
Người đàn ông liệt nửa người nằm trong chòi lá giữa rẫy mía khô, và lúc mười hai giờ mười lăm thì gió trở hướng
Mười một giờ trưa, cột khói bên kia con mương cạn còn trắng và đứng thẳng, và người đàn ông nằm trong cái chòi lợp lá cách đó hai trăm mét không nhìn thấy nó, vì cửa chòi quay về hướng khác.
Khói trắng là khói của lá còn ẩm.
Khói trắng thì người ta còn canh được.
Từ mười một giờ tới lúc nó đổi màu, khoảng cách là một tiếng hai mươi phút.
*
Cái chòi dựng ở rìa vườn, chỗ đất cao, sát mép rẫy mía.
Bốn cột gỗ căm xe chôn sâu, mái lợp lá dừa nước hai lớp, vách che bằng bao dứa cũ khâu nối.
Trong chòi có một cái phản gỗ kê trên bốn viên gạch ống.
Trên phản có một người.
*
Ông Rế năm mươi tư tuổi.
Hai năm trước ông đổ xuống trong lúc đang tưới mía, lúc bốn giờ chiều, và cái rơ moóc xe cày chở ông đi trong đêm hôm ấy.
Khi về, nửa người bên trái của ông không theo ông nữa.
Cánh tay trái co lại, bàn tay khép vào trong như cầm một vật vô hình.
Chân trái duỗi thẳng, không co được, không chống được.
Bên phải thì còn.
*
Bên phải còn nghĩa là ông tự chống tay ngồi dậy được, nếu có chỗ bám.
Nghĩa là ông tự lết được trên mặt phản chừng một sải, bằng cách chống cùi chỏ phải rồi kéo phần thân còn lại theo.
Một sải trên phản mất của ông bốn phút.
Từ phản xuống đất là bốn tấc.
Bốn tấc ấy ông chưa xuống lần nào một mình.
*
Ông ra ở chòi được mười bốn tháng.
Trong nhà ba buồng, và cái buồng ông nằm thông thẳng ra chỗ ăn cơm.
Người liệt nửa người thì việc vệ sinh làm tại chỗ, và làm tại chỗ thì có mùi.
Con dâu ông mang bầu đứa thứ ba, nghén nặng, và nó nôn.
Nó chưa nói với ai câu nào về chuyện đó.
Nhưng ông Rế nằm trong buồng ngoài, ông nghe hết.
*
Cái chòi giữ rẫy có sẵn từ đời trước, dựng để canh mía mùa thu hoạch.
"Ba ra đó chi ba."
"Ngoài đó thoáng."
"Ngoài đó có gì đâu ba."
"Có gió."
"Nhà mình cũng có gió mà ba."
"Nhà mình có mùi."
Thằng con đứng im một lúc.
"Ba nói vậy con buồn."
"Ừ. Vậy mà con lấy lá dừa nước lợp lại giùm ba cái mái."
Nó đứng thêm một lúc nữa rồi nó đi lấy lá.
*
Cách chòi mười hai bước chân là cái lu sành hai trăm lít hứng nước mưa.
Cách chòi bốn bước là cây khế mẹ ông trồng năm ông lên tám, tán rộng che nắng chiều cho mái lá.
Từ trên phản nhìn ra cửa, ông thấy đúng ba thứ: gốc khế, cái lu, và một vạt mía chạy hút về phía con mương cạn.
*
Bà Chín ra chòi ngày ba lượt.
Sáu giờ sáng, mười một giờ trưa, năm giờ chiều.
Từ nhà ra chòi hai trăm mét, qua vườn điều, xuống một con dốc thoai thoải rồi lên lại.
Bà năm mươi tuổi.
Hai đầu gối bà hỏng từ lâu, thứ hỏng của người ngồi xổm ba mươi năm trên đất rẫy.
Bà đi bằng một cây gậy tre vót nhẵn, tay kia xách giỏ.
Hai trăm mét đó, bà đi hết mười một phút.
"Sao má không để tụi con bưng cơm ra cho ba."
