Halab
Cậu quản lý trẻ đứng giữa chợ bảo tôi chỉnh cân điêu ăn tiền, rồi ép hội tiểu thương cấm tôi vào chợ
Truyện

Cậu quản lý trẻ đứng giữa chợ bảo tôi chỉnh cân điêu ăn tiền, rồi ép hội tiểu thương cấm tôi vào chợ

· 15 phút đọc · Halab

"Cả chợ này ăn gian được là nhờ ông già ngồi kia."

"Cậu nói ai?"

"Ông. Ông thợ sửa cân. Ông chỉnh cho các bà ấy cân điêu rồi ăn tiền công."

"Cậu vừa nói câu đó trước bao nhiêu người đấy?"

"Tôi nói to cho ai cũng nghe. Tôi không nói lén sau lưng ông."

Tôi tên Chật, sáu mươi hai tuổi, sửa cân đi rong ba mươi năm, hòm đồ nghề có bộ quả cân gang mười hai viên.

Cậu đứng trước mặt tôi tên Vỹ, quản lý cửa hàng thực phẩm mới mở ở đầu chợ.

Sáng ấy chợ đông, người đi qua chật lối, tôi vẫn ngồi giữ cái cân bàn đang tháo dở.

"Ông ngồi cái ghế con đấy bao lâu rồi?"

"Ba mươi năm."

"Cậu Vỹ này."

"Sao?"

"Cậu để tôi bắt xong con ốc đã."

"Ông cứ bắt. Tôi đứng đây tôi đợi."

Cái ốc ấy tôi bắt mất chừng nửa phút.

"Ông có chỉnh cân cho các bà bán ở chợ này không?"

"Có."

Cả dãy hàng im một nhịp.

"Ông thừa nhận đấy nhé."

"Tôi chỉnh cân cho ai gọi tôi. Chỉnh cho nó đúng."

"Đúng theo ai?"

"Đúng theo bộ quả cân trong hòm tôi."

"Bộ quả cân của ông thì tôi tin làm sao được?"

"Cậu không tin thì cậu mang cái gì cậu tin ra đây."

Cậu ấy không mang gì ra cả.

Cậu ấy quay sang đám người đang đứng nghe.

"Bà con nghe rõ chưa? Ông ta tự nhận rồi."

"Cậu Vỹ."

"Gì?"

"Cậu mới về chợ này bốn tháng."

"Thì sao?"

"Bốn tháng thì cậu biết mấy cái cân trong này?"

"Tôi không cần biết cân. Tôi biết con số."

"Con số gì?"

"Số khách bỏ chợ sang mua bên tôi vì bị cân điêu."

Bà Diệp bán khoai lên tiếng, giọng run.

"Cậu ơi, cân nhà tôi ông Chật sửa hôm kia."

"Đấy. Bà tự khai rồi."

"Tôi khai gì đâu cậu."

"Bà bảo ông ta sửa cân nhà bà."

"Tôi bảo ông ấy sửa cho nó đúng."

"Đúng mà khách kêu à?"

"Khách nào kêu hả cậu?"

"Bà không cần biết là ai."

Bà Diệp im.

Bà ấy bán khoai ở góc trong cùng, sạp là hai tấm ván, ngồi đấy từ hồi tóc còn đen.

"Cậu Vỹ, tôi hỏi cậu một câu."

"Ông hỏi."

"Người kêu ấy kêu bà Diệp cân thiếu bao nhiêu?"

"Ông hỏi cái đó làm gì?"

"Vì thiếu bao nhiêu thì tôi biết cái cân hỏng kiểu gì."

"Ông nói cứ như thầy bói."

"Không phải bói. Là nghề."

"Nghề gì?"

"Nghề của tôi."

Cậu ấy cười, rồi cậu ấy bỏ đi về phía đầu chợ.

"Ông ngồi đấy mà giữ cái nghề của ông đi."

Chuyện lẽ ra dừng ở đấy.

Ba hôm sau thì bà Diệp bị dẹp sạp.

Tôi vào chợ lúc bảy giờ, thấy góc trong cùng trống hoác, hai tấm ván dựng nghiêng vào tường.

"Bà Diệp đâu rồi bác?"

"Người ta cho nghỉ rồi ông ạ."

"Ai cho nghỉ?"

"Hội tiểu thương họp tối qua."

"Họp cái gì?"

"Họp chuyện cân điêu. Cậu Vỹ đưa ra tận ba tờ đơn của khách."

