
Con sốt cao lên cơn co giật lúc mười một giờ đêm, đường độc đạo xuống thị trấn đã sạt mất mười hai mét từ chiều — người mẹ hai mươi ba tuổi đếm bằng nhịp thở vì trong nhà không có cái đồng hồ nào
Đứa bé mười bốn tháng tuổi cứng người trong lòng mẹ nó lúc mười một giờ đêm, hai bàn tay nắm chặt lại, mắt trợn ngược lên trần nhà.
Cách cái nền đất ấy chừng hai cây số xuống dốc, đoạn đường độc đạo ra thị trấn đã trôi mất một khoảng dài bằng ba gian nhà, từ lúc chiều.
*
Xóm nằm vắt ngang một sườn núi, mười chín nóc nhà, gỗ và tôn, dựng theo hai bậc đất.
Từ đó xuống chỗ có đường nhựa là bảy cây số dốc, và con đường ấy chỉ có một.
*
Mùa này nó là đường đất trộn đá dăm, mặt đường rộng vừa đủ hai người tránh nhau, một bên là vách, một bên là vực có cây mọc kín nên nhìn xuống chỉ thấy lá.
*
Chiều hôm ấy trời mưa từ hai giờ, thứ mưa không to nhưng không nghỉ.
Đến bốn giờ thì có một tiếng ục rất trầm ở khúc cua thứ ba, nghe như ai kéo lê một bao tải ướt trên mái nhà.
*
Không ai trong xóm nghe thấy tiếng đó, vì bốn giờ chiều thì mưa trên mái tôn đã là một thứ tiếng lấp hết mọi tiếng khác.
*
Người biết trước tiên là hai đứa nhỏ đi bắt ốc, năm giờ về ngang.
Chúng đứng ở mép và nhìn cái chỗ mà buổi sáng còn là đường.
*
Bây giờ chỗ đó là một mảng đất nghiêng, màu nâu đỏ, ướt bóng, chảy từ trên vách xuống rồi đổ luôn xuống vực.
Bề ngang chỗ mất chừng mười hai mét.
*
Hai đứa nhỏ về báo, và người lớn ra xem, đứng dưới mưa chừng mười phút.
Rồi họ về, vì đứng thêm cũng không làm được gì, và vì cơm đã dọn.
*
Đó là chuyện của buổi chiều.
Không ai nối nó với chuyện gì sắp xảy ra trong đêm, bởi vì buổi chiều thì thằng bé con nhà cuối xóm vẫn còn bò ra cửa nghịch cái vỏ lon.
*
Mẹ nó hai mươi ba tuổi, tên Dí, người xóm gọi là con Dí, và chị lấy chồng năm mười chín.
Chồng chị đi làm ở một công trường dưới xuôi, đi từ ra Giêng, hai tháng gửi tiền về một lần.
*
Nhà chị là gian cuối, sát bìa rừng, vách gỗ ghép, mái tôn, nền đất nện.
Trong nhà có một cái giường, một cái bếp kiềng ba chân, một cái tủ nhựa hai ngăn, và một cái đèn tích điện sạc bằng tấm pin nhỏ trên mái.
*
Trên vách, treo một cái túi vải hoa đã bạc, loại túi người ta phát cho các bà mẹ đi cân con.
Trong túi có một cuốn sổ theo dõi cân nặng, một cái nhiệt kế thuỷ ngân, và ba viên thuốc hạ sốt loại nhét hậu môn, gói trong giấy bạc.
*
Ba viên đó chị Dí xin được từ tháng trước, và chị cất trên vách vì trong nhà không có tủ lạnh.
Chỗ đó là chỗ mát nhất mà chị nghĩ ra được.
*
Thằng bé tên Chấn, mười bốn tháng, biết đi được chừng mươi bước rồi ngồi phịch.
Nó ho từ ba hôm trước, tiếng ho khan, và chị Dí cho nó uống nước gừng pha đường.
*
Chiều hôm ấy nó bỏ bữa, chỉ bú.
Chị sờ trán thấy ấm, kẹp nhiệt kế vào nách nó, đợi năm phút, rồi đưa ra ánh đèn nhìn.
*
Ba mươi tám độ hai.
Chị lau người cho nó bằng khăn nhúng nước ấm, cho nó nhét một viên thuốc, và tới bảy giờ tối thì trán nó dịu lại.
*
Chị Dí nấu cơm, ăn một bát, để phần một bát úp lồng bàn.
Thằng Chấn nằm trên giường, ngủ, hai tay giơ lên ngang đầu như mọi đêm.
*
Chín giờ, mưa nhỏ lại.
Chị Dí ra hiên vắt cái tã, và đứng nhìn xuống phía dốc chừng nửa phút vì bên dưới có tiếng nước chảy lạ hơn mọi hôm.
*
Chị không biết cái tiếng ấy là gì.
Người trong xóm đã ra xem chỗ sạt lúc chiều, nhưng nhà chị ở cuối, và hôm đó không ai đi tới cuối xóm để kể.
*
Mười giờ, chị tắt đèn.
Mười giờ bốn mươi, chị tỉnh dậy vì thằng bé đạp chân vào bụng chị.
*
Chị đưa tay sờ lên trán nó và chị rụt tay lại.
Cái trán ấy không còn là ấm.
*
Chị bật đèn tích điện, kẹp nhiệt kế, và lần này chị không đợi hết năm phút.
Chị rút ra xem lúc ba phút, thấy cột thuỷ ngân đã qua vạch ba mươi chín.
