
Cậu ta vứt bộ máy đồng hồ lên mặt tủ kính của tôi rồi bảo cả phố nghe rằng ông thợ vỉa hè này vừa tráo đồ của một bà cụ tám mươi mốt tuổi
"Ông ngồi cái tủ kính vỉa hè mà ông dám đụng vào hàng của người ta à?"
"Cậu nói cái đồng hồ nào?"
"Cái đồng hồ vàng mặt trắng bà cụ gửi ông. Bộ máy trong đấy bị tráo rồi."
"Cậu mở ra rồi à?"
"Tôi mở. Tôi làm nghề này, tôi nhìn phát biết."
Tôi tên Ứng, sáu mươi tư tuổi, sửa đồng hồ ở góc phố này bốn mươi năm.
Cái tủ kính của tôi rộng bằng hai cánh cửa, trên mặt tủ có tấm nỉ xanh và cái kính lúp kẹp mắt.
Cậu đứng trước mặt tôi tên Trúc, hai mươi tám tuổi, con ông chủ tiệm đồng hồ lớn ngoài mặt phố kia.
"Bà cụ nào hả cậu?"
"Bà cụ tóc bạc, đi cái xe đạp cũ. Bà ấy vừa mang sang tiệm tôi kêu đồng hồ chạy sai."
"Bà Lượt."
"Ông còn nhớ tên."
"Tôi nhớ."
"Thế thì ông cũng nhớ ông đã làm gì với cái máy bên trong."
"Tôi thay một cái chân kính vỡ."
"Ông thay chân kính mà cả bộ máy đổi luôn à?"
"Cậu bảo bộ máy đổi là đổi thế nào?"
"Bộ máy nguyên bản của nó là máy cũ, đúng đời. Bây giờ trong đấy là một cái máy khác, hàng thường, giá bằng một phần mười."
Tôi để cái nhíp xuống tấm nỉ.
Lúc ấy là chín giờ sáng, vỉa hè đang đông, hàng nước bên cạnh có bốn năm người ngồi.
"Bà cụ đâu?"
"Ngồi ngoài tiệm tôi. Bà ấy khóc từ nãy."
"Bà ấy khóc thì cậu để bà ấy ngồi đấy à?"
"Chứ tôi làm gì? Tôi bảo bà ấy sự thật thôi."
"Sự thật gì?"
"Rằng cái đồng hồ chồng bà ấy để lại giờ chỉ còn cái vỏ."
Tôi đứng lên khỏi cái ghế gỗ.
Bốn mươi năm tôi ngồi cái ghế ấy, một ngày đứng lên chừng ba bốn lần, phần lớn là để lấy đồ trên nóc tủ.
"Cậu đưa bà ấy sang đây."
"Ông định nói vòng vo cho bà cụ mềm lòng chứ gì."
"Tôi định hỏi bà ấy một câu."
"Câu gì?"
"Câu mà cậu chưa hỏi."
Cậu ấy không đi.
Cậu ấy rút điện thoại ra, gọi ai đó, nói ngắn, rồi cất vào túi.
"Bố tôi sang bây giờ. Ông nói với bố tôi."
"Vâng."
"Ông ngồi cái chỗ này bao lâu rồi?"
"Trước tiệm nhà cậu tám năm."
"Thì tám năm ngồi hè vẫn là ngồi hè."
Hàng nước bên cạnh có tiếng cười.
Bà Lượt sang lúc gần mười giờ, dắt cái xe đạp bên cạnh.
Bà ấy tám mươi mốt tuổi, ở trong ngõ sau lưng tôi, một mình, chồng mất mười chín năm rồi.
"Bác Ứng ơi."
"Bà ngồi xuống đã."
"Bác ơi có phải bác..."
"Bà ngồi xuống cái ghế này."
Bà ấy ngồi xuống, hai tay đặt lên đùi, mấy ngón tay run.
Cậu Trúc đứng chống nạnh cạnh cái tủ kính của tôi.
"Bà nói cho ông ấy nghe bà đã trả bao nhiêu."
"Tôi trả bác Ứng ba trăm."
"Ba trăm. Rồi trong ruột nó là cái máy hai trăm nghìn."