"Tụi bay bưng ra rồi tụi bay về liền."
"Rồi má ra má làm gì lâu vậy má."
"Tao ngồi."
*
Trưa hôm đó bà ra chòi lúc mười một giờ mười.
Trong giỏ có một tô cháo cá lóc, một cái khăn ướt, hai vỉ thuốc.
Bà đặt giỏ lên đầu phản, ngồi xuống mép, thở một hơi dài rồi mới mở nắp tô.
"Nay nắng dữ."
"Ừ."
"Ông ăn đi rồi tui về nấu cơm cho tụi nhỏ."
Ông Rế chống cùi chỏ phải, nhích người lên dựa vào cái gối chèn sau lưng.
Việc đó mất của ông gần một phút, và bà Chín không đỡ, vì ông không cho đỡ.
*
Bà đút cháo bằng cái muỗng nhôm, mỗi muỗng thổi hai cái, và ông ăn được hai phần ba tô rồi lắc đầu.
"Ăn nữa đi."
"No rồi."
"No gì mà no."
"Bà để đó chiều tui ăn."
Bà đậy nắp tô, đặt vào giỏ, rồi lấy khăn ướt lau mặt cho ông, lau cổ, lau bàn tay trái đang khép.
Bàn tay ấy không mở ra được nữa, và trong lòng bàn tay có mùi.
Bà lau từng kẽ ngón, chậm, không nói gì.
*
Ở phía bên kia con mương cạn, cách chòi hai trăm mét, ông Tư Lành đang đốt.
Rẫy ông Tư vừa thu mía xong, mặt rẫy còn phủ một lớp lá mía khô dày tới mắt cá chân.
Lá đó không cày được, không gom được, và tới vụ sau thì phải sạch.
Người vùng này đốt dọn vào cuối mùa khô, và người ta đốt từ đời cha ông.
Ông Tư đốt có phép tắc.
*
Ông đốt từ bảy giờ sáng, đốt ngược hướng gió, đốt từng vạt nhỏ một.
Trước khi châm lửa, ông đã phát một đường ranh rộng ba mét dọc mép rẫy phía tây, cào sạch lá, trơ đất.
Ông xách theo hai thùng nước và một bó cành xoài tươi để đập những mồi lửa văng ra, và ông đứng canh từ sáng tới giờ, không rời.
Gió sáng nay thổi từ đông sang tây, đều, nhẹ, đúng thứ gió người ta đợi để đốt.
*
Mười một giờ hai mươi, bà Chín xách giỏ đứng dậy.
"Ông cần gì không."
"Không."
"Cái ca nước tui để đây nè."
"Ừ."
"Chiều tui ra sớm. Nay tui nấu canh chua."
Bà chống gậy bước ra khỏi cửa chòi, và bà đi được ba bước thì dừng lại.
Bà ngửi thấy mùi khói.
*
Mùi khói vào mùa này thì ngày nào chẳng có.
Nhà nào dọn rẫy cũng đốt, khói bay khắp vùng, tới mức quần áo phơi ngoài dây cũng ám mùi.
Bà Chín ngoái nhìn về hướng con mương, thấy một cột khói trắng đứng thẳng lên trời, mảnh, không ngả.
Khói đứng thẳng nghĩa là gió lặng.
Bà quay lại, đi về nhà, và bà đi hết mười ba phút vì lên dốc lâu hơn xuống dốc.
*
Mười hai giờ kém mười, gió lặng hẳn.
Trên rẫy ông Tư, ngọn lửa đang ăn vạt thứ tư, vạt cuối cùng, sát mép ranh phía đông.
Lửa đi chậm, liếm trên mặt lá, cao chừng gang tay.
Ông Tư đứng cách đó mười bước, cầm bó cành xoài, nhìn.
Ông tính chừng bốn mươi phút nữa là xong cả rẫy.
*
Trong chòi, ông Rế ngủ thiếp đi.
Ông ngủ ngày rất nhiều, và ngủ nông, và trong giấc ngủ ấy ông vẫn nghe được tiếng.
Tiếng gà bới đất dưới gầm chòi.