*
Thằng bé thở nhanh, môi khô, hai gò má đỏ như bôi phẩm.
Chị Dí cởi áo nó ra, lấy khăn nhúng nước ấm, lau nách, lau bẹn, lau lưng.
*
Chị với tay lên vách lấy cái túi vải hoa.
Trong túi còn hai viên thuốc.
*
Chị bóc một viên, và chị làm cái việc chị đã làm hồi chiều.
Rồi chị bế nó lên, ngồi dựa vào vách, ru bằng cách vỗ nhẹ vào mông nó theo nhịp.
*
Mười một giờ kém năm, thằng Chấn nôn ra một ít nước trong.
Mười một giờ, nó cứng người.
*
Cái cứng ấy đến rất nhanh.
Toàn thân nó duỗi thẳng ra như một khúc cây, hai cánh tay co lên trước ngực, hai bàn tay nắm chặt, ngón cái quặp vào trong.
*
Mắt nó mở, nhưng con ngươi kéo ngược lên phía trên, chỉ còn lòng trắng.
Rồi nó bắt đầu giật, từng nhịp, đều, cả hai bên người cùng lúc.
*
Chị Dí không kêu.
Trong ba giây đầu chị không làm gì cả, vì trong ba giây đầu cái đầu người ta không nhận ra được cái mình đang nhìn.
*
Rồi chị hét, và chị hét đúng một tiếng.
Chị lao ra cửa, chân không, ôm con trước ngực, chạy ngược lên dốc xóm.
*
Nhà bà Mải cách đó bốn nhà.
Bà bảy mươi hai tuổi, ngày trước đỡ đẻ cho gần hết đám đàn bà trong xóm này, và có mấy năm đi theo mấy đoàn khám lưu động lên bản để bế trẻ và giữ chân trẻ cho người ta tiêm.
*
Bà không có bằng cấp gì cả.
Bà chỉ có bốn mươi năm nhìn trẻ con lên cơn và nhìn người lớn làm sai.
*
Chị Dí đạp cửa nhà bà bằng cả người.
"Bà Mải! Bà Mải ơi!"
*
Bà Mải ra, tay cầm đèn pin, và bà chiếu vào đứa bé trước khi bà nhìn mặt người mẹ.
"Đưa đây."
"Nó cứng đơ rồi bà ơi!"
"Đưa đây tao. Đừng có ghì."
*
Chị Dí đang ôm chặt hai tay thằng bé vào ngực mình để giữ cho nó khỏi giật.
Bà Mải gỡ hai bàn tay chị ra khỏi người thằng bé.
*
"Buông ra."
"Con giữ cho nó khỏi giật."
"Mày giữ là gãy tay nó. Buông."
*
Bà đặt thằng bé xuống chiếu, nằm nghiêng sang bên trái, đầu hơi ngửa ra sau, mặt hướng xuống đất.
Rồi bà kéo cái áo ướt trên người nó ra, quăng sang một bên, để nó nằm trần trên chiếu.
*
"Cởi hết ra hả bà."
"Ừ. Nó đang như cái lò. Bọc vào là hầm nó."
*
Bà Mải nhìn cái đồng hồ treo trên vách, loại đồng hồ pin mặt tròn.
Kim giây đang đi qua số bốn.
*
"Mấy giờ nó bắt đầu."
"Con không biết. Vừa xong. Vừa nãy."
"Vừa nãy là mấy nhịp thở."
"Con không đếm."
*
Bà Mải không hỏi nữa.
Bà ngồi xuống cạnh chiếu và bà nhìn kim giây.
*
Chị Dí đứng ở giữa nhà, hai tay buông thõng, và chị nhìn cái miệng đang sùi bọt của con mình.
Chị bước tới một bước, quỳ xuống, và chị đưa ngón tay về phía cái miệng ấy.
*
Bà Mải gạt tay chị ra, mạnh.
"Không được thò tay vào mồm nó."
"Nó cắn lưỡi bà ơi."
"Nó không cắn được. Mày thò vào là nó cắn tay mày, rồi tay mày lại chặn họng nó."
*
Chị Dí rụt tay về.
Ở góc nhà, trên cái chạn, có một quả chanh và một con dao.
*
"Nhà bà có chanh không bà."
"Có. Mày định làm gì."
"Người ta bảo vắt chanh vào mồm cho nó tỉnh."
"Người ta bảo là người ta bảo. Đứng im đấy."
*
Bà Mải chỉ nói tới đó.
Bà không giảng vì bà đang đếm.
*
Cơn giật kéo được một phút mười giây thì thưa dần.
Rồi nó dừng.
*
Thằng bé mềm ra, cả người, như một cái bao vải người ta thả xuống.
Hai tay nó duỗi ra hai bên, miệng vẫn hé, và có nước dãi chảy xuống chiếu.
*
Chị Dí chồm tới.
"Chấn ơi."
*
Nó không đáp.
Nó thở, đều, nhưng nó không đáp.
*
"Nó chết rồi hả bà."
"Nó ngủ."
"Sao nó không mở mắt."
"Lên cơn xong đứa nào cũng thế. Nó lịm chừng nửa tiếng."
*
Bà Mải áp mu bàn tay lên trán thằng bé, rồi lên gáy, rồi lên bụng.
Bà để tay ở bụng lâu hơn hai chỗ kia.
*
"Bà ơi."
"Ừ."
"Bà nói thật đi. Có sao không bà."
*
Bà Mải rút tay về và bà lau lên vạt áo.