"Ba tờ."

"Ừ. Có chữ ký hẳn hoi."

Hội tiểu thương là mấy chục người bầu nhau ra, thu tiền sạp, giữ trật tự, và họ bảo ai nghỉ thì người ấy phải cuốn ván.

Tôi tìm bà Diệp ở cái quán nước ngoài cổng chợ.

Bà ấy ngồi trên bậc thềm, rổ khoai còn nguyên, không bán được củ nào.

"Bà Diệp."

"Ông đừng lại gần tôi."

"Sao thế?"

"Người ta bảo tôi với ông một duộc."

"Ai bảo?"

"Cậu Vỹ nói giữa cuộc họp. Ông chỉnh cân, tôi cân điêu, chia nhau."

"Bà có cân điêu không?"

"Ông hỏi tôi câu ấy à?"

"Tôi hỏi để bà trả lời trước mặt tôi một lần."

"Không. Tôi bán khoai hăm hai năm, tôi chưa ăn của ai một lạng."

"Vậy thì bà đứng lên."

"Đứng lên đi đâu ông?"

"Về sạp bà."

"Sạp người ta khoá rồi."

"Bà cho tôi hỏi cái cân nhà bà bây giờ ở đâu?"

"Hội giữ. Họ bảo giữ làm bằng chứng."

"Thế thì tốt."

"Tốt cái gì hả ông?"

"Bà cứ ngồi đây. Tôi phải đi xem một cái."

Cái tôi đi xem là cửa hàng của cậu Vỹ.

Tôi ngồi ngoài hàng nước uống hết ba chén trà.

Trên quầy có ba cái cân điện tử.

Nhưng ở sân sau, chỗ nhập hàng, có một cái cân bàn cũ cân bao tải rau củ đổ từ xe xuống, không mặt số điện, chỉ có kim với vạch.

Chiều hôm ấy có người của hội tiểu thương tới chỗ tôi ngồi.

"Ông Chật, ông thu đồ đi."

"Thu đi đâu?"

"Hội quyết rồi. Từ mai ông không vào chợ."

"Ai quyết?"

"Cả hội biểu quyết. Mười bảy trên hai mươi."

"Có ai hỏi tôi câu nào chưa?"

"Ông có phải người bán trong chợ đâu mà hỏi."

Câu ấy đúng.

Ba mươi năm tôi đi rong, không sạp, ai gọi thì ngồi xuống.

"Vậy tôi xin nói với hội một lần, được không?"

"Ông nói ở đâu?"

"Chỗ nào đông người thì tôi nói ở đấy."

"Ông muốn nói thì mai ra sân giữa chợ. Sáng mai hội cân lại hàng cho mấy bà bị kêu."

"Ai cân?"

"Cậu Vỹ. Cậu ấy có cân điện tử, cậu ấy mang tới."

"Được."

"Ông đồng ý dễ thế à?"

"Tôi chỉ xin một điều."

"Điều gì?"

"Mang cả cái cân của bà Diệp ra."

Sáng hôm sau sân giữa chợ kê ba cái bàn dài.

Ông chủ chợ đứng đầu bàn, tay cầm quyển sổ.

Cậu Vỹ đặt cân điện tử lên bàn giữa, cắm điện, mặt số nhảy về không.

"Bà con xem. Cân này in giấy được, không chỉnh tay được."

"Cậu Vỹ."

"Ông lại nói gì?"

"Cậu để tôi mang hòm lên bàn."

"Ông mang cái hòm ấy lên làm gì?"

"Trong hòm tôi có mười hai viên quả cân gang."

"Rồi sao?"

"Chưa sao cả. Tôi để đấy thôi."

Tôi đặt hòm lên đầu bàn, mở nắp, mười hai viên gang xám nằm trong giẻ.

"Ông bày trò."

"Tôi chưa làm gì cả cậu ạ."

"Ông đứng ra kia. Hôm nay tôi cân, không phải ông."

"Vâng."

Cái cân của bà Diệp được khiêng ra, đặt lên bàn bên trái.

Cân bàn cũ, mặt đồng hồ tròn, kính hơi ố, thang tới sáu chục cân.

"Bà con nhìn đây. Cân nhà bà Diệp."

Cậu Vỹ lấy một bao khoai, đặt lên đĩa cân bà Diệp.

Kim chạy lên, dừng ở hai mươi mốt.