Tiếng lá dừa nước trên mái khô đi, kêu tách tách khi nắng lên tới đỉnh.
Tiếng con Đốm nằm dưới gốc khế thở.
Con Đốm là chó cái, bảy tuổi, nằm dưới gốc khế từ sáng tới chiều mười bốn tháng nay.
*
Mười hai giờ mười lăm, gió trở.
Nó không trở từ từ.
Trên vườn điều, cả một vạt lá đang rũ xuống bỗng lật ngửa lên cùng lúc, phơi mặt dưới trắng bạc.
Trên rẫy ông Tư, cột khói đang đứng thẳng bỗng gãy ngang lưng chừng, rồi nằm rạp về hướng tây.
Hướng tây là hướng con mương cạn.
Bên kia con mương cạn là rẫy mía nhà ông Rế và cái chòi lá.
*
Ông Tư Lành thấy cột khói gãy trước khi thấy lửa đổi.
Ông chạy tới mép vạt đang cháy, quất bó cành xoài xuống liên tiếp.
Nhưng gió tây đã lùa vào lớp lá khô phía sau lưng ngọn lửa, và lửa không đi theo đường ông vạch nữa.
Nó tách làm hai nhánh.
Một nhánh liếm ngược lại chỗ ông vừa đốt, gặp đất trơ, tắt.
Nhánh kia chạy dọc mép rẫy về hướng tây, trên một dải lá dày chưa ai động tới.
*
Ông Tư quăng bó cành, chạy tới thùng nước.
Ông xách được một thùng, đổ chặn ngang đường lửa, và nước thấm xuống đất trong bốn giây.
Ngọn lửa đi qua chỗ ướt bằng cách vòng lên lớp lá phía trên.
Ông đứng nhìn nó vượt qua vũng nước của mình, rồi ông chạy về phía con mương, vừa chạy vừa la.
Giọng ông không tới được cái chòi.
Hai trăm mét gió tây, và gió tây thổi tiếng ngược lại phía ông.
*
Trong chòi, ông Rế tỉnh giấc vì con Đốm sủa.
Nó sủa ba tiếng, ngắn, không phải kiểu sủa người lạ.
Rồi nó im, rồi nó rên một tiếng trong cổ họng.
Ông Rế mở mắt, nhìn ra cửa chòi.
Ánh sáng ngoài cửa đã đổi.
*
Nắng trưa lẽ ra phải trắng gắt.
Bây giờ nó ngả sang một thứ màu vàng đục, thứ màu của nắng đi qua một lớp gì đó.
Ông Rế chống cùi chỏ phải, đẩy người lên.
Từ chỗ nằm nhìn ra, ông thấy vạt mía, thấy cái lu, thấy gốc khế.
Trên tán khế, có một vệt xám đang trôi ngang.
*
Ông chống cùi chỏ, xoay người, nhích ra mép phản.
Việc đó mất một phút mười.
Ở mép phản ông ngồi được, lưng dựa cột, và từ đó ông nhìn thẳng ra cửa.
Ông thấy cái mà từ trong ông không thấy được.
Phía bên kia vạt mía, trên đường chân trời thấp, có một dải khói.
Nó không đứng thẳng.
Nó nằm ngang, dày, và nó đang đi về phía ông.
Màu của nó là màu xám.
*
Khói xám là khói của lá đã khô hẳn.
Ông Rế làm rẫy ba mươi tám năm, và ông biết bảng màu đó thuộc lòng.
Trắng là lá còn ẩm, cháy chậm, còn canh được.
Xám là lá khô, lửa đã ăn nhanh hơn người đi bộ.
Nâu là mía, là cỏ tranh, là những thứ có dầu trong thân, và khói nâu thì không còn ai canh được nữa.
Ông nói với con Đốm ngoài cửa, và ông nói ra thành tiếng, vì nói ra thì đầu nó chạy đúng hơn.
"Xám rồi."
Con chó ngoái đầu vào.
"Xám thì còn bao lâu."
Nó không đáp, và ông tự đáp lấy.