"Sốt cao co giật thì đứa nào cũng có thể lên một cơn. Một cơn thì thường không sao."
"Vâng."
"Nhưng nó đang nóng hơn lúc lên cơn."
*
Bà đứng dậy, ra bếp, xách vào một chậu nước.
Bà nhúng tay xuống thử, rồi bà chế thêm nước sôi từ cái phích vào, thử lại.
*
"Ấm thôi. Đừng lấy nước lạnh."
"Nước lạnh cho mát chứ bà."
"Lạnh thì nó run. Run là nó nóng thêm. Cứ ấm hơn tay mình một tí."
*
Hai người đàn bà lau cho thằng bé trên chiếu.
Lau nách, lau bẹn, lau hai bên cổ, khăn nhúng lại liên tục.
*
Được chừng mười phút thì bà Mải dừng tay.
Bà cầm cổ tay thằng bé, đặt hai ngón lên, và bà nhìn xuống nền nhà chứ không nhìn ai.
*
"Con Dí."
"Dạ."
"Mày phải bế nó xuống chỗ có bác sĩ ngoài thị trấn."
"Giờ này hả bà."
"Giờ này."
*
Chị Dí ngẩng lên.
Ngoài cửa, trời vẫn mưa, thứ mưa hạt nhỏ đi xiên, và không nhìn thấy gì quá năm mét.
*
"Bà ơi, chồng con không có nhà. Xe cũng không có."
"Nhà thằng Vạc có xe."
"Xe nó hỏng côn từ tuần trước bà ơi."
"Thế thì nhà thằng Sảo."
*
Chị Dí bọc con vào cái khăn tắm khô của bà Mải, và chị chạy.
Chị chạy đúng bốn nhà thì tới sân nhà anh Sảo, và trong sân có một cái xe máy dựng dưới mái hiên, phủ bao ni lông.
*
"Anh Sảo ơi!"
*
Đèn trong nhà bật.
Anh Sảo ra, mặc quần đùi, tóc bết, và anh nhìn cái bọc trên tay chị Dí.
*
"Con mày làm sao."
"Nó co giật. Anh chở con xuống thị trấn với."
"Giờ này?"
"Anh ơi, bà Mải bảo phải đi ngay."
*
Anh Sảo đứng im hai giây.
Rồi anh quay vào nhà lấy áo mưa, và anh vừa mặc vừa nói vọng ra.
*
"Đường sạt rồi mày biết chưa."
"Sạt là sạt thế nào."
"Chiều nay. Khúc cua thứ ba. Mất đứt một đoạn."
*
Chị Dí đứng dưới hiên, tay ôm con, và chị không hiểu ngay cái câu đó.
Chị đã đi con đường ấy cả nghìn lần, và trong đầu chị con đường ấy vẫn nguyên.
*
"Mất là mất bao nhiêu hả anh."
"Tao chưa ra xem. Thằng Nhị nó bảo hơn chục mét."
"Hơn chục mét thì mình dắt xe qua được không anh."
"Không phải mặt đường bị lún đâu mày. Là nó không còn cái mặt đường nào ở đấy nữa."
*
Anh Sảo dắt xe ra sân.
Anh vẫn đi, vì trong lòng anh cũng chưa tin hẳn cái điều anh vừa nói ra.
*
Người ta phải nhìn thấy thì người ta mới tin.
Cả anh, cả chị Dí, đêm ấy đều đi ra khúc cua thứ ba để nhìn thấy.
*
Xe chạy số một, đèn vàng, mưa hắt ngang.
Chị Dí ngồi sau, một tay bám hông anh Sảo, một tay ôm con áp vào ngực, cúi gập người xuống che cho nó.
*
Từ nhà anh Sảo ra khúc cua thứ ba là non hai cây số.
Đi hết chừng mười một phút, vì đường trơn và anh không dám vặn ga.
*
Đèn xe quét lên một khoảng trống, và anh Sảo bóp phanh trước khi anh kịp nghĩ.
*
Chỗ đó không có đường.
Từ mép đất bên này sang mép đất bên kia là một cái máng nghiêng, đất nhão, không một chỗ bằng, và ở giữa có mấy thân cây nhỏ nằm ngang, rễ chổng lên.
*
Nước từ trên vách vẫn chảy xuống thành một dòng mỏng, đều, kéo theo bùn loãng.
Bùn ấy đi qua cái máng rồi rơi xuống dưới, và không nghe thấy tiếng nó chạm đáy.
*
Anh Sảo dựng xe, đi lên trước ba bước, soi đèn pin.
Rồi anh quay lại.
*
"Không qua được."
"Anh thử đi. Xe nhẹ mà."
"Mày nhìn đi. Xe nào."
*
Chị Dí bước tới mép.
Chị soi đèn pin của bà Mải xuống, và cái vệt sáng ấy đi được ba mét thì gãy vào một khoảng nâu đỏ nhão.
*
"Vậy đi vòng đường bên kia núi đi anh."
"Đường bên kia là hai mươi hai cây. Mưa thế này chạy bốn tiếng chưa chắc tới."
"Bốn tiếng."
"Mà đường đó cũng đang mưa. Nó sạt chỗ nào nữa thì bố ai biết."
*
Chị Dí đứng dưới mưa, ôm con.
Thằng Chấn trong khăn vẫn mềm, đầu ngoẹo sang một bên vai chị.
*
Chị đưa mu bàn tay lên má nó.
Cái má ấy vẫn nóng như lúc ở nhà bà Mải, có khi hơn.
*
"Anh Sảo."
"Gì."