Rồi cậu ấy bê bao khoai ấy sang cân điện tử của cậu ấy.

Mặt số hiện hai mươi hai phẩy tám.

"Đấy. Thiếu một cân tám."

Đám đông ồ lên.

Bà Diệp đứng ở rìa vòng người, hai tay bấu vào nhau.

"Bà Diệp, bà nói gì đi."

"Tôi... tôi không biết."

"Bà bán hăm hai năm mà bà không biết cân nhà bà thiếu?"

"Tôi cân sao thì tôi bán vậy."

"Thiếu một cân tám trên hai hai cân. Cứ mười cân bà ăn của khách gần một cân."

"Cậu Vỹ."

"Ông lại làm gì?"

"Cậu cho tôi cân lại cái bao ấy một lần nữa."

"Cân lại thì cũng thế."

"Vâng, cũng thế. Nhưng cậu cho tôi cân theo cách của tôi."

"Cách gì?"

"Tôi không cân bao khoai. Tôi cân quả cân của tôi."

"Quả cân của ông thì liên quan gì?"

"Liên quan chỗ này: bao khoai thì không ai biết nó nặng bao nhiêu, còn quả cân gang thì ai cũng biết."

Ông chủ chợ gõ quyển sổ xuống bàn.

"Cứ cho ông ấy cân. Cân trước mặt bà con, sợ gì."

Tôi lấy ra viên năm cân, đặt lên đĩa cân của bà Diệp.

Kim chạy lên, dừng đúng vạch năm.

"Năm cân đúng."

Tôi đặt thêm viên năm cân nữa.

Kim dừng ở chín tám.

"Mười cân thì nó chỉ chín tám."

"Đấy, sai rồi còn gì!"

"Sai. Thiếu hai lạng trên mười cân."

"Ông tự nhận đấy nhé."

"Tôi nhận. Cậu nghe tôi nói hết đã."

Tôi chồng tiếp bốn viên nữa lên đĩa.

Kim dừng ở mười chín sáu.

"Hai mươi cân thì nó chỉ mười chín sáu. Thiếu bốn lạng."

"Càng nặng càng thiếu. Ông ta chỉnh cho nó ăn gian đấy bà con ơi."

"Cậu Vỹ, cậu nghe cái tỉ lệ chưa?"

"Tỉ lệ gì?"

"Năm cân thiếu không. Mười cân thiếu hai lạng. Hai mươi cân thiếu bốn lạng."

"Thì thiếu."

"Thiếu đều. Cứ mỗi mười cân thì hụt hai lạng, không hơn không kém."

"Ông nói cái đó để làm gì?"

"Để nói với bà con cái cân này hỏng kiểu gì."

Tôi lật cái cân bàn nghiêng lên, đỡ bằng đầu gối.

"Cân đồng hồ chỉ có bốn kiểu sai thôi bà con ạ."

"Ông định giảng bài à?"

"Tôi giảng bốn câu, cậu nghe cũng không mất gì."

Ông chủ chợ khoát tay cho tôi nói.

"Kiểu thứ nhất: chèn vật dưới đĩa. Cái này sai ngay từ số không, chưa để gì lên kim đã lệch."

"Cân này thì sao?"

"Cân này về không đúng, bà con vừa nhìn thấy."

"Kiểu thứ hai?"

"Xoay kim. Xoay kim thì nó lệch cứng một khoảng, năm cân thiếu hai lạng thì năm chục cân cũng thiếu đúng hai lạng."

"Cân này không phải kiểu ấy à?"

"Không. Vì càng nặng nó càng thiếu nhiều, thiếu theo tỉ lệ."

"Còn hai kiểu nữa?"

"Kiểu thứ ba: giấu nam châm dưới đế. Cái này thì sai loạn, chỗ nặng chỗ nhẹ, không ra tỉ lệ nào cả, mà thường là làm cho kim vọt lên chứ không tụt xuống."

"Kiểu thứ tư?"

"Kéo giãn lò xo. Lò xo bị kéo giãn thì nó mềm đi, và nó sai ĐỀU cả thang, cứ chừng ấy phần trăm từ đầu tới cuối."

"Vậy cân này là kiểu thứ tư."

"Đúng. Cậu nói đúng rồi đấy."

"Đấy! Ông ta chỉnh lò xo! Ông ta vừa nhận!"

"Tôi chưa nói xong."

"Ông còn gì nữa?"

