đơn nói: ba tiếng đồng hồ trong phòng ấy, không ai nói với tôi câu nào. Người ta nói với nhau. Tôi ngồi nhìn miệng người ta. Đến lúc người ta đẩy tờ giấy sang, tôi nghĩ là tôi hiểu sai chỗ nào thì cũng chẳng ai giải thích cho tôi."

Ông ấy ký tiếp.

"Nguyên đơn nói: nên tôi ký. Tôi ký để được về."

Phòng xử im rất lâu.

Toà hội ý. Rồi toà quyết định tạm ngừng phiên toà. Lý do ghi trong quyết định: biên bản lấy lời khai có sự tham gia phiên dịch của anh Doanh không bảo đảm khách quan, cần lấy lại lời khai với người phiên dịch do toà trưng cầu.

Tôi thu dọn đồ. Tôi có mỗi cái túi vải với chai nước.

Ra đến hành lang thì ông luật sư đứng đấy, đang hút thuốc dở ở chỗ có biển cấm hút thuốc.

"Chị Hoà."

"Dạ."

"Tôi hỏi chị câu này ngoài phiên toà."

"Vâng."

"Chị được trả bao nhiêu cho buổi hôm nay?"

"Toà trưng cầu thì ngân sách chi, theo mức nhà nước quy định. Tôi chưa nhận."

"Bao nhiêu?"

"Ba trăm sáu mươi nghìn ạ."

"Ba trăm sáu."

"Vâng. Tôi nhớ, vì tôi sống bằng nó."

Ông ấy gật gù.

"Chị biết một buổi như hôm nay tôi được trả bao nhiêu không?"

"Không ạ."

"Nhiều hơn chị rất nhiều."

"Vâng, cháu tin."

"Thế mà chị vẫn làm cái việc chị vừa làm."

"Việc cháu vừa làm là dịch ạ."

"Chị đừng đùa với tôi."

"Cháu không đùa."

Ông ấy dí điếu thuốc vào cái gạt tàn trên miệng thùng rác.

"Chị có biết chị vừa làm hỏng một vụ không?"

"Cháu không làm hỏng gì cả. Cháu dịch đúng."

"Chị làm mất ba tháng của tôi."

"Vâng."

"Chị không thấy áy náy à?"

Tôi nghĩ một lúc.

"Chú ạ."

"Gì?"

"Cháu chỉ áy náy đúng một lần trong đời, và đấy là lần cháu dịch thiếu."

Ông ấy nhìn tôi. Rồi ông ấy xách cặp đi.

Đi được mấy bước ông ấy quay lại.

"Chị Hoà."

"Dạ."

"Cái đoạn chị dịch lại nguyên câu tôi mắng chị cho ông ấy xem."

"Vâng."

"Chị làm thế để làm gì?"

"Để bác ấy biết trong phòng đó đang xảy ra chuyện gì ạ."

"Chị biết là ông ấy nghe xong thì ông ấy nhìn tôi bằng con mắt khác không?"

"Cháu biết."

"Chị cố ý."

"Không ạ. Cháu không cố ý. Cháu chỉ không được phép bỏ."

"Chị lại nói cái câu ấy."

"Tại nó là cái duy nhất cháu có."

Tối hôm ấy tôi gọi cho chị Nhàn. Chị ấy làm nghề này mười bốn năm, hơn tôi bảy năm.

"Chị ơi em hỏi cái này."

"Ừ."

"Hôm nay em có làm quá không chị?"

"Mày làm gì?"

"Em dịch lại nguyên câu ông luật sư mắng em, cho bác Sâm xem."

Chị ấy im một lúc.

"Mày thấy tay mày có run không?"

"Có ạ."

"Lúc nào?"

"Lúc em ký chữ 'khoát tay'."

"Ừ. Thế là mày còn tỉnh."

"Chị nói rõ hơn được không ạ?"

"Đứa nào dịch cái câu chửi chính nó mà tay không run thì đứa ấy đang trả thù, không phải đang dịch."

"Vâng."

"Còn mày run mà mày vẫn ký đủ thì mày làm đúng."

"Chị ơi."

"Gì?"

"Em vẫn thấy khó chịu."

"Khó chịu là phải. Nghề mình có được sướng bao giờ đâu."

Ba tuần sau, toà lấy lại lời khai.

Lần này toà trưng cầu tôi. Buổi lấy lời khai kéo hai tiếng mười phút, có ghi hình.

Thư ký toà là một anh trẻ. Anh ấy hỏi tôi trước khi bắt đầu.

"Chị ơi, tôi hỏi thật, tôi phải nói thế nào cho phải?"

"Anh cứ nói bình thường."