"Điện thoại anh có sóng không."
*
Anh Sảo rút máy trong túi áo mưa ra, giơ lên cao, xoay một vòng.
Màn hình sáng, góc trên trống trơn.
*
"Không."
"Chỗ nào có."
"Đi xuống nữa. Qua khỏi chỗ này chừng cây số thì có một vạch."
*
Cái vạch sóng ấy nằm ở bên kia chỗ sạt.
Cả cái thị trấn, cả bác sĩ, cả điện thoại, đều nằm ở bên kia.
*
Chị Dí quay đầu nhìn ngược lên phía xóm.
Trên đó có mười chín nóc nhà đang tắt đèn, và không có gì khác.
*
"Mình lội qua được không anh."
"Đất đấy đang chảy. Đặt chân xuống là nó tụt."
"Em nhẹ."
"Mày nhẹ thì mày tụt chậm hơn tao ba giây."
*
Anh Sảo nói câu đó xong thì anh im.
Rồi anh làm một việc mà sau này cả xóm còn nhắc: anh nổ máy xe, quay đầu, và anh bảo chị Dí lên.
*
"Đi đâu anh."
"Về gọi người."
*
Mười một giờ năm mươi bốn phút, sân nhà bà Mải sáng đèn.
Đến mười hai giờ mười thì trong sân đó có mười một người đàn ông và bốn người đàn bà.
*
Không ai họp hành gì cả.
Anh Sảo nói ba câu, và ba câu đó là: đường mất, thằng bé co giật, phải qua bên kia.
*
Bà Mải ngồi trên bậu cửa, thằng Chấn nằm trên đùi bà, và bà là người nói câu thứ tư.
*
"Nó lên cơn lúc mười một giờ."
"Rồi sao bà."
"Đứa nào lên một cơn rồi mà không hạ được sốt thì nó lên cơn nữa."
"Bao lâu thì lên nữa hả bà."
"Tao không biết. Có đứa hai tiếng. Có đứa nửa tiếng."
*
Người đàn ông đứng gần cửa nhất là ông Kỳ, sáu mươi tuổi, làm nghề bắt ong và lấy măng, người thuộc rừng nhất xóm.
Ông không nói gì trong lúc mọi người bàn.
*
Ông đi vào bếp nhà bà Mải, lấy cái đèn pin lớn loại đèn soi ếch, và ông thử bật tắt hai lần.
Rồi ông ra sân.
*
"Thằng Sảo."
"Dạ bác."
"Nhà mày còn cuộn dây thừng kéo gỗ không."
"Còn. Chừng ba chục mét."
"Vác ra. Đứa nào có dao quắm thì mang theo một cái."
*
Ông Kỳ không nói sẽ làm gì.
Ông chỉ nói cần cái gì, và người ta đi lấy.
*
Mười hai giờ hai mươi lăm, đoàn người đi xuống khúc cua thứ ba.
Bảy người đàn ông đi trước, ông Kỳ cầm đèn lớn, chị Dí đi giữa, bà Mải đi sau cùng, tay chống một cây gậy tre.
*
Bà Mải bảy mươi hai tuổi và bà đi được hai cây số đường dốc trong mưa.
Không ai bàn chuyện bà nên ở nhà, vì trong xóm ấy không có ai khác biết đứa bé kia đang ở nấc nào.
*
Trong lúc đi, bà bắt chị Dí đi sát bên bà.
"Con Dí."
"Dạ."
"Nghe tao dặn. Lát nữa nó lên cơn nữa thì mày làm gì."
"Con đặt nó nằm nghiêng."
"Nghiêng bên nào."
"Bên nào cũng được, miễn là mặt nó cúi xuống."
*
Bà Mải gật.
Bà hỏi tiếp, và bà hỏi bằng cái giọng người ta hỏi bài đứa trẻ trước kỳ thi.
*
"Rồi mày có ghì tay chân nó không."
"Không."
"Có nhét gì vào mồm nó không."
"Không."
"Áo thì sao."
"Cởi ra. Không quấn."
*
"Ừ. Còn cái quan trọng nhất."
"Là gì hả bà."
"Là mày phải nhìn cái kim đồng hồ. Nó giật bao lâu, mày phải biết."
*
Chị Dí không có đồng hồ.
Cái điện thoại của chị hỏng màn từ tháng Ba, và chị chưa sửa vì tiền để dành mua cân cho thằng Chấn.
*
Bà Mải tháo cái đồng hồ đeo tay của bà ra.
Đó là loại đồng hồ mặt tròn dây da nứt, và nó chạy chậm mỗi ngày một ít, nhưng kim giây của nó vẫn đi.
*
Bà cầm cổ tay chị Dí, luồn dây vào, và bà siết thêm một nấc vì tay chị nhỏ hơn tay bà.
*
"Đeo vào."
"Bà ơi con không biết xem giờ nhanh đâu."
"Mày không cần xem giờ. Mày xem cái kim nhỏ nhất. Nó đi một vòng là một phút."
*
Mười hai giờ bốn mươi, cả đoàn tới mép chỗ sạt.
Ông Kỳ bật cái đèn soi ếch lên và quét ngang một lượt, chậm.
*
Dưới thứ ánh sáng mạnh ấy, cái máng đất hiện ra rõ hơn lúc nãy nhiều.
Và rõ hơn thì nó không đáng sợ hơn — nó chỉ trở nên có hình thù.
*
Ông Kỳ quét đèn lần thứ hai, và lần này ông quét chậm hơn, từ trên vách xuống.