"Chừng nửa tiếng."
*
Ông đưa tay phải lên miệng, gọi.
"Bà Chín ơi!"
Tiếng ông đi ra khỏi cửa chòi, gặp gió tây, quay ngược lại.
"Bà Chín!"
Con Đốm chạy vào chòi, đứng ở cửa, nhìn ông, rồi lại chạy ra.
"Có ai không!"
Vườn điều phía sau chòi rậm, và nhà cách hai trăm mét, và giờ này cả nhà đang ăn cơm trưa dưới bếp có mái tôn.
*
Ông ngừng gọi sau bảy tiếng.
Ông làm cái việc mà người quen đất vẫn làm trước khi làm gì khác.
Ông nhìn.
Ông nhìn cái dải khói, đo bằng mắt khoảng cách từ nó tới hàng chuối cuối vạt mía.
Rồi ông nhìn xuống chân mình.
*
Từ mép phản xuống đất là bốn tấc.
Từ chòi ra tới cái lu là mười hai bước chân người khoẻ.
Từ chòi tới con mương cạn là hai trăm mét.
Ba con số đó, với một người có hai chân, là ba việc vặt.
Với ông, con số thứ nhất đã là hết.
"Bốn tấc."
Ông nói ra tiếng đó, rồi ông nhìn xuống chân trái mình.
"Bốn tấc thôi mà."
*
Ông Tư Lành xuống tới lòng mương lúc mười hai giờ hai mươi lăm.
Con mương cạn rộng bốn mét, đáy phẳng, mùa này không còn giọt nước nào, chỉ có cát và mấy bụi cỏ ống chết khô.
Bốn mét cát trơ là bốn mét lửa không có gì để ăn.
Ông đứng dưới lòng mương, ngoái lại nhìn.
Ngọn lửa đang chạy trên rẫy ông, cao ngang thắt lưng, đi trên lớp lá khô như đi trên mặt nước.
*
Nếu lửa dừng ở mép mương thì hết chuyện.
Nếu tàn bay qua được bốn mét ấy, rơi vào vạt mía bên kia, thì bên kia không còn ai chặn được, vì bên kia không có ai.
Ông biết bên kia mương có cái chòi.
Ông biết trong chòi có người nằm.
*
Ông Tư leo lên bờ mương phía tây, chạy dọc theo vạt mía nhà ông Rế, vừa chạy vừa la về phía chòi.
Ba mươi bước thì ông tắt tiếng, vì ông sáu mươi hai tuổi.
Ông đứng thở, hai tay chống gối, rồi ông nhìn thấy một thứ làm ông thẳng người lên.
Trên đầu ông, một mảnh tàn đen bằng nửa bàn tay đang trôi ngang, chậm, còn đỏ ở rìa.
Nó đang bay về hướng chòi.
*
Mảnh tàn ấy rơi xuống mái lá chòi lúc mười hai giờ hai chín.
Ông Rế nghe một tiếng rất nhỏ trên đầu, tiếng của cái gì đó chạm vào lá khô.
Rồi thêm một tiếng.
Rồi trên mặt phản, cạnh bàn tay phải của ông, một chấm đen rơi xuống và tắt.
Ông đưa ngón tay quệt vào chấm đen ấy.
Nó để lại một vệt xám trên đầu ngón.
*
Tro.
Tro nghĩa là lửa đang ở đầu gió.
Tro rơi được tới đây nghĩa là khoảng cách đã dưới ba trăm mét.
Ông Rế ngẩng lên nhìn mái chòi, nhìn hai lớp lá dừa nước phơi mười bốn tháng nắng, giòn tới mức đi qua cũng nghe kêu.
*
Ông xoay người trên mép phản.
Ông đưa tay phải bám vào cái cột gỗ cạnh đầu phản, thử dồn sức.
Cột chắc, tay còn khoẻ, nhưng cái không có là chân.
Người ta không đứng lên bằng tay.
Ông thả cột ra, ngồi thở.
*
Trong chòi có gì.
Ông kiểm bằng mắt, như đếm đồ trong gùi trước khi lên rẫy.
