
Cả lô hàng mốc trắng, cậu chủ trẻ chỉ vào mặt tôi bảo bà tráng ẩu thì lấy đâu ra tiêu chuẩn, và tôi vác cái phên nứa cũ đi bộ ra kho
"Bà tráng ẩu một mẻ, tôi mất cả một chuyến hàng đi trong Nam, bà tính sao?"
"Cậu cho tôi xem cái bánh mốc đã."
"Xem làm gì. Mốc là mốc."
"Không phải đâu cậu."
"Bà lại sắp nói cái giọng ba mươi năm nghề chứ gì."
"Tôi nói cái tôi nhìn thấy thôi."
Tôi tên Hoạt, năm mươi tư tuổi, tráng bánh đa nem ở cái sân này từ năm hai mươi ba tuổi.
Hai giờ sáng dậy xay bột, năm giờ tráng xong mẻ đầu, sáu giờ ra phên, trưa trở phên, ba giờ chiều gỡ.
Cậu đứng trước mặt tôi tên Khoát, hai mươi chín tuổi, con ông chủ cơ sở đóng gói ngoài thị trấn.
Cơ sở ấy lấy bánh của tôi bốn năm nay, mỗi tuần hai lượt, mỗi lượt tám trăm tệp.
"Bà biết lô ấy bao nhiêu tệp không?"
"Cậu nói tôi nghe."
"Hai nghìn hai. Người ta trả về một nghìn tư. Mốc trắng lốm đốm, mở kiện ra là mùi xộc lên."
"Cậu còn giữ hàng trả về không?"
"Giữ chứ. Giữ để bắt đền."
"Thế thì cậu cho tôi ra kho xem."
"Bà xem cái gì? Bà có máy móc gì đâu mà bà xem."
"Tôi có mắt."
"Mắt bà năm mươi tư tuổi."
"Vâng, năm mươi tư."
Khoát đứng giữa sân tôi, giày còn nguyên bụi đường, tay cầm cái điện thoại quay quay.
Ngoài cổng lúc ấy có mấy bà trong xóm đi chợ về đứng lại.
"Bà nghe cho rõ này. Một nghìn tư tệp, mỗi tệp tôi bán buôn tám nghìn."
"Tôi nghe rồi."
"Mười một triệu hai. Chưa tính tiền chuyến xe, chưa tính cái tiếng của cơ sở tôi."
"Vâng."
"Bà đền được không?"
"Nếu bánh ấy là bánh tôi làm hỏng thì tôi đền."
"Đấy, bà nói rồi nhé. Mấy bà ngoài kia nghe rồi nhé."
"Vâng. Nhưng cậu để tôi xem cái bánh đã."
"Bà cứ xem. Xem xong bà vẫn phải đền."
Tôi rửa tay, lau vào tạp dề, rồi tôi hỏi cậu ấy một câu.
"Lô ấy tôi giao cho cơ sở hôm nào?"
"Thứ hai."
"Thứ hai tuần nào?"
"Tuần trước."
"Từ thứ hai tuần trước đến hôm nay là mười ngày."
"Thì mười ngày."
"Mười ngày ấy bánh nằm ở đâu?"
"Nằm ở kho tôi chứ nằm ở đâu."
"Vâng. Cậu nhớ giúp tôi cái câu vừa rồi."
"Bà định gài tôi à?"
"Tôi không gài ai. Tôi hỏi cho biết."
Bà Tuất bán rau đứng ngoài cổng nghe từ nãy, lúc ấy mới chen vào.
"Cậu bảo mốc thì mốc kiểu gì?"
"Bác hỏi buồn cười. Mốc là mốc."
"Cậu nghe bà Hoạt nói cho mà biết. Bà ơi, bà nói cho cậu ấy nghe đi."
"Bánh đa nem mốc có hai kiểu, cậu ạ."
"Bà lại giảng."
"Kiểu thứ nhất là phơi chưa kiệt, ruột bánh còn ngậm nước."