"Bà Lượt, cái đồng hồ ấy, từ lúc ông nhà mất đến hôm bà mang sang tôi, bà có đưa cho ai mở ra chưa?"
Bà ấy nghĩ một lúc.
"Có bác ạ. Tôi mang ra tiệm ngoài phố hai lần."
Cậu Trúc quay phắt lại.
"Bà mang ra tiệm nào?"
"Tiệm nhà cậu."
"Không có chuyện đấy."
"Có mà cậu. Lần đầu cách đây bốn năm, lần sau năm ngoái."
"Bà nhầm rồi. Bà già rồi bà nhớ lộn tiệm."
"Tôi nhớ cái cửa kính có dán con hươu."
Cậu ấy im mất một nhịp.
Ngoài mặt phố kia, cửa kính tiệm nhà cậu ấy có dán một con hươu bằng giấy bóng, dán từ lâu, góc dưới đã bong.
"Bốn năm trước tôi còn đi học."
"Vâng, cậu đi học. Nhưng tiệm cậu vẫn mở."
"Ông đừng có lái sang nhà tôi."
"Tôi không lái. Tôi hỏi bà cụ, bà cụ trả lời."
Ông Bái, bố cậu Trúc, sang đến nơi lúc ấy, người to, đi giày da, tay cầm một cái hộp nhựa trong.
Trong hộp là cái đồng hồ mặt trắng của bà Lượt, đã tháo rời, vỏ một bên, bộ máy nằm trên miếng bọt biển.
"Chào bác Ứng. Việc này để tôi nói cho gọn."
"Vâng."
"Bà cụ mang sang chỗ tôi, kêu đồng hồ chạy nhanh. Cháu nó mở ra, thấy máy không đúng đời. Thế thôi."
"Rồi sao ạ?"
"Cái máy nguyên bản bây giờ ngoài thị trường bảy triệu. Bác trả bà cụ bảy triệu là xong."
Bà Lượt ngẩng lên.
"Ông ơi, tôi không đòi tiền ai cả."
"Bà cứ để chúng tôi làm việc."
"Tôi chỉ muốn biết cái đồng hồ nhà tôi nó thế nào thôi."
"Đấy, bà cụ muốn biết. Bác Ứng, bác nói đi."
Cậu Trúc giật cái hộp trong tay bố, đặt xuống mặt tủ của tôi, đẩy sang, cái hộp trượt trên kính kêu một tiếng.
"Ông nhìn đi. Ông nhìn cho kỹ."
Tôi lau tay vào cái khăn vắt ở thành ghế, rồi tôi mới mở nắp hộp.
"Cậu tháo máy ra khỏi vỏ trước mặt bà cụ hay tháo trong buồng?"
"Trong buồng. Ngoài quầy bụi."
"Vâng."
Tôi kẹp cái kính lúp vào mắt phải.
Chuyện bên trong một cái đồng hồ thì thế này.
Bộ máy bắt vào vỏ bằng mấy con vít nhỏ bằng hạt vừng, đầu vít có một cái rãnh, muốn vặn thì phải có tua vít đúng cỡ.
Người dùng lưỡi hơi hẹp thì đầu vít toác ra một góc, như cái miệng cười lệch.
Người vặn quen tay thì vết nằm chính giữa, gọn, không tràn ra mép.
Cái vết ấy không xoá đi được, vì nó là kim loại bị miết.
Bốn mươi năm tôi nhìn vết vít nhiều hơn là tôi nhìn mặt người.
"Ông soi đến trưa thì cái máy nó cũng vẫn là máy giả."
"Cậu vặn vít bằng tua vít cỡ mấy?"
"Ông hỏi cái đó làm gì?"
"Tôi hỏi thôi."
"Một tám. Cả tiệm tôi dùng một tám."
"Vâng. Tôi ghi nhận là cậu nói một tám."
Ông Bái nhíu mày nhìn con.
"Trúc, mày nói ít thôi."
"Bố cứ để con."
Tôi soi bốn con vít bắt máy, rồi lật nghiêng bộ máy soi vào mặt lưng nó.
"Bà Lượt, hồi ông nhà còn sống, ông ấy có tháo đồng hồ ra lúc ngủ không?"
"Không bác ạ. Ông ấy đeo cả lúc ngủ, ông ấy bảo tháo ra là quên."