"Chỗ kia."
*
Ông chỉ vào một vệt nằm chếch, cao hơn mặt máng chừng một mét rưỡi.
Vệt ấy màu sẫm hơn chỗ xung quanh, và trên nó có mấy bụi cỏ vẫn còn đứng.
*
"Cỏ còn đứng nghĩa là đất chỗ đó không trôi."
"Sao bác biết."
"Cỏ nó trôi trước đất. Chỗ nào cỏ còn dựng là chỗ ấy còn nguyên."
*
Ông Kỳ đi dọc mép thêm mười bước, soi kỹ, rồi ông quay lại.
*
"Trên đấy là cái nền đường cũ."
"Đường cũ nào hả bác."
"Hồi trước người ta mở đường mòn ở cao hơn. Sau mới hạ xuống chỗ này cho xe đi. Cái nền cũ nó nén mấy chục năm rồi, nó cứng."
*
Không ai trong đám thanh niên biết chuyện cái nền đường cũ.
Ông Kỳ biết vì ông đã đi lấy măng trên cái nền ấy từ hồi ông còn tuổi họ.
*
"Nó rộng bao nhiêu bác."
"Chừng một gang rưỡi. Đi một người một."
*
Một gang rưỡi.
Ông Kỳ nói con số ấy bình thường như nói giá măng, và cả đám im.
*
Anh Sảo bước tới mép, soi đèn lên vệt sẫm đó, rồi anh quay lại nhìn cái bọc khăn trên tay chị Dí.
"Bác đi trước hả bác."
"Tao đi trước. Chúng mày đứng đây."
*
Ông Kỳ buộc một đầu dây thừng vào gốc cây sến bên mép đất bên này.
Ông thắt kiểu nút thòng, kéo thử bằng cả người, hai lần.
*
Rồi ông vắt cuộn dây qua vai, cầm dao quắm ở tay phải, đèn ở tay trái, và ông bước lên vệt đất cũ.
*
Ông đi được ba bước thì dừng.
Ông cắm mũi dao quắm xuống trước mặt, xoay một vòng, rồi mới đặt bàn chân tiếp theo.
*
Cách ông đi là: cắm dao, thử, bước, cắm dao, thử, bước.
Mỗi bước mất chừng bốn giây, và trong bốn giây ấy không ai bên này thở ra.
*
Ở bước thứ chín, chân trái ông tụt.
Cả bàn chân lún xuống bùn tới nửa bắp chân, và người ông nghiêng đi.
*
Bên này có tiếng ai kêu lên một tiếng.
Ông Kỳ không kêu. Ông đè cả người lên cán dao quắm, rút chân ra, và ông lùi lại nửa bước rồi đi chệch lên phía trên một chút.
*
Từ đó ông đi cao hơn, sát vách hơn.
Ông đi hết mười hai mét ấy trong bốn phút.
*
Sang tới mép bên kia, ông buộc đầu dây còn lại vào một gốc cây, thắt hai nút, và ông kéo căng.
Sợi dây thừng nằm ngang qua chỗ sạt, cao ngang bụng người, võng xuống ở giữa.
*
"Xong! Sang từng đứa một! Bám dây! Đứa nào nặng thì đi chậm!"
*
Tiếng ông vọng qua mưa, đứt quãng.
Bên này, anh Sảo là người đi thứ hai.
*
Anh sang được, mất năm phút.
Rồi thằng Nhị, rồi một người nữa.
*
Đến người thứ tư thì có chuyện.
Người ấy tên Lâu, hai mươi mốt tuổi, đi nhanh hơn ba người trước vì thấy ba người trước đã sang được.
*
Ở giữa đoạn, chỗ dây võng nhất, chân anh trượt.
Anh không rơi, vì hai tay anh vẫn nắm dây, và anh đu người lại được.
*
Nhưng cái đèn pin trong túi áo ngực anh thì rơi ra.
Nó rơi xuống cái máng, lăn hai vòng, tắt, rồi mất hút vào chỗ tối bên dưới.
*
Cả đoàn đêm ấy đi với ba cái đèn, và cái vừa rơi là một trong ba.
Từ lúc đó chỉ còn cái đèn soi ếch của ông Kỳ ở bên kia, và cái đèn nhỏ của bà Mải ở bên này.
*
Anh Lâu sang tới nơi, ngồi thụp xuống bùn, thở.
Không ai mắng anh câu nào, và chính vì không ai mắng nên anh ngồi im rất lâu.
*
Một giờ kém mười lăm, đến lượt chị Dí.
*
Vấn đề của chị là hai tay.
Sang cái đoạn ấy phải bám dây bằng cả hai tay, và trên ngực chị là một đứa bé mười bốn tháng đang lịm.
*
Chị dúi cái đèn nhỏ vào tay bà Mải, và từ lúc ấy chị đi trong thứ ánh sáng hắt từ bên kia sang.
*
Bà Mải cởi cái khăn quàng của bà ra.
Đó là một cái khăn dệt dài, thứ khăn đàn bà trên này vẫn dùng để địu con ra nương.
*
"Đưa nó đây."
"Bà làm gì."
"Địu. Địu thì hai tay mày rảnh."
*
Bà Mải địu thằng Chấn vào ngực chị Dí, mặt nó áp vào giữa hai bầu ngực, đầu nghiêng sang một bên và hơi ngửa.
Bà quấn khăn hai vòng qua lưng chị, bắt chéo trước bụng, rồi thắt nút ở hông.
*
"Đầu nó phải nghiêng thế này. Đừng để nó gục xuống cằm."