"Tôi nói với bác ấy hay tôi nói với chị?"

"Anh nói với bác ấy. Anh nhìn bác ấy. Cháu ngồi cạnh, cháu dịch."

"Tôi cứ nhìn chị thì lại thành nói chuyện với chị à?"

"Vâng. Người ta hay quên cái đó lắm."

"Vâng, tôi nhớ rồi."

Buổi ấy anh ta nhìn ông Sâm suốt hai tiếng mười phút.

Đến câu cuối, ông Sâm ký một câu, và anh cán bộ quay sang tôi.

"Bác ấy nói gì thế chị?"

"Bác ấy nói: hôm nay là lần đầu tiên có người nhìn vào mặt tôi mà hỏi."

Anh ta ngồi im, tay vẫn để trên bàn phím.

Trước hôm xử lại, ông Điền có tìm đến ki-ốt.

Chuyện này ông Sâm kể lại cho tôi qua chị Nhàn, sau khi mọi việc xong.

Ông ấy đứng đối diện ông Sâm, đúng cái kiểu ông ấy vẫn đứng mười một năm.

Ông Sâm ký cho tôi hôm gặp lại:

"Ông ấy nói chậm lắm, để tôi nhìn miệng."

"Ông ấy nói gì hả bác?"

"Ông ấy bảo bác bỏ qua đi, tôi khó khăn thật."

"Rồi bác trả lời sao ạ?"

"Tôi viết ra giấy."

"Bác viết à?"

"Ừ. Lần đầu tiên trong mười một năm tôi viết ra giấy cho ông ấy."

"Bác viết gì ạ?"

"Tôi viết: ông đứng đối diện tôi mười một năm, tôi cảm ơn ông. Nhưng hôm ông bảo thằng cháu ông dịch cho tôi ký, ông đã quay lưng rồi."

Tôi ký lại hỏi ông ấy một câu.

"Bác có tiếc mảnh đất không ạ?"

"Tiếc chứ."

"Bác có tiếc mười một năm không?"

Ông ấy nghĩ lâu.

"Không."

"Sao lại không ạ?"

"Tại mười một năm ấy có thật. Cái thật thì không mất."

Vụ ấy sau xử lại. Ông Điền phải trả. Có lãi chậm trả theo luật.

Tôi không dự phiên sau, vì hôm ấy toà trưng cầu một người khác — chị Nhàn, người tôi từng nhắc với toà là có thể kiểm chứng bản dịch của tôi.

Người ta làm thế là đúng. Một vụ mà dùng mãi một phiên dịch thì cũng không hay.

Chị Nhàn gọi cho tôi sau phiên.

"Hoà ơi xong rồi nhé."

"Vâng."

"Bác Sâm gửi lời."

"Bác ấy nói gì hả chị?"

"Bác ấy bảo hôm nay cô Hoà không đến, nhưng tôi vẫn nhìn thấy cô ấy."

"Bác ấy nói thế thật ạ?"

"Ừ. Rồi bác ấy chỉ vào cái chỗ mày hay ngồi."

Tôi vẫn dạy lớp ký hiệu ở nhà văn hoá phường. Vẫn tám mươi nghìn một buổi cho cả lớp.

Học viên bây giờ mười chín người, đông hơn hồi trước năm người.

Có một buổi, một chị mới đến, ngồi cuối lớp. Con chị ấy hai tuổi, vừa phát hiện điếc.

Hết buổi chị ấy ở lại.

"Cô ơi, học bao lâu thì nói chuyện được với con em?"

"Nói chuyện thường thì vài tháng chị ạ."

"Còn nói chuyện sâu?"

"Sâu thì lâu."

"Bao lâu?"

"Em học từ bé, giờ em vẫn còn phải học."

Chị ấy ngồi xuống ghế.

"Cô ơi em hỏi cái này hơi dở."

"Chị hỏi đi."

"Sau này lớn lên, con em nó có oán em không?"

"Sao chị lại hỏi thế?"

"Tại em sợ em không hiểu hết nó. Em sợ em toàn đoán."

Tôi ngồi xuống cạnh chị ấy.

"Chị đừng đoán."

"Vâng."

"Nó nói gì thì chị nhận đúng cái đó. Nó nói câu khó nghe thì chị cũng nhận đúng câu khó nghe."

"Khó nhỉ."

"Khó ạ. Nhưng mà chị này."

"Dạ."

"Cái mà người điếc sợ nhất không phải là không có ai hiểu."

"Thế là gì cô?"

"Là có người hiểu, rồi người ấy sửa lại cho gọn."

Chị ấy nhìn tôi.

"Em không hiểu ạ."

