
Cậu quản lý tiệm áo dài bắt tôi đền bộ lụa mười bốn triệu, rồi quay sang gặng con bé phụ việc tai nghễnh ngãng rằng mày có cắm điện bật thử cái bàn là không
"Cái ngữ giặt nhà quê như bà thì biết gì hàng lụa mà bà đứng đấy bà chối?"
"Cậu đưa cái áo đây tôi xem đã."
"Xem gì nữa. Hỏng rồi. Bà đền."
"Cậu cứ đưa đây."
Cậu ta không đưa. Cậu ta dốc ngược cái túi giấy xuống nền sân tôi vừa xối nước.
Tôi tên Thấn, năm mươi hai tuổi, nhận giặt là tại nhà trong cái ngõ này hai mươi hai năm.
Đồ tơ lụa tôi giặt tay, giặt xong là hơi, gấp vào giấy chống ẩm; áo dài lụa lấy công tám chục một bộ.
Cậu đứng giữa sân tôi tên Trác, ba mươi tuổi, quản lý một tiệm cho thuê áo dài ngoài phố, gửi đồ sang tôi một năm nay.
"Bà biết bộ này bao nhiêu không?"
"Cậu nói tôi nghe."
"Mười bốn triệu. Lụa dệt tay, đặt riêng, cả tiệm có một bộ."
"Vâng."
"Bà lấy tám chục tiền công mà bà phá mười bốn triệu."
"Tôi chưa nhìn thấy chỗ hỏng, cậu ạ."
"Thì nhặt lên mà nhìn. Nhìn xong rồi cãi tiếp."
Tôi nhặt cái áo lên, phủi cát ở gấu, mang vào hiên.
Áo dài màu vàng mơ, cổ đứng, thân trước thêu mấy nhánh sen chỉ trắng.
Chỗ hỏng nằm ở tà sau bên phải, to chừng bàn tay, màu sẫm hơn cả áo.
Sờ vào thấy trơn, và nó cứng.
"Bà thấy chưa?"
"Thấy rồi."
"Cháy. Bà giặt bà nấu nước nóng quá chứ gì."
"Cậu nói lại tôi nghe. Cháy lúc nào?"
"Sáng nay. Cô khách mặc thử, xoay một cái là cả tiệm nhìn thấy."
"Cô khách có sao không?"
"Bà quan tâm chuyện ấy làm gì?"
"Tôi hỏi vì tôi muốn biết."
"Người ta bỏ về. Người ta đặt áo cưới hỏi, thành ra tiệm tôi mất luôn cả hợp đồng."
Tôi không đáp câu ấy.
Tôi lật cái tà lên, đưa ra chỗ sáng ngoài hiên, nhìn rất lâu.
"Bà lật đi lật lại làm gì?"
"Tôi xem."
"Xem chán thì thôi. Bên tiệm chốt rồi. Mỗi tháng tôi giữ lại của bà hai triệu tiền công."
"Hai triệu."
"Vâng. Bảy tháng thì hết."
"Cả tháng tôi làm chưa nổi hai triệu, cậu ạ."
"Thế thì mười tháng. Một năm. Tuỳ bà."
Tôi đặt cái áo lên bàn nỉ, ngồi xuống cái ghế con cạnh chậu tôn.
Cái ghế ấy tôi ngồi hai mươi hai năm, chân trước phải kê một mảnh gạch vỡ.
"Cậu Trác."
"Gì?"
"Bộ này tôi nhận hôm thứ mấy?"
"Thứ ba."
"Tôi trả cậu hôm nào?"
"Chiều thứ tư."
"Từ chiều thứ tư đến sáng nay là mấy ngày?"
"Bà hỏi vớ vẩn."
"Tôi cần biết trong quãng ấy nó nằm trong tay ai."
"Nằm trong khoang gỗ, bọc vải, chẳng tay ai cả."
"Vâng."
"Bà đừng giở cái lối ấy ra với tôi."
"Lối gì ạ?"
"Lối hỏi loanh quanh để đẩy sang đầu người khác."
Tôi không nói nữa, gấp cái áo lại để lên đầu bàn nỉ.
Bà Sính bán nước đầu ngõ ngó vào, tay còn cầm cái gáo.
"Có chuyện gì thế cô Thấn?"