"Vâng."
"Gục xuống cằm là nghẹn."
*
Bà thắt xong, bà giật thử cái nút hai lần, rồi bà đẩy vào lưng chị Dí một cái.
*
"Đi đi."
"Bà ở lại đây hả bà."
"Tao qua cái đấy thì tao chết. Tao ở đây."
*
Chị Dí quay lại nhìn bà một lần.
Bà Mải đứng dưới mưa, chống gậy tre, và bà không nhìn chị nữa mà nhìn xuống chỗ sạt.
*
Chị Dí đặt bàn chân đầu tiên lên vệt đất cũ.
Bùn ngập qua mắt cá, lạnh, và nó bám lấy chân chị như có ai nắm.
*
Hai tay chị nắm sợi dây, ngón cái quặp xuống dưới.
Chị đi kiểu bước một, chân sau kéo lên bằng chân trước, không bao giờ để hai chân cùng rời một chỗ.
*
Trên ngực chị, thằng Chấn nặng chín cân.
Chín cân ấy kéo người chị chúi về đằng trước, và mỗi bước chị phải ưỡn lưng lại để giữ thăng bằng.
*
Đến mét thứ tư, chị nghe tiếng nước chảy ngay dưới bàn chân mình.
Không phải tiếng mưa. Là tiếng nước chảy trong đất, ở đâu đó bên dưới lớp bùn chị đang đứng.
*
Chị đứng im ba nhịp thở.
Rồi chị bước tiếp, vì đứng im thì cũng ở đúng chỗ ấy.
*
Đến mét thứ bảy, đứa bé trên ngực chị cựa.
*
Chị Dí cúi đầu xuống nhìn.
Trong bóng tối chị không thấy mặt nó, chị chỉ thấy cái đầu tròn áp vào ngực mình.
*
Rồi cái đầu ấy ngửa ra sau.
Và chị cảm thấy toàn thân đứa bé cứng lại, ép vào ngực chị, hai đầu gối nó thúc lên bụng chị từng nhịp.
*
Cơn thứ hai đến lúc chị đang đứng giữa mười hai mét đất trôi.
*
Chị Dí không hét.
Chị cắn chặt hàm lại và chị đi.
*
Chị đi năm mét cuối cùng ấy trong bốn mươi giây, hai tay riết lấy sợi dây, cái ngực bị thúc từng nhịp, và bùn dưới chân thì trượt hai lần.
*
Sang tới mép bên kia, có bốn bàn tay chộp lấy hai cánh tay chị và lôi chị lên.
Chị Dí ngồi phịch xuống, và việc đầu tiên chị làm là mở nút khăn địu.
*
"Đặt xuống! Nằm nghiêng!"
*
Tiếng ấy là của bà Mải, hét từ bên kia, qua mưa.
*
Chị Dí đã đặt con xuống rồi mới nghe thấy câu đó.
Chị đặt nó nằm nghiêng trên vạt áo mưa của anh Sảo trải trên đất, mặt cúi xuống, và chị không giữ tay chân nó.
*
Ông Kỳ soi đèn.
Dưới ánh đèn ấy, cái miệng thằng bé có bọt, và môi nó không còn đỏ nữa.
*
Nó tím, ở viền môi trên, một màu tím nhạt như màu quả sim non.
*
"Chị coi cái đồng hồ đi chị."
*
Người nói câu đó là anh Lâu, cái người vừa làm rơi đèn.
Chị Dí giơ cổ tay lên trước mặt và chị tìm cái kim nhỏ nhất.
*
Kim giây đang ở số hai.
Chị nhìn nó đi, và chị đọc to lên từng chặng, vì chị sợ mình quên.
*
"Ba... bốn... năm..."
*
Cơn thứ hai kéo một phút bốn mươi giây.
*
Cơn đầu là một phút mười.
Từ cơn đầu đến cơn này là một tiếng năm mươi phút.
*
Không ai trong đám người ướt sũng đứng ở mép sạt đêm ấy biết những con số đó nghĩa là gì.
Nhưng có một điều họ hiểu, và họ hiểu bằng bụng chứ không bằng đầu: cơn sau dài hơn cơn trước.
*
Thằng Chấn mềm ra lần thứ hai.
Lần này nó thở khò khè, và giữa hai hơi thở có một quãng ngừng ngắn.
*
Bên kia chỗ sạt, bà Mải hét sang.
"Còn thở không!"
"Còn bà ơi!"
"Có kêu được không!"
"Không! Nó im!"
*
Bà Mải im một lúc.
Rồi tiếng bà lại vọng sang, và lần này bà nói chậm hơn, tách từng chữ.
*
"Đi đi! Đừng đứng đấy nữa!"
*
Từ mép sạt bên kia xuống chỗ có đường nhựa là năm cây số.
Đi bộ, người khỏe, đường trơn, mất hơn một tiếng.
*
Ông Kỳ đã tính chuyện đó từ lúc ở sân nhà bà Mải.
Đó là lý do ông bảo mang dây, và cũng là lý do ông bảo thằng Nhị chạy sang nhà ông Thẩn từ lúc mười hai giờ.
*
Ông Thẩn ở bên kia sạt, xóm dưới, cách mép chừng một cây số.
Nhà ông có một cái xe máy cà tàng và ông là người duy nhất ở khúc ấy có xe còn chạy được.
*
Nhưng ông Thẩn không biết.