Một cái ca nhựa nước đầy.
Một cái tô cháo còn một phần ba.
Cái khăn ướt bà Chín để lại, vắt trên thành giỏ.
Và ở góc chòi, cây gậy cũ ông chống hồi mới về, hồi còn tin là chân trái sẽ về lại.
Từ chỗ ông ngồi tới góc chòi là hai bước chân.
Ông nhìn cây gậy hồi lâu.
*
Ở nhà, bà Chín đang vo gạo dưới bếp.
Con dâu bà ngồi nhặt rau ở cửa bếp, một tay đỡ bụng.
"Má."
"Gì con."
"Con thấy khói."
"Mùa này ngày nào chả có khói."
"Khói nay khác má."
"Khác sao."
"Nó nằm ngang má."
Bà Chín ngừng tay, ngẩng lên nhìn ra cửa bếp.
Trên tán điều, bà thấy trời có màu.
Không phải màu xanh của trưa nắng.
Nó là một thứ màu vàng nhờ, như trời sắp mưa mà không có mây.
Bà Chín đặt rổ gạo xuống.
"Thằng Bình đâu."
"Ảnh chở mía lên chỗ cân từ sáng má."
"Chừng nào về."
"Chắc chiều."
Bà Chín chống hai tay lên thành bếp, đứng lên.
Đầu gối phải bà kêu một tiếng, và bà đứng im ba giây cho qua cái nhói ấy.
Rồi bà với lấy cây gậy dựng ở vách.
*
Bà ra tới sân thì bà thấy.
Ở hướng tây nam, phía sau vườn điều, cả một mảng trời đã ngả xám.
Và trong cái mảng xám ấy, thấp xuống, sát ngọn cây, có một đường màu khác.
Đường đó không xám.
Đường đó nâu.
*
Bà Chín không kêu.
Bà bước xuống bậc thềm, và bà bước hụt một nhịp, và bà phải chống gậy đứng lại.
Con dâu bà chạy ra.
"Má, má đi đâu."
"Ra chòi."
"Má để con đi."
"Con đi cái gì. Con chửa bảy tháng."
*
Bà Chín đi qua sân, ra tới đầu vườn điều.
Từ đây xuống dốc rồi lên dốc, hai trăm mét, mười một phút.
Mười một phút là con số của một ngày thường.
Hôm nay bà không có mười một phút.
*
Bà quay lại, nói với con dâu ba câu, và bà nói chậm để nó nhớ được.
"Con vô nhà. Lấy cái mền bông với hai cái bao dứa."
"Chi má."
"Nhúng nước cho ướt sũng. Rồi ra chỗ đầu vườn điều, để đó."
"Rồi sao má."
"Rồi con chạy qua nhà chú Bảy, kêu chú qua đây. Kêu ai qua được thì kêu."
*
Con dâu bà đứng chôn chân một nhịp.
"Má ơi. Ba..."
"Đi đi con."
*
Bà Chín xuống dốc.
Xuống dốc là phần đau nhất, vì cả sức nặng dồn xuống khớp.
Bà đi kiểu người ta đi khi không còn lựa chọn: chống gậy thật xa về phía trước, buông cả người đổ theo, rồi bắt lấy bằng chân kia.
Mỗi lần bắt như vậy, đầu gối bà nhận trọn.
*
Ở chòi, ông Rế đã ra tới mép phản, phía đầu có cây gậy.
Ông chống tay phải, đẩy mông trượt trên mặt phản, mỗi lần được nửa gang.
Đi được ba lần thì tay ông trượt trên gỗ nhẵn và cả người ông đổ nghiêng sang trái, về phía cánh tay không đỡ được.
Vai trái ông đập xuống mặt phản.
*
Ông nằm im chừng hai mươi giây.
Rồi ông dùng tay phải bám mép phản, kéo, và ông kéo cả thân mình lật lại.
Việc đó mất hai phút.
Khi ngồi lại được, ông thở dốc, và mồ hôi chảy vào mắt.
Ông đưa tay quệt mắt, và trên mu bàn tay có tro.