"Lò xo giãn có hai đường. Một là người ta cố tình kéo. Hai là nó mỏi vì cân nặng quá tải lâu ngày."

"Ai tin được?"

"Cái cân này thang sáu chục cân. Bà Diệp bán khoai, bao nặng nhất của bà ấy là hai mươi hai."

"Rồi sao?"

"Cân sáu chục mà chỉ chở hai chục thì ba đời nó không mỏi lò xo được."

"Ông tự cãi ông rồi."

"Chưa. Tôi hỏi cậu một câu."

"Ông hỏi."

"Cái kẹp chì niêm ở lưng cân này, cậu nhìn giúp tôi."

Cậu ấy cúi xuống, và cả vòng người cúi theo.

Ở lưng cân có sợi dây thép luồn qua hai lỗ, giữa kẹp một viên chì bẹp bằng hạt ngô.

"Chì nó vẫn còn đây."

"Vâng, còn. Cậu nhìn cái dấu trên mặt chì."

"Dấu mờ."

"Mờ vì nó bị kẹp hai lần."

"Ông bịa."

"Chì niêm kẹp lần đầu thì dấu ăn giữa, nét sắc, hai mặt cân nhau. Kẹp lại lần hai thì bao giờ cũng lệch dấu, một mặt chồng nét, một mặt bẹt ra."

"Thì có thể chính ông kẹp lại."

"Có thể. Nhưng tôi kẹp thì tôi phải có kìm kẹp chì."

"Ông chả có cả hòm đồ đấy còn gì."

"Cậu lục hòm tôi đi."

Cậu ấy lục thật, lật hết giẻ ra, quăng từng thứ lên bàn.

Tua vít, kìm mỏ nhọn, giấy nhám, dầu, mấy sợi lò xo, mười hai viên gang.

Không có kìm kẹp chì.

"Ba mươi năm nay tôi không có cái kìm ấy, và cả chợ này ai cũng biết."

"Ông không có thì ông mượn."

"Mượn của ai?"

"Của ai đó."

"Cậu Vỹ, cậu nói câu vừa rồi trước bốn chục người đấy."

Cậu ấy đứng thẳng lên, mặt đỏ.

"Tôi nói gì thì tôi chịu. Ông cứ nói tiếp đi, tôi nghe."

"Được. Tôi hỏi cậu câu cuối."

"Ông hỏi."

"Sân sau cửa hàng cậu có một cái cân bàn cũ để cân hàng nhập, đúng không?"

"Đúng. Thì sao?"

"Cái cân ấy thang bao nhiêu?"

"Hai tạ."

"Cậu nhập hàng mỗi ngày bao nhiêu bao?"

"Ông hỏi để làm gì?"

"Để bà con biết cái cân nào mới mỏi lò xo thật."

Ông chủ chợ ngẩng lên khỏi quyển sổ.

"Cậu Vỹ, cậu trả lời ông ấy đi."

"Chuyện cửa hàng tôi thì liên quan gì đến chợ?"

"Liên quan chứ. Cậu mua hàng của người trong chợ này."

"Tôi mua sòng phẳng."

"Cậu mua bằng cái cân sân sau ấy à?"

"Thì bằng cái đó."

"Cân nhập hàng thì cân thiếu là cậu lợi, chứ không phải khách thiệt."

Câu ấy tôi nói không to.

Nhưng sân chợ lúc ấy đang im, nên nó chạy tới tận vòng ngoài.

"Ông vu cho tôi à?"

"Tôi chưa vu. Tôi mới hỏi."

"Ông hỏi nữa đi."

"Cái cân sân sau ấy, mặt kính của nó cậu tháo ra bao giờ chưa?"

"Chưa. Tháo làm gì."

"Vậy thì hay quá."

Tôi quay sang ông chủ chợ.

"Ông cho người khiêng cái cân ấy ra đây, tôi cân bằng đúng bộ quả cân này, trước mặt bà con."

"Sao lại lôi cân nhà tôi ra?"

"Vì hôm nay hội cân lại hàng cho mấy bà bị kêu, mà mấy bà ấy bán hàng cho cậu."

"Tôi không đồng ý."

"Cậu vừa bảo cân của cậu in giấy được, không chỉnh tay được."

"Cái trên bàn này thì thế."

"Còn cái sân sau thì không?"

Cậu ấy không đáp.

Ông chủ chợ gấp quyển sổ lại.

"Khiêng ra."

Bốn người khiêng cái cân bàn ấy ra sân, đặt xuống nghe một tiếng cạch.