Thằng Nhị đã sang từ lúc mười hai giờ, nhưng thằng Nhị sang bằng con đường của thanh niên: nó đi men theo lòng suối cạn phía dưới, và đường ấy tối, và nó chỉ có một cái đèn điện thoại.
*
Vì thế, khi cả đoàn sang được tới mép bên kia, thứ đầu tiên họ nhìn thấy dưới chân dốc không phải là đèn xe.
Là bóng tối.
*
"Thằng Nhị đâu."
"Nó đi từ nãy rồi bác."
"Nó đi đường suối à."
"Vâng."
"Đường suối đêm nay là đường nước."
*
Ông Kỳ nói câu đó rất khẽ.
Rồi ông vác thằng bé — không phải chị Dí vác, mà ông vác — và ông bắt đầu đi xuống.
*
Ông đi được ba trăm mét thì họ gặp thằng Nhị đi ngược lên.
Nó ướt tới ngực, một bên ống quần rách, nhưng nó cười.
*
"Ông Thẩn đợi dưới kia rồi bác ơi!"
*
Cái xe máy của ông Thẩn dựng ở chỗ đường mòn gặp đường đất, đèn bật sẵn, chĩa lên dốc.
Ông Thẩn sáu mươi tư tuổi, ngồi trên yên, chân chống xuống đất, và ông đã ngồi như thế mười lăm phút.
*
Người ta đặt thằng Chấn vào lòng chị Dí.
Chị ngồi lên yên sau, và anh Sảo lấy cái khăn địu của bà Mải buộc chị vào lưng ông Thẩn, hai vòng, thắt nút ở hông ông.
*
"Buộc chi vậy."
"Cho chị ấy khỏi tuột. Chị ấy hết sức rồi bác."
*
Ông Thẩn không nói gì nữa.
Ông vặn ga, và cái xe đi vào bốn cây số dốc còn lại trong mưa.
*
Trên xe, chị Dí làm một việc suốt cả chặng.
Chị áp má vào đỉnh đầu thằng Chấn, và chị đếm nhịp thở của nó.
*
Cứ mỗi lần nó thở, chị đếm một tiếng.
Đếm tới ba mươi thì chị quên mất mình đang đếm cái gì, và chị đếm lại từ đầu.
*
Có hai lần chị đếm được tới bảy thì cái nhịp thở ấy không tới.
Cả hai lần, chị đưa tay lên bịt lấy miệng mình để khỏi kêu, vì kêu thì ông Thẩn giật mình.
*
Cả hai lần, tới tiếng thứ chín thì nó thở lại.
*
Hai giờ mười phút sáng, cái xe ra tới chỗ có đường nhựa.
Và ở đó, điện thoại trong túi áo ông Thẩn rung lên một cái.
*
Đó là tin nhắn báo có sóng.
Ông Thẩn dừng xe, không tắt máy, móc điện thoại ra và đưa ngược ra sau cho chị Dí.
*
"Gọi cho ai thì gọi đi."
*
Chị Dí cầm cái điện thoại trong tay.
Chị không gọi cho ai cả.
*
Chị không thuộc số nào ngoài số chồng chị, và số chồng chị thì ở dưới xuôi, cách đây bốn trăm cây.
*
Chị đưa trả cái máy.
"Bác chạy đi bác."
*
Từ chỗ có đường nhựa vào tới thị trấn còn mười một cây nữa.
Đường bằng, nhưng cái xe của ông Thẩn thì không chạy nhanh hơn được, vì lốp sau đã mòn hết gai và mặt nhựa thì đang ướt.
*
Ba giờ kém hai mươi, cái xe dừng trước một dãy nhà một tầng ngoài thị trấn, chỗ có cái biển chữ đỏ và một bóng đèn còn sáng ở hiên.
*
Người trực đêm là một ông bác sĩ già.
Ông ra, nhìn đứa bé một cái, rồi ông không hỏi gì thêm mà bế nó chạy vào trong.
*
Chị Dí đi theo sau, chân bùn tới đầu gối, và người ta để chị đứng ở cửa phòng.
*
Chừng mười phút sau, ông bác sĩ bước ra.
*
"Cháu nó lên cơn mấy lần rồi chị."
"Hai lần."
"Lần đầu bao lâu."
"Một phút mười."
*
Ông bác sĩ ngẩng lên nhìn chị.
Ông đã hỏi câu ấy hàng nghìn lần, và ông đã quen với câu trả lời là một cái lắc đầu.
*
"Chị đo à."
"Bà Mải đo. Lần hai thì con đo."
"Lần hai bao lâu."
"Một phút bốn mươi."
*
"Chị có cạy miệng cháu ra không."
"Không ạ."
"Có vắt chanh không."
"Không ạ."
"Có ghì tay chân cháu không."
"Không ạ. Bà Mải bảo ghì thì gãy."
*
Ông bác sĩ nhìn xuống hai bàn chân đầy bùn của chị Dí.
Rồi ông nói một câu mà cả đời chị không quên.
*
"Ai bảo chị làm thế thì chị về cảm ơn người ta."
*
Thằng Chấn nằm lại chỗ ấy hai ngày.
Nó sốt vì viêm phổi, và cái sốt ấy hạ xuống từ trưa hôm sau.
*
Nó không lên cơn nào nữa.
*
Ngày thứ hai, nó ngồi được, và nó đòi ăn bằng cách chỉ tay vào cái bát của người bên cạnh.
Chị Dí ngồi ở mép giường và chị nhìn cái ngón tay ấy chỉ rất lâu.
*
Chồng chị bắt xe từ dưới xuôi lên, đi mất một ngày một đêm, tới nơi thì con đã đỡ.