*
Bây giờ tro không rơi từng chấm nữa.
Nó rơi lấm tấm, đều, như mưa bụi, phủ một lớp mỏng trên mặt phản, trên cái tô, trên vai áo ông.
Ông nghe ngoài kia một tiếng mới.
Lép bép.
Tiếng lép bép là tiếng lóng mía nổ, thứ tiếng như người ta bẻ que củi khô nhưng nhỏ hơn và nhiều hơn.
Một tiếng thì là một cây.
Bây giờ ông nghe hàng trăm tiếng, chồng lên nhau, thành một thứ tiếng rào rào liên tục.
Rào rào nghĩa là lửa đã vào vạt mía.
Vạt mía cách chòi bốn mươi mét.
*
Ông Rế với tay lấy cái ca nước.
Ông không uống.
Ông nhấc cái khăn ướt của bà Chín lên, dốc cả ca nước vào khăn, cho nó sũng.
Rồi ông vắt cái khăn ấy lên đầu mình, kéo xuống che mũi và miệng.
Ca nước là thứ tài nguyên duy nhất ông có, và ông vừa tiêu hết nó trong bốn giây.
*
Ông Tư Lành đứng ở mép mương phía tây, nhìn lửa vượt.
Nó không vượt bằng cách đi qua.
Nó vượt bằng tàn.
Gió tây bốc từng mảng tàn đỏ lên, và chúng bay qua bốn mét lòng mương như những con bướm đen, rơi xuống vạt mía bên kia.
Chỗ nào rơi trúng lá khô, chỗ đó bùng lên một đốm nhỏ.
Ông đếm được năm đốm trong nửa phút.
*
Ông Tư quay đầu chạy về hướng chòi, và lần này ông không la nữa, ông để dành hơi.
Ông chạy được chừng năm chục mét thì gặp bà Chín ở chỗ chân dốc.
Hai người đứng lại nhìn nhau một giây.
"Ông Tư."
"Chị Chín, lửa qua mương rồi."
"Qua bằng đường nào. Mương trống trơn mà."
"Nó không đi dưới đất. Nó bay."
"Bay."
"Tàn nó bay. Tui đứng dưới mương tui đếm được năm cái rớt qua bển."
"Ổng còn trong chòi."
"Tui biết."
*
Bà Chín nhìn qua vai ông Tư.
Từ chỗ này đã thấy được cái chòi, thấy mái lá, thấy gốc khế, và thấy một dải lửa thấp đang đi ngang vạt mía về hướng đó.
Bà đưa cây gậy chỉ.
"Còn bao xa."
"Bốn chục mét. Chừng năm phút."
"Ông chạy nhanh hơn tui. Ông chạy vô kéo ổng ra."
Ông Tư không nhúc nhích.
*
"Chị Chín. Tui vô một mình tui không kéo được ổng."
"Sao không."
"Ổng nặng. Với lại kéo ra rồi cũng không kịp chạy khỏi vạt mía. Chạy bộ không nhanh hơn nó đâu chị."
"Vậy ông tính sao."
Ông Tư ngoái nhìn về phía rẫy mình, chỗ ngọn lửa đang ăn nốt phần cuối, rồi nhìn dải lá khô rộng chừng hai chục mét nằm giữa vạt mía và cái chòi.
"Phải làm cho nó hết cái ăn."
*
Bà Chín không hiểu câu đó, và bà không hỏi lại.
Bà chỉ nói một câu.
"Ông cần gì."
"Cần lửa."
*
Ông Tư Lành nói nhanh, vừa nói vừa đi, và bà Chín chống gậy đi theo.
"Trước chòi có một dải đất trống chừng hai chục mét. Trên đó toàn lá điều với cỏ tranh khô."
"Ừ."
"Lửa lớn ngoài kia nó tới, nó ăn cái dải đó, rồi nó tới chòi."
"Ừ."
"Giờ tui đốt cái dải đó trước. Đốt ngược lại, cho nó cháy về phía lửa lớn."
"Ông điên hả ông Tư."