Tôi ngồi xuống, xoay nó lại, và tôi nhìn cái khớp viền kính.

"Bà con lại đây xem giúp tôi một cái."

"Xem gì hả ông?"

"Cái viền giữ mặt kính này có bốn cái vấu."

"Rồi sao?"

"Bốn cái vấu này đều xước, xước mới, nước thép còn sáng."

"Xước thì sao?"

"Kính lắp ở xưởng thì viền nó trơn. Muốn tháo kính ra phải nạy bốn vấu, mà nạy thì nó xước như thế này."

"Có thể xước từ trước."

"Xước từ trước thì nó phải xỉn màu như cả cái cân. Cái này còn sáng."

Rồi tôi lật nó nghiêng.

Ở lưng cân, chỗ hai cái lỗ luồn dây niêm, không có sợi dây nào.

Không có cả viên chì.

"Chì niêm đâu rồi cậu?"

"..."

"Cậu bảo cậu chưa tháo bao giờ."

"Nó rơi."

"Chì niêm kẹp vào dây thép, dây thép luồn hai lỗ. Nó không rơi được, trừ khi có người cắt."

"Ông làm như ông biết hết."

"Tôi không biết hết. Tôi chỉ biết mỗi cái cân thôi."

Tôi lấy viên gang mười cân, đặt lên đĩa.

Kim chạy lên, dừng ở mười một hai.

"Mười cân mà nó chỉ mười một hai."

Đám đông ồ lên, tiếng ồ khác lúc nãy.

Tôi đặt thêm viên nữa.

Kim dừng ở hai mươi hai tư.

"Hai mươi cân thì nó chỉ hăm hai tư."

"Ông đặt sai."

"Cậu đặt lại giúp tôi."

Cậu ấy đặt lại thật, tay run, nhấc lên đặt xuống hai lần.

Kim vẫn dừng ở hai mươi hai tư.

"Thừa mười hai phần trăm. Đều tăm tắp."

Tôi đứng dậy, phủi tay vào ống quần.

"Bà con nghe tôi nói một câu thôi."

"Ông nói đi."

"Cân của bà Diệp thiếu hai phần trăm, thiếu ổn định, thiếu kiểu lò xo mỏi vì cũ, mà bà ấy bán khoai thì cái thiếu ấy vào túi khách, không vào túi bà ấy."

Bà Diệp bật khóc ở rìa vòng người.

"Còn cân sân sau của cậu Vỹ thừa mười hai phần trăm, thừa ổn định, thừa kiểu lò xo bị kéo căng lại cho ngắn đi, và cái thừa ấy vào túi ai thì bà con tự tính."

Cả sân im.

Ông chủ chợ hỏi, giọng khàn.

"Ông Chật, ông nói cho tôi hiểu. Cân nhập hàng mà chỉ nhiều lên thì lợi cho ai?"

"Ông cứ hỏi mấy bà bán rau cho cửa hàng ấy xem tháng rồi họ giao một tạ mà được ghi bao nhiêu."

Một bà đứng ở vòng ngoài nói vọng vào.

"Tôi giao một tạ mà cậu ấy ghi tám tám!"

"Tôi cũng thế! Tôi cân ở nhà chín chục, sang bên ấy còn bảy chín!"

"Tôi tưởng cân nhà tôi hỏng, tôi bỏ đi mua cân mới!"

Tiếng người nói chồng lên nhau, không ai nghe ai.

Cậu Vỹ đứng giữa bàn, một tay vẫn để trên cái cân điện tử của cậu ấy.

"Cậu Vỹ."

"..."

"Cậu vu cho tôi chỉnh cân điêu, mà cái cân duy nhất bị chỉnh trong chợ này là cân của cậu."

Cậu ấy không nói được câu nào.

Ông chủ chợ quay sang cậu ấy.

"Ba tờ đơn của khách cậu đưa hôm họp, cậu lấy ở đâu?"

"Khách viết."

"Khách nào?"

"Tôi... nhân viên tôi ghi hộ."

"Ghi hộ rồi ai ký?"

"..."

"Cậu về lấy ba tờ ấy ra đây."

Cậu ấy không về lấy.

Cậu ấy ôm cân điện tử ra khỏi sân, đi giữa hai hàng người.

Không ai chặn, và cũng không ai tránh ra cho cậu ấy đi.

Bà Diệp được trả lại sạp ngay chiều hôm ấy.