"Rồi sao?"
"Nó mốc từ trong ra, mốc chấm xanh xám, chấm rải khắp mặt, tệp trên tệp dưới đều mốc như nhau."
"Còn kiểu hai?"
"Kiểu hai là bánh khô rồi, nhưng ép kiện lúc ruột còn ấm, hoặc phủ ni lông kín lúc trời nồm."
"Thì cũng mốc cả."
"Mốc, nhưng mốc từ ngoài vào, trắng như rắc phấn, vệt trắng chạy thành mảng theo mép chồng bánh."
"Bà nói cái đó để làm gì?"
"Để cậu biết cái này: kiểu một thì mốc đều cả kiện, kiểu hai thì chỉ mốc mấy tệp áp thành, tệp giữa ruột kiện còn trắng nguyên."
"Bà học ở đâu ra cái lý ấy?"
"Không học ở đâu cả. Ba mươi năm mở kiện thì biết."
"Bà nói lắm quá. Bà lẩm bẩm cái gì nữa thế?"
"Tôi nhẩm lại đường đi của cái lô ấy."
"Bà nhẩm cũng không đổi được cái gì đâu."
"Cậu cho tôi ra kho."
"Ra thì ra. Nhưng bà đừng có đụng vào hàng."
Kho của cơ sở là cái nhà tôn ba gian sau lưng chợ, cửa cuốn kéo lên nửa chừng.
Trong kho xếp kiện cao đến ngực tôi, kiện nào cũng bọc ni lông, dán băng dính vàng.
Ở góc trong cùng có cái bàn nhôm, và ngồi bên cái bàn ấy là một người đàn bà tôi biết.
Chị ấy tên Bời, goá chồng, có đứa con trai đi lại phải chống một bên nạng gỗ.
"Chị Bời."
Chị ấy ngẩng lên rồi lại cúi xuống ngay.
"Chị Bời làm sao thế cậu?"
"Bà hỏi chị ta ấy."
"Chị Bời?"
"Bà về đi bà ơi."
"Chị nói tôi nghe."
"Cậu Khoát bảo là tại em."
"Tại chị cái gì?"
"Tại em xếp kiện."
"Chị làm cho cơ sở mấy năm rồi?"
"Bốn năm ạ."
"Một ngày mấy đồng?"
"Một trăm hai. Em làm từ sáu giờ sáng."
Khoát đứng chống tay vào cạnh kiện hàng, giọng nhẹ đi hẳn.
"Chị ấy xếp kiện chiều thứ hai. Xếp xong thì thứ ba xe đi."
"Rồi sao?"
"Thì tôi trừ lương chị ấy một nửa, ba tháng. Coi như chia đôi trách nhiệm với bà."
"Cậu trừ lương chị ấy trước cả khi cậu sang nhà tôi?"
"Tôi trừ hôm kia."
"Chị Bời có nhận không?"
"Chị ấy nhận."
"Chị Bời, chị nhận thật à?"
Chị Bời không ngẩng lên.
"Em không biết chữ nghĩa gì. Cậu ấy bảo tại em thì chắc là tại em."
Tôi đứng im ở giữa kho một lúc.
Con chị ấy đi lại phải chống một bên nạng gỗ, mỗi tháng lên bệnh viện tỉnh một lần.
Một trăm hai một ngày, cắt còn sáu mươi, ba tháng.
"Cậu Khoát."
"Gì bà?"
"Cậu mở cho tôi một kiện hàng trả về."
"Mở làm gì?"
"Cậu bảo mốc thì cậu mở ra cho tôi nhìn cái mốc."
"Bà nhìn xong bà đền chứ?"
"Cậu cứ mở đi."
Cậu ấy rút dao rọc, xé băng dính, lật ni lông ra.
Kiện ấy xếp mười lăm tệp một hàng, bốn hàng chồng lên nhau.
Tôi nhấc tệp trên cùng, đưa ra chỗ sáng cửa cuốn.