"Vâng."
Cậu Trúc bật cười.
"Ông hỏi chuyện ngủ nghê để làm gì? Đây là chuyện bộ máy."
"Chính là chuyện bộ máy."
"Ông nói cho ra nhẽ đi."
"Chưa đến lúc."
Ông Bái đặt tay lên mặt tủ kính của tôi, năm ngón xoè ra.
"Bác Ứng, nghề này bây giờ nó khác rồi. Giấy tờ, hoá đơn linh kiện, máy đo sai số."
"Tôi không có mấy cái đó thật."
"Thế thì bác lấy gì bác cãi cháu nó?"
"Tôi có bốn mươi năm."
Cậu Trúc lại cười.
"Bốn mươi năm ngồi hè. Bà cụ đây tin ông, ông lấy của bà cụ cái máy đúng đời rồi ông nhét vào cái máy chợ."
Bà Lượt cúi đầu xuống, hai tay bà ấy nắm lấy nhau.
"Bác Ứng ơi, thôi bác ạ. Tôi không hỏi nữa, cái đồng hồ ấy hỏng thì thôi."
"Bà không được nói câu ấy."
"Tôi già rồi bác ạ, tôi không muốn phiền ai. Người ta nói bác vì cái đồng hồ nhà tôi."
"Người ta nói tôi thì kệ người ta."
"Tôi ngồi ngoài tiệm ông kia từ tám giờ, người ra người vào người ta nhìn tôi."
Tôi ngẩng lên nhìn cậu Trúc.
"Cậu để bà cụ ngồi ngoài quầy từ tám giờ, cậu không mời bà ấy vào trong à?"
"Trong là chỗ làm việc."
"Vâng."
"Ông lại vâng."
"Tôi vâng vì tôi đang nhớ. Bà cụ này ngày trước bán rau ở đầu ngõ, bà ấy bán cho nhà cậu mười mấy năm."
Ông Bái quay sang nhìn bà Lượt, và mặt ông ấy đổi một chút.
"Bà là bà Lượt bán rau?"
"Vâng ông. Ngày trước tôi hay để phần cho bà nhà ông mớ rau muống buổi sớm."
Ông Bái không nói gì.
Cậu Trúc thì không biết chuyện ấy, cậu ấy vẫn đứng chống nạnh.
"Bố, cái đấy có liên quan gì đâu."
"Mày im."
"Con đang làm đúng mà."
"Tao bảo mày im."
Tôi gấp cái kính lúp lại, đặt xuống tấm nỉ.
"Ông Bái, tôi trả lời được rồi. Nhưng ông cho tôi hỏi cậu nhà ba câu, ông đừng ngắt."
"Bác hỏi."
"Cậu Trúc."
"Ông hỏi đi."
"Câu thứ nhất. Trước sáng nay, bộ máy này lần gần nhất được mở ra là hôm nào?"
"Là cái hôm ông mở, tuần trước. Bà cụ mang thẳng từ chỗ ông sang chỗ tôi."
"Vâng. Ghi nhận."
"Câu thứ hai. Cả tiệm cậu dùng tua vít cỡ một tám?"
"Cả tiệm. Bố tôi mua một bộ chung."
"Ông Bái, đúng không ạ?"
"Đúng. Tôi mua bộ ấy năm kia."
Tôi đẩy cái kính lúp về phía cậu Trúc.
"Câu thứ ba. Cậu soi hộ tôi bốn con vít bắt máy, đếm xem có mấy kiểu vết trên đầu vít."
"Soi thì soi."
Cậu ấy kẹp kính lúp vào mắt, cúi xuống, soi một lúc.
"Thì vết vặn chứ mấy kiểu."
"Cậu đếm đi."
"..."
"Có mấy kiểu?"
"Hai."
"Cậu nói to lên."
"Hai kiểu."
Hàng nước bên cạnh im tiếng.
"Kiểu thứ nhất thế nào?"
"Vết nằm giữa, gọn."
"Kiểu thứ hai?"
"Vết toác ra một bên, đầu vít mẻ một góc. Do lưỡi tua vít hẹp hơn cái rãnh."
"Hẹp hơn thì là cỡ mấy?"
"Một tư. Hoặc một sáu."
"Chứ không phải một tám."