"Chuyện vặt thôi bà ạ."
"Vặt gì mà vặt. Cậu ấy quát từ nãy, đầu ngõ cuối ngõ nghe hết."
"Bà ra trông quán kẻo khách."
Cái Đượm đứng nép sau cái dây phơi, nãy giờ không dám thở mạnh.
Nó hai mươi mốt tuổi, phụ tôi năm thứ ba, tai trái nghe kém từ bé nên nói hơi to.
Nó chưa được động vào bàn là, mới chỉ được vò đồ thường và phơi.
"Con kia."
"Dạ."
"Hôm thứ tư bà này là bộ áo ấy, mày đứng ở đâu?"
"Dạ cháu đứng ngay đây ạ."
"Mày có sờ vào nó không?"
"Cháu... cháu có bê ra phơi ạ."
"À."
Tôi ngẩng lên.
"Cậu Trác."
"Bà để yên tôi hỏi nó."
"Nó bê ra phơi là tôi sai nó bê."
"Càng hay. Hàng mười bốn triệu bà quăng cho một đứa phụ việc."
"Tôi sai nó phơi, tôi có sai nó là đâu."
"Ai chứng cho bà. Hay cả ngày bà cắm đầu vào chậu bà vò?"
Cái Đượm cúi đầu, tay xoắn vào gấu áo.
"Cháu không là cái áo ấy đâu ạ."
"Ai bảo mày là. Tao hỏi mày có cắm điện bật thử cái bàn là không."
"Cháu không biết dùng ạ."
"Không biết mới hay bật."
Tôi đứng lên.
Suốt buổi sáng tôi rời cái ghế ấy đúng hai lần, đều là để trở đồ trên dây.
"Cậu Trác, có gì cậu nói thẳng vào mặt tôi. Buông con bé ra."
"Tôi thích hỏi ai thì tôi hỏi."
"Đây là sân nhà tôi."
"Nhà bà thuê mỗi tháng bao nhiêu?"
"Một triệu hai."
"Một triệu hai. Bà nghe kỹ nhé, riêng cái khoang gỗ treo áo bên tôi đã hơn cả năm tiền thuê chỗ này."
"Cái khoang ấy đắt hơn sân tôi thì tôi nhận. Còn bộ áo, cậu khoan cho tôi ba ngày."
"Khoan để làm gì? Nó cháy đen ra đấy rồi."
"Để tôi soi xem cái gì đã đè lên nó."
Cậu ta bật ra một tiếng cười cụt.
"Bà đọc được cả thủ phạm cơ à?"
"Không. Nhưng sợi lụa nó khai hộ tôi."
"Bà ăn nói y như bà thầy cúng."
Cậu ta cầm cái túi giấy đi, ra tới đầu ngõ còn ngoái đầu.
"Ba ngày. Chủ nhật tôi quay lại. Chưa ngã ngũ thì tháng này tôi bắt đầu giữ tiền."
Chiều ấy tôi thu đồ muộn hơn thường lệ.
Cái Đượm không về. Nó ngồi trên bậc thềm, quay mặt vào tường.
"Cô ơi, cháu có bê cái áo ấy ra phơi thật."
"Bà biết. Cháu có cắm bàn là không?"
"Không ạ."
"Thế thì thôi."
"Nhưng cậu ấy đứng giữa ngõ cậu ấy nói."
"Cháu vào rửa cái mặt đi rồi về, tối rồi."
Nó vẫn ngồi nguyên.
"Cô ơi, hay cháu xin nghỉ. Cháu còn ở đây thì cô còn mang tiếng."
"Cháu vào đây với bà cái đã."
Nó đứng dậy đi theo tôi.
Tôi bật cái bóng đèn trên đầu bàn nỉ, lôi cái áo ra, trải cái tà sau lên.
"Cháu ghé sát vào. Cái vệt này có viền không?"
"Viền là sao ạ?"
"Là cái đường mép sẫm chạy vòng quanh, như ngấn nước trong chum."
"Cháu... cháu thấy không có ạ."
"Cháu lấy hộ bà cái áo lụa dây trà của bà Sính hôm nọ."
Nó lấy ra. Trên vai áo ấy có một vệt ố vàng nhạt, viền tròn rõ như vẽ.