Bánh mốc trắng, vệt trắng chạy dọc theo mép, đúng cái mảng tôi vừa nói.
"Đấy. Bà thấy chưa? Mốc trắng xoá."
"Vâng, trắng thật."
"Bà còn nói gì nữa không?"
"Cậu nhấc hộ tôi tệp nằm giữa ruột kiện."
"Nhấc để làm gì?"
"Cậu cứ nhấc."
Cậu ấy nhấc, hơi mạnh tay, ném xuống bàn nhôm.
Tệp ấy trắng ngà, không một chấm.
"Kiện mốc thì có tệp mốc tệp không, bình thường."
"Vâng, bình thường."
"Thế thì bà nói cái gì?"
"Tôi chưa nói gì cả. Tôi mới xem thôi."
Mấy hôm sau cậu ấy sang nhà tôi hai lần nữa.
Lần thứ nhất cậu ấy mang theo cái tờ giấy đánh máy, bảo tôi ký vào.
"Giấy gì đây cậu?"
"Giấy nhận trách nhiệm. Bà ký thì tôi trừ dần, mỗi tuần một triệu."
"Tôi chưa ký được."
"Bà không ký thì tôi cắt hàng."
"Cậu cắt thì tôi chịu."
"Bà nghĩ bà bán được cho ai? Cả vùng này có mỗi cơ sở tôi ăn hàng thủ công."
"Vâng, tôi biết."
"Bà làm tay chân, phên nứa, nắng mưa. Bà lấy đâu ra tiêu chuẩn mà bà cãi tôi?"
"Tôi không có tiêu chuẩn nào cả."
"Đấy, bà tự nhận đi cho nhanh."
"Tôi chỉ có cái phên."
Lần thứ hai thì cậu ấy đi cùng ba người của cơ sở, và cậu ấy đứng ngay ngoài ngõ mà nói to.
"Cả xóm nghe cho rõ. Nhà này tráng bánh ẩu, làm hỏng hai nghìn tệp của tôi."
Mấy nhà hàng xóm ra đứng ngoài cổng thật.
Bà Tuất bán rau bên cạnh chống cái đòn gánh xuống đất.
"Cậu nói vừa vừa thôi. Bà Hoạt tráng bánh từ lúc cậu chưa đẻ."
"Cháu nói cái cháu mất tiền."
"Thế bánh mốc đâu, cậu vác sang đây cho cả xóm xem."
"Cháu vác sang làm gì. Cháu có hàng trả về, có ảnh, có tin nhắn khách chửi."
"Thế thì cậu cứ chửi ngoài ngõ à?"
Tôi bảo bà Tuất là thôi.
Đêm ấy tôi vẫn dậy hai giờ, vẫn xay bột, vẫn tráng hai trăm cái để dành.
Không có ai lấy thì tôi phơi, phơi kiệt rồi tôi cất.
Sáng hôm sau cậu Khoát gọi điện.
"Bà Hoạt, chiều mai bà ra kho. Có mặt khách ngoài Bắc vào, có bố tôi, có mấy nhà làm hàng khác."
"Ra để làm gì cậu?"
"Để chốt cái khoản đền. Trước mặt mọi người cho nó rõ ràng."
"Chị Bời có ra không?"
"Chị ta thì liên quan gì."
"Chị ấy bị trừ lương ba tháng, mà cậu bảo không liên quan?"
"Bà lo cho chị ta hay bà lo cho bà?"
"Cậu cứ cho chị ấy ra."
"Bà đến là được rồi."
Đêm hôm ấy trời nồm, gió nam thổi ẩm, nền nhà tôi rịn nước.
Trời như thế thì bánh phơi ngoài sân hút ẩm ngược, sáng ra sờ mặt bánh thấy mềm tay.
Tôi kéo hết phên vào trong hiên, dựng nghiêng, chừa lối cho gió lùa dưới gầm.
Ba giờ sáng tôi ra gõ thử một tệp, tiếng còn đục, tôi để thêm nửa buổi nữa.