Hai tấm ván kê lại chỗ cũ, rổ khoai để lên, y như chưa có chuyện gì.

"Ông Chật ơi."

"Bà gọi tôi?"

"Tôi cảm ơn ông."

"Bà cảm ơn cái gì."

"Ông cứu tôi cái sạp."

"Tôi không cứu bà. Tôi cân mấy viên gang thôi."

"Ông làm tôi khóc giữa chợ đấy."

"Cái đó thì tôi xin lỗi bà."

Ông chủ chợ tới chỗ tôi lúc chợ đã vãn.

"Ông Chật, hội rút cái quyết định hôm qua rồi."

"Vâng."

"Ông vẫn vào chợ như cũ."

"Vâng."

"Ông không nói gì à?"

"Tôi nói gì bây giờ ông."

"Ông không giận hội?"

"Hội mười bảy người giơ tay. Mười bảy người ấy tôi sửa cân cho cả mười bảy."

Ông ấy đứng im một lúc rồi đi.

Tôi ngồi lại thu hòm, xếp mười hai viên gang vào chỗ cũ.

Bộ quả cân ấy tôi có từ năm hai mươi chín tuổi.

Thầy tôi để lại, dặn đúng một câu.

"Cái cân nào cũng nói dối được, chỉ có quả cân là không."

Ba mươi năm tôi giữ đúng một câu ấy.

Từ tuần sau, chợ này gọi tôi ít hẳn đi.

Không phải vì họ ghét tôi.

Là vì hôm ấy bốn chục người đứng xem tôi tháo cân, nghe tôi giảng bốn kiểu sai, và họ nhớ.

Bây giờ bà nào cân lệch cũng tự lật cân lên soi cái kẹp chì, tự đặt chai nước lên đĩa mà thử.

Cái tôi dạy giữa sân hôm ấy, tôi dạy đúng một lần, và nó ở lại trong chợ luôn.

Trước tôi ngồi chợ này bốn buổi một tuần.

Bây giờ tôi ngồi một buổi, ba buổi kia đạp sang mấy chợ xa hơn.

"Ông Chật, ông đi chợ trên à?"

"Ừ."

"Sao ông không ngồi đây nữa?"

"Ngồi đây thì ai gọi."

"Tại ông giỏi quá đấy ông ạ."

"Bà đừng nói thế."

"Ông dạy hết cho người ta thì ông ăn bằng gì?"

Tôi không trả lời câu ấy.

Vì đúng là tôi không có câu trả lời nào cho nó.

Có người bảo tôi thế là được: gỡ được oan, lại được cả chợ biết mặt.

Tôi thì tôi không nghĩ mình được.

Nghề của tôi sống bằng chỗ người ta không biết cái cân hỏng kiểu gì.

Hôm ấy tôi nói ra hết, vì có một bà bị đuổi khỏi sạp mà không cãi được câu nào.

Nói ra thì bà ấy về được sạp.

Còn cái phần tôi giữ trong bụng ba mươi năm để đổi lấy bát cơm thì tôi đem cho hết rồi, giữa sân chợ, không lấy đồng nào.

Thầy tôi dặn quả cân không nói dối.

Thầy tôi không dặn có ngày tôi phải đặt cả cái nghề mình lên đĩa cân ấy.

Bây giờ mỗi sáng tôi vẫn xách hòm ra khỏi nhà.

Hòm vẫn nặng đúng bằng ngày xưa.

Chỉ có quãng đường là dài thêm.

Chia sẻ:FacebookXThreadsTelegram

Đọc tiếp

Người đàn ông liệt nửa người nằm trong chòi lá giữa rẫy mía khô, và lúc mười hai giờ mười lăm thì gió trở hướng
Truyện

Người đàn ông liệt nửa người nằm trong chòi lá giữa rẫy mía khô, và lúc mười hai giờ mười lăm thì gió trở hướng

Mười một giờ trưa, cột khói bên kia con mương cạn còn trắng và đứng thẳng, và người đàn ông nằm trong cái chòi lợp lá cách đó hai trăm mét không nhìn thấy nó. Ông năm mươi tư tuổi, liệt nửa người sau tai biến, ra ở chòi giữ rẫy đã mười bốn tháng vì trong nhà chật và vì con dâu ông đang nghén. Từ mép phản xuống đất là bốn tấc, và bốn tấc ấy ông chưa xuống lần nào một mình. Người chăm ông là bà vợ năm mươi tuổi hỏng cả hai đầu gối, mỗi ngày ba lượt đi hai trăm mét trong mười một phút. Người hàng xóm bên kia mương đốt dọn rẫy từ bảy giờ sáng, phát ranh ba mét, xách theo hai thùng nước, đứng canh không rời. Khói trắng là lá còn ẩm, khói xám là lá đã khô, và khói nâu thì không còn ai canh được nữa. Trưa hôm ấy gió trở hướng, và cái mốc mà lửa vượt qua rồi thì không cứu kịp chỉ rộng có bốn mét.