"Rồi chị sẽ hiểu."

Tối thứ ba tuần sau chị ấy lại đến. Chị ấy mang theo đứa bé.

Con bé hai tuổi, ngồi trong lòng mẹ, mắt nó bám vào tay tôi từ đầu buổi tới cuối buổi.

Tôi ký chậm lại cho nó nhìn.

Chia sẻ:FacebookXThreadsTelegram

Đọc tiếp

Bài anh ấy đăng tố tôi hỏi như hỏi cung lúc con anh ấy co giật được hơn bốn mươi nghìn lượt thích, còn tôi thì ngồi mong anh ấy làm đơn kiện mình
Truyện

Bài anh ấy đăng tố tôi hỏi như hỏi cung lúc con anh ấy co giật được hơn bốn mươi nghìn lượt thích, còn tôi thì ngồi mong anh ấy làm đơn kiện mình

Tôi tên Duyên, ba mươi tư tuổi, điều dưỡng, trực tổng đài cấp cứu chín năm. Chỗ tôi ngồi rộng bằng một cái bàn: hai màn hình, một tai nghe, một micro cần, một quyển sổ, một chai nước. Ca đêm từ bảy giờ tối đến bảy giờ sáng, đêm nhiều thì hơn hai trăm cuộc. Một giờ bốn mươi bảy phút sáng ngày mười chín tháng tư, một người bố gọi vào, con anh ấy mười bốn tháng đang co giật trên tay anh ấy. Anh ấy quát tôi hỏi lắm. Tôi vẫn hỏi. Hai hôm sau tôi đọc bài anh ấy viết về mình trên mạng, phía dưới là mấy nghìn lời chửi. Tôi không cãi một câu nào. Tôi chỉ chờ một thứ, và cái thứ tôi chờ là thứ mà chồng tôi bảo tôi điên mới chờ.

· 20 phút đọc
Giỗ bố xong, bảy anh em ngồi chia lịch nuôi mẹ mỗi nhà hai tháng, con dâu cả bảo đã ghi ra giấy dán ở tủ lạnh
Truyện

Giỗ bố xong, bảy anh em ngồi chia lịch nuôi mẹ mỗi nhà hai tháng, con dâu cả bảo đã ghi ra giấy dán ở tủ lạnh

Tôi tên Thẩm, sáu mươi chín tuổi. Chồng tôi mất năm chín mốt, ngã xe đạp thồ ở dốc, nằm viện mười một ngày rồi đi. Năm ấy tôi ba mươi tư, con lớn mười lăm, con út một tuổi rưỡi còn đang bú. Mười tám năm tôi làm hàng xáo, dậy từ hai giờ sáng, gánh gạo bảy cây ra chợ huyện. Mười bảy năm nay tôi bóc hạt điều thuê, dầu vỏ điều ăn vào đầu ngón tay đen lại không rửa ra. Bảy đứa con tôi đều học hết cấp ba, đứa nào giờ cũng có việc, không đứa nào đói. Hôm giỗ bố chúng nó năm thứ ba mươi lăm, ăn cỗ xong bảy anh em ngồi lại giữa nhà, bàn nhau tôi ở nhà đứa nào tháng nào. Hôm ấy cả nhà đều nghĩ họ biết vì sao tôi không đồng ý. Không một ai đúng.

· 22 phút đọc
Hôm trường đón bằng chuẩn quốc gia, vợ anh tôi bảo tôi ra cổng trông xe vì đứng trong hội trường người ta lại tưởng thợ
Truyện

Hôm trường đón bằng chuẩn quốc gia, vợ anh tôi bảo tôi ra cổng trông xe vì đứng trong hội trường người ta lại tưởng thợ

Tôi tên Trạm, năm mươi bảy tuổi, làm lò gạch từ năm mười bốn tuổi đến giờ là bốn mươi ba năm, hiện ở tổ xếp goòng. Mu bàn tay tôi có ba vệt sẹo bỏng, lòng bàn tay thì mất vân ở phần gò. Tôi học đến lớp tám thì nghỉ, xuống bãi sông làm lò, mỗi tháng gánh mười hai cân gạo đi hai mươi tám cây lên tỉnh cho anh tôi học sư phạm. Anh tôi giờ là hiệu trưởng trường cấp hai của xã. Hôm trường đón bằng công nhận đạt chuẩn quốc gia, tôi mang bốn cân cam đến, và chị dâu tôi bảo tôi ra cổng đứng với mấy anh trông xe cho đỡ chán. Hơn trăm người trong hội trường hôm ấy đều nghĩ họ hiểu vì sao tôi đi ra. Không một ai đúng.

· 26 phút đọc