Bánh gõ nghe đục là bánh chưa kiệt, cái đó tai tôi nghe quen từ hồi hai mươi ba tuổi.
Chiều hôm sau tôi ra kho, và tôi mang theo hai thứ.
Một là cái tệp bánh tôi mới phơi, gói trong giấy báo.
Hai là một cái phên nứa cũ, dài bằng người tôi, tôi vác trên vai đi bộ ra thị trấn.
Người đi đường nhìn tôi vác phên, có người hỏi bà đi đâu, tôi bảo tôi đi đòi cái tiếng.
Trong kho chiều ấy đông. Bố cậu Khoát ngồi ghế nhựa, khách ngoài Bắc hai người, thêm ba nhà làm hàng như tôi.
Chị Bời đứng nép ở cái bàn nhôm, tay vẫn cầm cái chổi.
"Bà Hoạt vác cái nứa ấy làm gì thế?"
"Tôi mang cái phên của tôi ra."
"Bà định trải ra ngồi à?"
Mấy người cười.
"Cậu Khoát, cậu cho tôi hỏi trước mặt các bác mấy câu."
"Bà hỏi."
"Lô ấy tôi giao cho cậu hôm nào?"
"Thứ hai tuần trước. Bà hỏi ba lần rồi."
"Lúc giao, cậu có mở kiểm không?"
"Có. Tôi mở ba kiện."
"Bánh lúc ấy thế nào?"
"Khô. Trắng. Không sao cả."
"Cậu nói to lên cho các bác nghe."
"Tôi nói rồi đấy. Bánh lúc nhận khô, không sao cả."
"Vâng. Rồi bánh nằm kho cậu mấy ngày?"
"Hai ngày. Thứ tư xe mới đi."
"Cậu vừa bảo thứ ba xe đi."
"Thứ tư. Tôi nhớ nhầm."
"Hai ngày ấy trời thế nào?"
"Bà hỏi vớ vẩn."
"Trời nồm, cậu ạ. Nồm ba hôm liền, tường nhà tôi chảy nước."
"Thì nồm."
"Kho cậu có cửa cuốn, không có quạt, tôn thấp."
"Bà đo nhà tôi bao giờ chưa mà bà nói?"
"Tôi đứng trong kho cậu hôm kia. Tôi ngửi thấy mùi hơi nước."
Ông bố cậu Khoát bỏ chén nước xuống.
"Khoát, hôm ấy mày có kê kiện lên pa lét không?"
"Con kê một ít."
"Một ít là mấy?"
"Bố hỏi cái đó bây giờ làm gì."
Tôi mở tờ giấy báo, lấy cái tệp bánh của tôi ra, đặt lên bàn nhôm.
"Các bác cầm hộ tôi cái tệp này."
Một bác nhà làm hàng cầm lên, lật qua lật lại.
"Bánh ngon đấy."
"Bác gõ hộ tôi vào giữa tệp."
Bác ấy gõ. Tiếng nghe đanh, khô, như gõ vào bìa cứng.
"Bây giờ bác nhìn hộ tôi mặt bánh, chỗ có nắng chiếu."
"Có mấy cái vệt kẻ nhỏ."
"Vâng. Vệt ấy là nan phên nứa của tôi in vào lúc bánh còn ướt."
"Vệt này đều lắm."
"Phên tôi đan tay, nan to nan nhỏ. Cái phên này nan thứ tư bị gãy, tôi lấy dây thép buộc nối."
Tôi dựng cái phên tôi vác ra, xoay mặt có mối thép về phía mọi người.
"Chỗ buộc thép ấy in xuống mặt bánh thành một vệt cụt. Cái vệt cụt ấy chỉ bánh nhà tôi mới có."
Trong kho im một lúc.
"Cậu Khoát."
"Gì?"
"Cậu mở cho tôi cái kiện trả về, cái kiện hôm kia."
"Mở rồi còn gì."