Cậu ấy bỏ cái kính lúp xuống.
"Ông định nói gì?"
"Tôi chưa nói gì cả. Cậu vừa nói đấy chứ."
Ông Bái bước lại gần, cầm cái kính lúp lên, tự soi.
Ông ấy soi lâu hơn con ông ấy.
"Bốn con vít này có hai người vặn. Người thứ hai dùng lưỡi hẹp, và vặn sau, vì vết mới đè lên vết cũ."
"Ông là thợ, ông nhìn ra."
"Tôi nhìn ra."
Tôi kéo ngăn kéo trên cùng, lấy cái hộp gỗ dẹt, mở nắp, trong có mười một cây tua vít cắm theo hàng.
"Cây một tư của tôi, ông cầm lên xem cái lưỡi."
Ông Bái cầm lên, xoay ra ánh sáng.
"Lưỡi cùn. Cùn tù cả rồi."
"Cùn từ năm ngoái, tôi để đấy cạy mấy cái nắp pin."
"Cùn thế này thì nó không toác được đầu vít."
"Không toác được. Nó trượt."
Cậu Trúc bước lại.
"Ông tráo cây tua vít thì sao? Ai biết được."
"Cậu nói đúng. Cây tua vít thì tôi tráo được."
"Đấy."
"Nên tôi không nói bằng cây tua vít."
Tôi đặt tay lên bộ máy trong hộp nhựa, xoay nó lại một góc.
"Ông Bái, ông soi hộ tôi vào chỗ này. Chỗ mép cầu bánh xe, phía dưới."
Ông ấy cúi xuống.
"Bụi."
"Vâng, bụi."
"Bụi bám thành một lớp mỏng, có vệt."
"Ông thấy mấy lớp?"
Ông ấy soi lâu, xoay nghiêng cho ăn sáng.
"Hai lớp. Lớp dưới sẫm, bám chặt. Lớp trên xám, mới, phủ lên."
"Lớp dưới bám bao lâu thì thành như thế?"
"Cái đó phải mấy năm."
"Vâng. Thế tôi hỏi ông câu cuối."
"Bác hỏi."
"Một cái máy vừa được lắp vào vỏ tuần trước, thì trong nó có lớp bụi mấy năm không?"
Ông Bái đứng thẳng người lên.
Ông ấy không trả lời tôi, ông ấy quay sang con ông ấy.
"Trúc."
"Bố..."
"Cái máy này nằm trong cái vỏ ấy mười mấy năm rồi."
Cả vỉa hè không có ai nói câu nào.
Bà Lượt ngẩng lên, mắt bà ấy chớp mấy cái.
"Bác Ứng ơi, thế là thế nào hả bác?"
"Máy nhà bà bị thay đi rồi, nhưng không phải tôi thay, và thay từ lâu lắm rồi."
"Lâu là bao lâu ạ?"
"Bà mang ra tiệm ngoài phố lần đầu là mấy năm trước?"
"Bốn năm."
"Vâng. Bốn năm."
Cậu Trúc lùi lại nửa bước.
"Ông vu cho nhà tôi?"
"Tôi chưa nói ai làm. Tôi nói cái bụi nó nằm được bao lâu."
Ông Bái đặt cái kính lúp xuống mặt tủ, rất nhẹ.
"Bác Ứng nói đúng."
"Bố!"
"Mày im đi."
"Bố nói thế thì..."
"Bốn năm trước tiệm nhà mình có một thằng thợ. Nó tráo máy hai cái đồng hồ của khách, tao bắt được, tao đền, tao đuổi nó."
"Hai cái ông bắt được."
"Hai cái tôi bắt được."
"Còn những cái ông không bắt được thì bây giờ nó vẫn đang chạy trên tay người ta."
Ông Bái nhìn cái bộ máy nằm trên miếng bọt biển, nhìn hơi lâu.
"Thằng ấy dùng tua vít cỡ mấy hả ông?"
"Nó mang bộ riêng tới. Có cây hẹp, nó vặn hay toác đầu vít, tôi mắng nó mấy lần."
"Vâng."
"Bác biết từ lúc nào?"
"Lúc tôi soi bốn con vít thì tôi mới nghi. Lúc tôi soi cái bụi thì tôi chắc."