Đến đây thì tôi buộc phải nói cái lý của nghề, người ngoài nghe khô, mà bỏ qua thì không hiểu chuyện về sau.
Vết ố nào cũng có gốc riêng, và nó ăn vào sợi theo kiểu riêng.
Nước trà, mồ hôi thì ngấm ra rồi khô dần từ mép, bao giờ cũng để lại một cái viền tròn.
Dầu mỡ thì loang, không viền, nhưng trong lòng vết sợi vẫn mềm.
Thuốc tẩy thì ăn màu đi thành vệt trắng, chứ không đắp thêm màu vào.
Còn tơ tằm gặp nhiệt cao thì bóng lên và cứng lại, thớ sợi bẹp xuống, không có cách nào hồi.
Gặp nước nóng thì nó co, mà co thì cả tấm rúm chứ không rúm đúng một bàn tay.
"Cháu sờ vào giữa vệt xem."
"Cứng ạ. Cứng như dán hồ."
"Nếu là nước nóng bà dội vào thì cả tấm phải rúm, chứ không rúm đúng một mảng bằng bàn tay."
"Vâng ạ."
"Cháu lấy hộ bà cái kính lúp trong ngăn kéo."
Tôi soi vào giữa cái mảng bóng ấy, soi nghiêng theo chiều ánh đèn.
"Cháu ghé mắt vào đây."
"Cháu thấy mấy cái chấm tròn nhỏ ạ. Chấm nó xếp thành hàng thẳng."
"Cháu đếm hộ bà."
"Một... hai... ba... cô ơi có sáu cái, xong lại một hàng sáu cái nữa."
"Còn cái rìa mảng bóng ấy?"
"Nó có góc ạ. Một đầu nhọn, nhọn về phía gấu."
Tôi để kính xuống, kéo cái bàn là hơi lại gần.
"Cháu lật cái mặt đế bàn là của bà lên."
Nó lật. Đế nhôm thuôn, một đầu nhọn, có hai hàng lỗ hơi, mỗi hàng sáu cái.
Nó ngẩng lên, mắt mở to ra.
"Cô ơi, cái vệt trên áo là hình cái bàn là ạ?"
"Là hình cái bàn là."
"Nhưng bàn là của cô cũng sáu lỗ."
"Ừ. Cho nên chưa xong đâu cháu."
"Chưa xong là sao ạ?"
"Bà phải biết nó là cái bàn là nào. Cháu lấy cho bà tờ giấy can với cái bút chì."
Tôi trải tờ giấy can lên cái mảng bóng, lấy cạnh bút chì tô nghiêng.
Tô xong thì hiện ra cái hình: một mũi nhọn, hai hàng chấm, ở đuôi có một vệt gờ ngang.
Rồi tôi đặt cái bàn là của tôi lên tờ giấy can ấy, ướm.
"Cháu nhìn hộ bà."
"Đế của cô ngắn hơn ạ, ngắn chừng hai đốt tay. Mà đuôi đế của cô lại trơn, không có cái gờ ngang kia."
"Cháu gấp tờ giấy can ấy vào quyển sổ, để trong ngăn kéo thứ hai."
"Cháu để đấy làm gì ạ?"
"Để chủ nhật."
Nó cất tờ giấy vào, rồi nấn ná chưa chịu về.
"Cô ơi, vậy là cô thoát rồi đúng không ạ?"
"Chưa chắc. Rành với hai bà cháu thôi, người ngoài họ đã nhìn thấy gì đâu."
Thứ bảy bên tiệm cho con bé trực quầy mang sang năm bộ.
"Bà ơi, anh Trác dặn bà làm gấp, thứ hai có đoàn chụp ảnh."
"Ừ. Cháu khoan về đã. Bộ vàng mơ ấy, từ chiều thứ tư tới sáng thứ sáu có ai lôi ra khỏi khoang không?"
"Có ạ. Chiều thứ năm có khách hỏi thuê, người ta chê tà bị nhăn một vệt dài."
"Rồi thế nào nữa?"
"Cháu chịu ạ. Cháu chỉ đứng ngoài quầy thôi."
Nói xong nó lỉnh nhanh ra ngoài, chẳng dám ngoảnh đầu.
Chủ nhật, cậu Trác đến sớm hơn giờ hẹn, kéo theo một chị trạc bốn mươi lăm, xách cái ví da.