"Cậu mở lại. Lần này cậu mở trước mặt các bác."
Cậu ấy mở. Vẫn cái kiện ấy, vẫn mấy tệp mốc trắng nằm ngoài mép.
Tôi nhấc một tệp mốc lên, đưa ra chỗ sáng, giơ cho cả kho nhìn.
"Các bác nhìn hộ tôi mặt tệp này. Có vệt nan không?"
Bác nhà làm hàng ghé sát vào.
"Không. Nhẵn."
"Nhẵn thín, phải không bác?"
"Nhẵn thín. Cái này phơi lưới, không phơi phên."
Tôi đặt tệp bánh mốc xuống cạnh tệp bánh của tôi, hai tệp nằm sát nhau trên bàn nhôm.
"Cậu Khoát, bánh mốc trong kiện của cậu không phải bánh tôi tráng."
Cậu ấy đứng đó, một tay còn cầm cái dao rọc.
"Bà nói bậy."
"Cậu lật mấy tệp nữa lên đi. Tệp nào mốc là tệp nhẵn, tệp nào có vệt nan là tệp còn trắng."
Người ta lật. Lật đến tệp thứ chín thì không ai lật nữa.
Ông bố cậu Khoát đứng dậy.
"Khoát. Lô đi trong Nam ấy mày độn hàng ở đâu?"
"Con... con lấy thêm bên xưởng lưới cho đủ hai nghìn hai."
"Mày lấy mấy trăm tệp?"
"Sáu trăm."
"Sáu trăm tệp hàng lưới mày đóng chung kiện với hàng phên?"
"Hàng ấy rẻ hơn ba nghìn một tệp, bố ạ."
"Hàng ấy nó phơi máy, ra khỏi máy là đóng ngay, ruột còn ấm."
"Con đâu có biết."
"Mày không biết mà mày đi đổ cho người ta ba mươi năm nghề?"
Khoát quay sang tôi, và lúc ấy giọng cậu ấy khác hẳn.
"Bà Hoạt, cái này là do bên xưởng kia, không phải do cháu."
"Vâng."
"Bà thông cảm cho cháu. Cháu cũng chỉ là người ở giữa."
"Cậu Khoát, tôi hỏi cậu một câu thôi."
"Bà hỏi."
"Chị Bời bị cậu trừ lương ba tháng vì cái tội xếp kiện. Cậu tính sao?"
"Cái đó để cháu xem lại."
"Cậu xem lại ở đây, trước mặt các bác."
"Bà đừng ép cháu."
"Tôi không ép. Tôi đứng đợi thôi."
Chị Bời buông cái chổi, hai tay đan vào nhau.
"Chị Bời, chị nói với cậu ấy đi."
"Em... em không biết nói."
"Chị nói cái chị làm hôm ấy thôi."
"Hôm ấy em xếp kiện đến bảy giờ tối. Em có hỏi cậu ấy là hàng lưới với hàng phên có xếp chung không."
"Cậu ấy bảo sao?"
"Cậu ấy bảo cứ xếp chung cho nhanh, hàng nào chả là bánh."
Cả kho nghe câu ấy.
Ông bố cậu Khoát nói với chị Bời là ba tháng lương ấy cơ sở trả lại đủ, trả ngay tuần này.
Rồi ông ấy quay sang tôi, bảo là ông ấy xin lỗi, ông ấy không biết con ông ấy làm thế.
"Bà Hoạt, hàng của bà cơ sở tôi vẫn lấy. Lấy như cũ."
"Cảm ơn bác."
"Bà cần tôi nói gì thêm với mấy nhà kia không?"
"Bác nói giúp tôi một câu thôi."
"Câu gì?"
"Cái mốc trắng ấy không phải tại người tráng."
Tôi vác cái phên về, đi bộ, trời lúc ấy sắp tối.
Phên nứa cũ nhẹ hều, vác lên vai một quãng là nan cọ vào cổ rát một vệt.