"Sao lúc nghi bác không nói?"
"Nghi thì tôi không nói, ông ạ."
Bà Lượt ngồi trên ghế, hai tay vẫn nắm nhau.
"Bác Ứng ơi, thế cái đồng hồ nhà tôi bây giờ nó là cái gì?"
"Nó là cái vỏ ông nhà bà đeo hai mươi mấy năm, với một cái máy không phải của ông ấy."
"Thế thì nó còn là của ông nhà tôi không hả bác?"
"Cái vỏ thì còn."
"..."
"Bà Lượt này, tuần trước bà bảo nó chạy nhanh. Nhanh mỗi ngày nửa phút, mà chỉ nhanh khi bà để nó nằm ngửa trên bàn ban đêm."
"Bác đo được cả cái đó ạ?"
"Đo được. Máy cơ nó chạy khác nhau theo tư thế nằm, mà chỉ máy mỏi mới lệch nhiều thế."
"Tôi chả hiểu gì bác ạ."
"Bà chỉ cần biết cái máy trong đấy nó cũ và nó mỏi, chứ không phải nó vừa bị tráo tuần trước."
Cậu Trúc đứng đấy, hai tay buông xuống.
"Bố, con không biết chuyện thằng thợ ấy."
"Mày không biết thì mày đi hỏi tao trước khi mày mở mồm."
"Con thấy máy không đúng đời thì con nói."
"Mày nói trước mặt ai?"
"..."
"Trước mặt bà cụ với mấy người khách đang đứng đợi. Rồi mày để bà cụ ngồi ngoài quầy hai tiếng đồng hồ."
Ông Bái quay sang bà Lượt, và ông ấy làm một việc tôi không nghĩ ông ấy làm.
Ông ấy cúi người xuống ngang tầm cái ghế bà cụ ngồi.
"Bà Lượt, tôi xin lỗi bà."
"Ông đừng ông ơi."
"Cái máy trong đồng hồ nhà bà mất ở tiệm tôi. Tôi không biết, nhưng nó mất ở tiệm tôi."
"Tôi có trách ai đâu."
"Tôi tìm cho bà một cái máy đúng đời. Mất mấy tháng cũng được, tiền tôi chịu."
"Tôi không có tiền trả ông đâu."
"Bà không phải trả."
Bà Lượt ngồi im một lúc, rồi bà ấy quay sang tôi.
"Bác Ứng, thế bác có phải đền gì không?"
"Tôi không phải đền gì cả."
"Thật không bác?"
"Thật."
"Tôi lo cho bác từ sáng."
"Bà lo cho tôi mà bà ngồi ngoài kia hai tiếng."
"Tôi sợ tôi về thì người ta nói bác nặng hơn."
Tôi không đáp câu ấy được.
Ông Bái đứng lên, quay sang cậu Trúc.
"Mày xin lỗi bác Ứng đi."
"Bố..."
"Ở ngay đây. Chỗ mày đứng chửi người ta lúc chín giờ sáng."
Cậu Trúc quay về phía tôi.
"Cháu xin lỗi bác."
"Cậu nói to lên một chút."
"Cháu xin lỗi bác."
"Tôi không tha cũng không phạt được cậu. Tôi chỉ nói với cậu một câu."
"Bác nói."
"Cậu mở cái máy ra, cậu thấy máy sai đời. Cái đó cậu nhìn đúng."
"..."
"Nhưng cậu thấy có thế thôi rồi cậu đi kết luận, thì cậu mới làm nghề chứ cậu chưa biết nghề."
"Vâng ạ."
"Trong cái máy ấy còn bốn con vít với một lớp bụi, cậu bỏ qua cả hai."
"Vâng ạ."
"Cậu bỏ qua vì cậu nhìn cái tủ kính của tôi trước khi cậu nhìn vào cái máy."
Ông Bái cầm cái hộp nhựa lên, rồi ông ấy lại đặt xuống.
"Bác lắp lại hộ tôi cái máy vào vỏ được không? Công bác bao nhiêu?"
"Không có công. Bà cụ trả tôi ba trăm tuần trước rồi."
Họ về rồi thì vỉa hè lại đông như cũ.
Tôi lắp cái máy vào vỏ, siết bốn con vít, mỗi con ba phần tư vòng rồi lùi lại một chút cho ren khỏi cắn.