"Bà Thấn, đây là chị Bổn, chủ tiệm."
"Chào chị."
"Chào bà. Tôi sang đây cho mọi thứ ngã ngũ."
Ngõ này chủ nhật là đông nhất. Bà Sính bỏ cả quán nước, mấy nhà hai bên ra đứng ở cửa.
Cái Đượm đứng nép sau lưng tôi.
"Bà Thấn, tôi nói ngắn thôi. Bộ áo mười bốn triệu, tôi không lấy bà cả, tôi lấy bà tám."
"Vâng."
"Bà gật là mọi chuyện êm."
"Tôi chưa gật. Tôi mới nói vâng, tức là tôi đã nghe."
Cậu Trác chen ngang.
"Chị Bổn, em bảo chị rồi. Bà này lắm lý sự, chị nghe thì mất toi buổi sáng."
"Cậu Trác, cậu đứng ra một bên."
Chị Bổn quay sang tôi.
"Một năm nay bà nhận đồ của tiệm tôi, chưa hỏng bộ nào. Vậy sao đúng bộ này lại hỏng?"
"Chị hỏi được đúng cái câu cần hỏi. Nhưng chị khoan, cho tôi vặn cậu Trác đã."
"Bà cứ vặn."
Tôi quay sang cậu ta.
"Cậu Trác, chiều thứ tư tôi trả áo, lúc ấy cậu mở ra xem thấy thế nào?"
"Phẳng. Sạch. Không sao cả."
"Cậu nói to lên cho chị Bổn nghe."
"Tôi nói rồi đấy. Lúc nhận phẳng, không sao cả."
"Vâng. Từ chiều thứ tư tới sáng thứ sáu, cậu dám chắc không ai lôi nó ra chứ?"
"Đã bảo rồi. Nó nằm trong khoang gỗ, bọc vải tử tế."
"Cậu nhắc lại câu ấy trước mặt chị Bổn nhé."
"Trăm lần vẫn thế. Chẳng ai lôi nó ra."
"Cả ngõ nghe rõ rồi đấy."
"Bà định doạ tôi đấy à?"
"Không. Tôi chỉ mong cậu nhớ tôi đã hỏi cậu tới ba lượt."
Tôi trải cái áo lên bàn nỉ, lật cái tà sau ra, kéo cái đèn xuống thấp.
"Chị Bổn, chị sờ vào giữa vệt rồi sờ ra ngoài rìa hộ tôi."
Chị ấy sờ hai lượt.
"Giữa thì cứng. Ra rìa thì mềm."
"Chị nhìn quanh nó, có cái ngấn nào vòng lấy vết không?"
"Không. Chẳng có ngấn nào."
Cậu Trác bước lại gần.
"Không ngấn thì sao? Nước sôi dội xuống thì lấy đâu ra ngấn."
"Nước sôi dội thì cả tấm phải co, cậu ạ. Chị Bổn, chị cầm hai vai áo kéo căng giúp tôi."
Chị ấy kéo. Cái áo phẳng lì, chẳng chỗ nào rúm.
"Thế thì nó cháy bằng cái gì?" Chị Bổn hỏi.
"Chị cầm cái kính lúp này, soi nghiêng theo bóng đèn."
"Tôi thấy mấy cái chấm nhỏ. Một hàng sáu, có hai hàng. Rìa vệt thì một đầu nhọn."
"Vâng. Mười hai lỗ hơi, hai hàng, một đầu nhọn. Cái vệt ấy là hình một cái đế bàn là."
Tôi đặt cái bàn là của tôi lên mặt bàn, lật ngửa đế lên.
"Chị đếm lỗ hơi bàn là của tôi."
"Cũng mười hai."
Cậu Trác nói ngay.
"Đấy. Chính bà vừa nhận là bàn là bà giống hệt."
"Cái Đượm, lấy tờ giấy can trong ngăn kéo."
Nó chạy vào, mang ra.
Tôi trải tờ giấy can lên mặt bàn nỉ, dưới cái đèn.
"Chị Bổn, cái hình này tôi tô từ mặt cái vệt trên tà áo, tối thứ sáu, có con bé nó đứng cạnh."
"Tôi nhìn."
"Chị đặt cái bàn là của tôi lên đúng cái hình ấy."