· 33 phút đọc
Con sốt cao lên cơn co giật lúc mười một giờ đêm, đường độc đạo xuống thị trấn đã sạt mất mười hai mét từ chiều — người mẹ hai mươi ba tuổi đếm bằng nhịp thở vì trong nhà không có cái đồng hồ nào
Truyện

Con sốt cao lên cơn co giật lúc mười một giờ đêm, đường độc đạo xuống thị trấn đã sạt mất mười hai mét từ chiều — người mẹ hai mươi ba tuổi đếm bằng nhịp thở vì trong nhà không có cái đồng hồ nào

Mười một giờ đêm, đứa bé mười bốn tháng cứng người trong lòng mẹ nó, hai bàn tay nắm chặt, mắt trợn ngược lên trần nhà. Cách cái sàn gỗ ấy chừng bảy trăm mét, đoạn đường độc đạo xuống thị trấn đã trôi mất một khoảng dài bằng ba gian nhà từ lúc chiều, mà nhà cuối xóm thì không ai đi tới để kể. Người mẹ hai mươi ba tuổi ấy có một cái túi vải hoa treo trên vách, trong đó còn đúng hai viên thuốc hạ sốt, một cuốn sổ cân nặng và một cái nhiệt kế thuỷ ngân. Chị không có xe, không có sóng điện thoại, và không có cả một cái đồng hồ để biết cơn giật kéo dài bao lâu. Trong xóm có một bà cụ bảy mươi hai tuổi từng đỡ đẻ cho gần hết đám đàn bà ở đây, và bà biết một điều mà người mẹ chưa biết: đứa nào lên một cơn rồi mà không hạ được sốt thì nó sẽ lên cơn nữa, có đứa hai tiếng, có đứa nửa tiếng. Đêm ấy mười một người đàn ông ra đứng ở mép chỗ sạt với một cuộn dây thừng kéo gỗ và hai cái đèn pin. Và giữa mười hai mét đất đang trôi ấy, có một khoảnh khắc mà người mẹ buộc phải chọn: đứng lại, hay đi tiếp.

· 29 phút đọc
Cậu quản lý tiệm áo dài bắt tôi đền bộ lụa mười bốn triệu, rồi quay sang gặng con bé phụ việc tai nghễnh ngãng rằng mày có cắm điện bật thử cái bàn là không
Truyện

Cậu quản lý tiệm áo dài bắt tôi đền bộ lụa mười bốn triệu, rồi quay sang gặng con bé phụ việc tai nghễnh ngãng rằng mày có cắm điện bật thử cái bàn là không

Tôi tên Thấn, năm mươi hai tuổi, nhận giặt là tại nhà trong cái ngõ này hai mươi hai năm, một chậu tôn, một cái bàn là hơi và một cái bàn gỗ trải nỉ. Đồ tơ lụa tôi giặt tay, giặt xong là hơi, gấp vào giấy chống ẩm, áo dài lụa lấy công tám chục một bộ. Một năm nay tôi nhận đồ của một tiệm cho thuê áo dài ngoài phố, tuần mấy lượt, chưa hỏng bộ nào. Sáng thứ sáu ấy cậu quản lý tiệm dốc ngược cái túi giấy xuống nền sân tôi vừa xối nước, bảo bộ lụa mười bốn triệu bị cháy một mảng ở tà sau giữa lúc khách đang mặc thử. Cậu ấy bảo mỗi tháng giữ lại của tôi hai triệu tiền công, bảy tháng thì hết. Rồi cậu ấy không hỏi tôi nữa, cậu ấy quay sang con bé phụ việc hai mươi mốt tuổi đứng nép sau dây phơi. Tôi xin cậu ấy ba ngày, vì trên mặt cái vệt cháy ấy có một thứ mà người không đứng chậu giặt hai mươi hai năm thì không nhìn ra.

· 15 phút đọc