Bà Lượt ngồi đấy nhìn tôi làm, không nói gì.
"Bác Ứng ơi, tôi hỏi bác câu này bác đừng giận."
"Bà hỏi."
"Nếu hôm nay tôi không sang thì bác có sao không?"
"Không sao."
"Thế sao bác cứ bắt cậu ấy soi đi soi lại?"
"Vì cậu ấy hỏi nhà bà ở đâu."
"Cậu ấy hỏi lúc nào ạ?"
"Lúc cậu ấy sang đây, cậu ấy bảo bà đi cái xe đạp cũ."
"Ừ nhỉ."
"Người ta tả cái xe đạp cũ trước khi người ta tả cái đồng hồ, thì tôi biết trong đầu người ta đang xếp bà vào đâu."
Bà ấy về lúc mười một giờ rưỡi, dắt xe đi chầm chậm ra đầu ngõ.
Ông Bái tìm được một cái máy đúng đời thật, bốn tháng sau, mua lại của một người trên tỉnh, và tiệm ông ấy tự lắp, không nhờ tôi.
Bà Lượt đeo vào cổ tay gầy, dây phải đục thêm hai lỗ, rồi bà ấy sang khoe tôi.
"Bác xem, nó chạy đúng rồi bác ạ. Bác soi hộ tôi cái."
"Bà đeo đi, không phải soi."
Còn chỗ tôi thì từ tháng ấy vắng hẳn.
Người ta nghe đoạn đầu — có ông thợ vỉa hè bị bắt quả tang tráo máy đồng hồ của bà cụ — rồi người ta không nghe đoạn sau.
Ba nhà trong ngõ trước gửi tôi lau dầu hằng năm, năm ấy không gửi nữa.
Cái quầy bán phụ kiện đầu chợ trước vẫn lấy hàng của tôi, cũng thôi.
Tôi ngồi hè, tôi không có cái bảng hiệu nào để mà treo cái sự thật lên đấy.
Ông Bái có bảo để ông ấy đi nói giúp một tiếng với mấy nhà kia.
Tôi bảo thôi, vì người ta tin mình là do người ta biết mình, chứ không phải do có ai đứng ra bảo lãnh.
Hàng nước bên cạnh khen tôi hôm ấy gỡ được cái tiếng, chả mất đồng nào, người ta còn phải cúi đầu xin lỗi ngay giữa hè.
Tôi nghe, tôi không cãi, nhưng trong bụng tôi đếm ngược lại.
Buổi sáng ấy tôi giữ được bốn con vít với một lớp bụi.
Buổi sáng ấy tôi để mất ba nhà khách quen với cái quầy đầu chợ, mà mỗi mối ấy tôi nhặt về từng năm một, nhặt suốt bốn mươi năm.
Có hôm cậu Trúc đi ngang qua tủ kính của tôi.
Cậu ấy đi chậm lại, rồi cậu ấy dừng hẳn.
"Bác Ứng."
"Cậu Trúc."
"Cháu hỏi bác một câu được không ạ."
"Cậu hỏi."
"Hôm ấy bác nhìn ra bụi hai lớp. Cháu cũng mở cái máy ấy ra, cháu soi cả buổi sáng."
"Ừ."
"Sao cháu không nhìn thấy ạ?"
"Vì cậu soi để tìm cái cậu đã tin là có."
"..."
"Còn tôi soi để xem trong ấy có cái gì."
Cậu ấy đứng thêm một lúc, rồi cậu ấy đi.
Từ hôm đó tháng nào cậu ấy cũng mang sang mấy cái máy khó, đưa tôi làm, trả công sòng phẳng.
Việc thì tôi nhận, tiền thì tôi lấy, mà cái mối tôi mất thì nó không quay về theo đường ấy.
Chiều nào tôi cũng lau mặt kính cái tủ một lượt, lau từ trái sang phải, bốn mươi năm nay vẫn lau kiểu ấy.
Lau xong thì kính trong veo, nhìn thấu được cả mấy cái hộp xếp bên trong.
Chỉ có điều người đi ngang thì người ta không nhìn vào trong tủ.
Người ta nhìn cái vỉa hè tôi ngồi.