Chị ấy ướm xuống, dịch qua dịch lại.
"Không vừa. Cái này ngắn hơn cái hình chừng hai đốt tay."
"Chị nhìn cái đuôi hình."
"Có một vệt ngang."
"Vệt ngang ấy là cái gờ chắn ở đuôi đế. Bàn là của tôi đuôi trơn."
Chị Bổn lật ngửa cái bàn là của tôi lần nữa, rồi đặt xuống.
"Bà nói gọn lại cho tôi nghe."
"Vệt trên tà áo là hình một cái bàn là dài hơn của tôi hai đốt tay, đuôi có gờ."
"Nghĩa là sao?"
"Nghĩa là cái tà ấy bị úp bàn là lên, để lâu, mà không phải bàn là của tôi."
"Bà bịa!"
"Cậu Trác."
"Dạ?"
"Áo treo khoang gỗ. Chìa khoá khoang gỗ ai giữ?"
"..."
"Tôi hỏi cậu."
"Em giữ."
"Chiều thứ năm khách chê tà nhăn. Ai đem đi là?"
"Chị..."
"Cậu trả lời tôi."
"Em là."
Cả cái ngõ im.
Bà Sính đứng bên kia lối, cái gáo vẫn cầm trên tay.
"Cậu là bằng cái gì?"
"Bàn là trong kho. Cái to."
"Cậu có kê vải lót không?"
"Em vội."
"Cậu để nó nằm đấy bao lâu?"
"Em... em đang là thì khách gọi ngoài quầy. Em ra một lúc."
"Cậu quay vào thì thấy gì?"
"Thấy chỗ ấy nó bóng lên."
"Rồi cậu làm gì?"
"Em gấp lại treo vào."
"Cậu có hé cho chị Bổn nửa lời nào không?"
"Em tính đầu tuần em thưa."
"Đầu tuần là mai."
"..."
"Cậu Trác, sáng thứ sáu cậu vào tận sân này, cậu chỉ mặt tôi cậu bảo tôi phá bộ áo."
"Em cứ ngỡ tại bà giặt nên nó mục sẵn."
"Cậu ngỡ."
Cậu ta xoay về phía tôi, mặt trắng bệch ra.
"Bà Thấn, cháu... cháu đâu có muốn nó ra nông nỗi này."
Tôi im, gấp bộ áo theo nếp cũ, lót giấy chống ẩm vào giữa hai tà.
"Bà Thấn, bà nói với cháu câu gì đi."
"Tôi có một câu. Nhưng không dành cho cậu."
Tôi ngoảnh về phía cái Đượm.
Nó vẫn nép sau dây phơi, tay bấu chặt gấu áo.
"Cháu bước ra đây, đứng cạnh bà."
Nó bước lên một bước.
"Cậu Trác, hôm thứ sáu cậu đứng đúng chỗ ấy, cậu gặng con bé này xem nó có bật bàn là không."
"..."
"Cậu gặng nó giữa ngõ, ai cũng trông vào."
"Cháu..."
"Nó hai mươi mốt, tai trái nghễnh ngãng, ba năm nay tôi chưa cho nó chạm vào cái bàn là nào."
"Lúc ấy cháu đang cáu."
"Cái người ta khắc trong đầu là câu cậu gặng nó hôm ấy. Còn cái cậu nhận hôm nay thì mai họ quên."
"Thế cháu phải xoay xở làm sao bây giờ?"
"Chuyện của cậu. Tôi không có phận sự chỉ bảo cậu."
Chị Bổn đặt cái ví xuống mép bàn nỉ.
"Bà Thấn, lỗi ở bên tiệm tôi. Bà muốn tôi làm gì thì bà cứ nói ra."
"Tôi chẳng xin chị đồng nào. Áo không do tay tôi hỏng thì tôi không phải bỏ tiền, với tôi thế là hết chuyện."
"Còn năm bộ hôm thứ bảy..."
"Năm bộ ấy xong từ chiều qua, chị cho người bê về."
"Bà Thấn."
"Chị cứ nói."
"Cái câu chị cần nói là nói với con bé kia, đừng nói với tôi."
Chị Bổn xoay người về phía cái Đượm, tiến lại gần, và cất giọng to hơn thường ngày.
"Cháu ơi, cô nhận lỗi với cháu. Người bên cô đã vu oan cho cháu."