Ba mươi năm tôi vác cái phên ấy ra sân rồi lại vác vào hiên, ngày hai lượt, không đếm nữa.
Chị Bời đuổi theo tôi ra tới đầu đường, tay cầm cái túi ni lông.
"Bà ơi, bà cầm hộ em mấy quả trứng."
"Chị cất đi mà cho cháu."
"Bà cầm cho em đỡ áy náy."
"Chị áy náy cái gì?"
"Em nhận cái tội em không làm. Em nhận vì em sợ mất việc."
"Chị có con nhỏ, chị sợ là phải."
"Bà không giận em à?"
"Không."
"Sao bà lại không giận?"
"Vì lúc cậu ấy bảo tại chị, chị cũng có nói là tại chị đâu. Chị chỉ không cãi thôi."
"Bà giỏi thật đấy bà ạ."
"Tôi không giỏi. Tôi mở kiện bánh từ hồi cậu ấy chưa ra đời, thế thôi."
Cơ sở lấy hàng lại thật, đúng như ông bố nói.
Nhưng lấy được sáu tuần thì mỗi tuần rút xuống một ít.
"Tuần này bác lấy bà sáu trăm nhé."
"Tuần trước tám trăm cơ mà cậu."
"Dạo này khách chuộng hàng máy, mỏng đều, đóng túi đẹp."
"Vâng."
"Bà đừng nghĩ ngợi gì."
"Tôi không nghĩ gì đâu cậu."
Sáu trăm được ba tuần thì xuống bốn trăm.
Con gái tôi gọi điện, tuần nào nó cũng gọi một lần.
"Mẹ nghỉ đi mẹ. Mẹ vào trong này với con, con nuôi được."
"Để mẹ tráng nốt vụ này."
"Vụ này là vụ nào hả mẹ?"
"..."
"Chín năm rồi mẹ nói câu ấy đấy."
"Ừ."
"Bốn trăm tệp mà mẹ vẫn dậy hai giờ sáng à?"
"Bốn trăm hay tám trăm thì cũng một cái dậy ấy thôi con ạ."
Có hôm tôi ra sân sớm, sương còn đọng trên phên, tôi lấy tay miết thử một cái nan.
Nan thứ tư vẫn cái mối thép ấy, tôi buộc từ năm nào tôi cũng quên rồi.
Bà Tuất bán rau sang chơi, ngồi ở bậc cửa, bảo tôi thế là hời.
"Bà không phải bỏ ra đồng nào, ông chủ còn hạ mình xin bà giữa kho."
"Vâng."
"Thế mà mặt bà cứ như mất của."
"Bà Tuất này."
"Gì?"
"Cái tiếng thì tôi giữ được, nhưng cái mối thì tôi mất một nửa rồi."
"Ơ, sao lại mất?"
"Người ta thua mình một lần thì người ta chỉ cần đặt ít đi, không cần đuổi mình."
"Cậu ấy hẹp thế cơ à?"
"Cậu ấy còn trẻ. Trẻ thì khó nuốt."
"Bà tính thế nào?"
"Từ hôm ấy giao hàng tôi đếm hai lần, ghi ra giấy, bắt người ta ký vào."
"Ơ, bà làm với người ta bốn năm rồi cơ mà."
"Bốn năm thì bốn năm. Bây giờ tôi vẫn bắt ký."
"Khổ."
"Vâng, khổ. Trước kia tôi có phải làm thế bao giờ đâu."
Nhưng cái tệp bánh tôi để lại trên bàn nhôm hôm ấy thì tôi không tiếc.
Nó nằm cạnh cái tệp mốc, hai cái cạnh nhau, ai nhìn cũng biết cái nào là của ai.
Bánh của tôi có vệt nan, có chỗ nan gãy nối thép, gõ vào nghe đanh.
Ba mươi năm tôi không có tiêu chuẩn nào cả.
Tôi chỉ có cái phên, và cái phên nó không biết nói dối hộ ai.