Anh đứng ở cửa phòng, tay còn cầm cái túi ni lông, và anh không dám vào ngay.
*
Chuyện ở xóm thì xảy ra vào cái đêm ấy, lúc mọi người đã sang hết bên kia.
*
Bà Mải đứng lại một mình ở mép sạt bên này.
Bà đứng đó vì bà không qua được, và bà cũng không về, vì về thì không biết tin.
*
Bà đứng dưới mưa từ một giờ đến gần bốn giờ sáng.
Đến khi có tiếng người từ dưới vọng lên báo là đã ra tới đường nhựa, bà mới chống gậy đi ngược lên dốc.
*
Sáng hôm sau bà không dậy được.
*
Bà nằm bốn ngày, ho, và cái ho ấy nó xuống ngực.
Người trong xóm thay nhau sang, nấu cháo, và ông Kỳ đi bộ vòng đường bên kia núi hai mươi hai cây để mua thuốc.
*
Bà Mải qua khỏi.
Nhưng từ đó bà không đi xa hơn cái sân nhà mình được nữa.
*
Cái chân trái của bà, cái chân bà chống gậy đêm ấy, sưng lên rồi không xuống hẳn.
Bà ngồi ở bậu cửa, và người ta bế trẻ con tới cho bà xem chứ bà không tới được nữa.
*
Chị Dí bế con về xóm sau bốn ngày.
Việc đầu tiên chị làm không phải là về nhà mình.
*
Chị đi thẳng tới nhà bà Mải, và chị đứng ở sân, thằng Chấn trên tay.
*
"Bà ơi."
*
Bà Mải đang ngồi ở bậu cửa.
Bà không đứng dậy được nhanh, nên bà chỉ vẫy tay.
*
"Vào đây. Đưa nó tao xem."
*
Chị Dí đặt thằng Chấn xuống chiếu, chỗ nó đã nằm nghiêng đêm hôm ấy.
Nó bò được ba bước rồi ngồi phịch xuống, và nó nhìn bà Mải.
*
Bà Mải đưa mu bàn tay lên trán nó.
Bà để tay ở đó lâu hơn mức cần thiết để biết một cái trán có nóng hay không.
*
"Mát."
"Vâng."
"Ừ. Mát."
*
Chị Dí ngồi xuống nền đất cạnh bậu cửa.
Chị tháo cái đồng hồ dây da nứt trên cổ tay chị ra, và chị đặt nó lên đầu gối bà Mải.
*
"Con trả bà."
*
Bà Mải cầm cái đồng hồ lên, xoay xoay trong tay, rồi bà đặt lại xuống đầu gối chị Dí.
*
"Mày đeo đi."
"Của bà mà bà."
"Tao ngồi đây thì tao cần gì biết mấy giờ."
*
Chị Dí không cãi.
Chị cầm cái đồng hồ lên và chị đeo vào cổ tay, siết thêm một nấc, đúng cái nấc bà đã siết cho chị đêm hôm ấy.
*
Hai người ngồi im một lúc.
Ngoài sân, trời hửng, và chỗ sạt dưới kia thì vẫn còn nguyên là một cái máng đất, chưa ai sửa.
*
"Bà ơi."
"Gì."
"Chân bà bao giờ khỏi."
*
Bà Mải nhìn ra sân.
"Khỏi rồi."
"Bà đi thử con xem."
"Đi làm gì. Ngồi đây cũng nhìn được cả xóm."
*
Chị Dí cúi xuống nhìn cái chân sưng ấy.
Rồi chị làm một việc mà chị đã nghĩ suốt bốn ngày trên đường về.
*
Chị lấy trong túi áo ra cái nhiệt kế thuỷ ngân trong nhà chị, thứ đắt nhất trong cái túi vải hoa treo trên vách.
Chị đặt nó xuống chiếu, cạnh chỗ thằng Chấn đang ngồi.
*
"Cái này con để đây."
"Để đây làm gì."
"Nhà ai có đứa nhỏ sốt thì họ chạy sang bà. Bà có cái mà kẹp."
*
Bà Mải nhìn cái ống thuỷ tinh nằm trên chiếu.
Bà không cầm lên.
*
"Thế nhà mày lấy gì mà đo."
"Con sờ tay là biết."
"Sờ tay thì biết cái gì."
"Con biết chứ bà. Con nhớ cái trán đêm hôm ấy rồi."
*
Bà Mải quay đi.
Bà nhìn ra chỗ dốc, chỗ con đường độc đạo bắt đầu đi xuống, và bà ngồi im khá lâu.
*
Rồi bà nói, giọng bình thường như nói chuyện mưa nắng.
*
"Con Dí."
"Dạ."
"Cái đêm ấy mày đi qua chỗ đất trôi, mày sợ cái gì nhất."
*
Chị Dí nghĩ.
Chị nghĩ lâu, vì chị chưa từng gọi tên cái đó bao giờ.
*
"Con sợ nó lên cơn ở giữa đường."
"Rồi nó lên thật."
"Vâng."
"Thế sao mày không đứng lại."
*
Chị Dí đưa tay xoa lên cái đầu tròn của thằng Chấn.
Nó đang cúi xuống gặm cái nút áo của chị.
*
"Đứng lại thì cũng đứng ở giữa cái chỗ ấy thôi bà."
*
Bà Mải gật đầu một cái, rất nhỏ.
Rồi bà với tay lấy cái nhiệt kế trên chiếu, và bà cất nó vào túi áo bà.