Cái Đượm không thốt được tiếng nào. Nó chỉ gật đầu.
Cậu Trác đứng lùi phía sau, cũng lên tiếng, mà nhỏ hơn nhiều.
"Anh xin lỗi em."
Cái Đượm gật thêm lần nữa.
Hai người khuất đầu ngõ thì xung quanh mới lao xao trở lại.
Bà Sính bước sang.
"Sao cô tài thế, nhìn phát ra ngay?"
"Tài giỏi gì đâu. Tôi chỉ tô lại cái hình in trên áo."
"Tô mà ra được cơ à?"
"Vật gì đè lên tấm lụa thì để lại đúng khuôn mặt nó, bà ạ. Lụa không biết chối đỡ cho ai."
Sang tháng thì bên tiệm thôi hẳn.
Chị Bổn nhắn mấy chữ, bảo bên chị thu xếp lại, giặt tại tiệm cho gọn.
Tôi chẳng nhắn lại. Người của chị mà bước vào ngõ này thì hàng xóm lại lôi chuyện cũ ra kể.
Cả năm qua tiền tiệm ấy trả chiếm quá nửa cái tôi kiếm được mỗi tháng.
Đứt mối ấy là tôi lùi về đúng chỗ trước khi có nó, vò mấy chậu đồ thường cho các nhà quanh đây.
Chuyện ấy tôi gánh được.
Chuyện tôi gánh không nổi là chuyện sau đây.
Cuối tháng, mẹ cái Đượm vào sân, xách theo một túi ổi.
"Cô Thấn, tôi định cho cháu nó thôi. Tôi xin được cho nó chân đứng máy ở xưởng giặt ngoài thị trấn."
"Cháu theo tôi ba năm rồi chị ạ. Ráng thêm năm nữa là nó cầm được cái bàn là."
"Tôi hiểu chứ. Nhưng nó không muốn quanh quẩn cái ngõ này nữa."
Tôi đưa mắt sang cái Đượm.
Nó nấp sau vai mẹ nó, mắt cắm xuống đất.
"Cháu ngẩng lên cho bà xem cái mặt nào."
Nó ngẩng lên. Mắt ráo hoảnh, chẳng có giọt nào.
"Cháu sợ hả?"
"Cháu chẳng sợ gì ạ."
"Vậy cớ gì mà bỏ?"
"Người ta đã xin lỗi cháu tử tế rồi ạ."
"Ừ."
"Mà bước chân ra ngõ là ai cũng gạn hỏi cháu vụ ấy."
"Họ gạn thì cháu cứ kể."
"Cháu kể chán ra rồi ạ."
"..."
"Kể lần đầu thì người ta tin cháu oan. Kể tới lần thứ mười thì hoá ra cháu là con bé từng bị nghi làm cháy áo."
Tôi ngồi lặng.
Hai mươi hai năm bên cái ghế kê gạch này, tôi đánh bật được vết mực khỏi cổ lụa, cứu được tấm khăn gấm bị hắt nước mắm.
Riêng cái vết ấy thì tôi không có thuốc nào tẩy.
"Vào xưởng rồi thì cháu ghi cho bà hai điều."
"Dạ."
"Lồng sấy công nghiệp nóng gấp mấy lần cái bàn là. Đồ tơ thì đừng bao giờ nhét vào đấy."
"Cháu ghi ạ."
"Điều nữa là cái gì cũng phải biết nhấc tay đúng lúc. Sợi lụa không cho ai đè mãi một chỗ đâu."
Nó gật, rồi theo mẹ nó ra ngoài.
Tới ngang quán nước bà Sính thì nó ngoái đầu lại.
"Cô ơi, tờ giấy can hôm nọ cô có còn không ạ?"
"Vẫn còn."
"Cô cất hộ cháu nhé."
"Ừ."
Giờ tờ giấy can ấy vẫn kẹp trong quyển sổ biên đồ nhận, ngăn kéo thứ hai.
Chiều nào cất đồ xong tôi cũng dựng đứng cái bàn là, rút phích, chờ nguội hẳn mới thu.
Cái ghế nhựa nó hay ngồi vò đồ thì tôi để y nguyên bên chậu tôn.
Chẳng phải để dành cho ai.
Để vậy thôi.