*
Ông Tư dừng lại một nhịp, quay sang bà.
"Chị nghe tui nói hết. Cái dải đó cháy xong thì nó thành đất trơ."
"Rồi sao."
"Rồi lửa lớn tới chỗ trơ, nó không có gì ăn, nó đứng lại."
"Chắc không ông."
"Không chắc. Nhưng đó là cái duy nhất còn kịp."
*
Bà Chín nhìn cái chòi, nhìn ngọn lửa ngoài vạt mía, rồi nhìn hai bàn tay mình.
"Ông cần tui làm gì."
"Chị lấy nước dội quanh chòi. Dội cái mái. Dội chân cột."
"Cái lu."
"Cái lu. Chị dội được bao nhiêu thì dội."
*
Hai người tới chòi lúc mười hai giờ bốn mươi ba.
Ông Tư vào trước, cúi xuống mặt ông Rế.
"Anh Rế."
"Tư hả."
"Tui đốt lửa nhà tui. Gió trở."
"Tui biết."
"Anh nghe tui nói không kịp giải thích. Lát nữa quanh đây sẽ có lửa. Lửa đó là tui đốt. Anh đừng sợ."
Ông Rế nhìn ông Tư qua cái khăn ướt trùm mặt.
"Đốt chặn hả."
"Anh biết cái đó."
"Tui làm rẫy ba mươi tám năm ông Tư."
"Rồi anh thấy sao."
"Thấy được. Nhưng ông canh cho khéo. Đốt hụt một cái là nó ôm cái chòi này."
"Tui biết."
"Ừ. Ông đi đi."
*
Ông Tư chạy ra, vơ một nắm lá điều khô, châm bằng cái quẹt ga trong túi quần.
Ông không châm một chỗ.
Ông đi giật lùi dọc mép dải đất trống, cách chòi hai chục mét, châm từng đốm cách nhau ba bước.
Đốm nào bén thì ông bỏ, đi tiếp.
Việc đó ông làm trong hai phút, và trong hai phút ấy ông không ngoái lại lấy một lần.
*
Bà Chín mở nắp lu.
Trong lu còn hơn nửa, nước mưa hứng từ trận cuối mùa.
Bà thả cái gàu nhựa xuống, kéo lên, và cái gàu đầy nặng chừng sáu ký.
Bà xách nó bằng tay phải, chống gậy bằng tay trái, đi mười hai bước tới chòi.
Bà hắt gàu nước lên vách, và nước chỉ tới được nửa vách.
*
Bà quay lại lu.
Mười hai bước.
Thả gàu, kéo lên, xách, đi, hắt.
Vòng thứ ba thì bà bỏ cây gậy lại bên lu, vì hai tay ôm gàu thì đi vững hơn.
Không có gậy, mỗi bước của bà là một lần đầu gối nhận trọn cả người cộng sáu ký nước.
Bà đi được vòng thứ tư.
*
Ở phía dải đất trống, ngọn lửa ông Tư đốt đã bén thành một hàng ngang đầu gối.
Nó đi ngược gió nên nó đi chậm, và nó ăn sạch lớp lá điều với cỏ tranh trên đường đi, để lại phía sau một mặt đất đen, bốc khói mỏng, không còn gì.
Ông Tư đi dọc theo nó, cầm bó cành xoài tươi bẻ vội, đập những chỗ lửa liếm sai hướng.
Ông đập, và ông đếm.
Ông đếm khoảng cách giữa hai đường lửa: một đường của ông đi ra, một đường ngoài kia đi vào.
Khoảng cách đó lúc ông châm là hai chục mét.
Bây giờ nó còn mười hai.
*
Trong chòi, ông Rế nghe hai thứ tiếng khác nhau.
Ngoài xa là tiếng rào rào của lóng mía nổ, dày, liên tục, đang lớn dần.
Gần hơn, ở ngay trước cửa chòi, là một tiếng khác: tiếng lép bép thưa, nhẹ, của lá điều cháy.
Hai thứ tiếng đó đang đi về phía nhau.
Ông ngồi trên mép phản, tay phải bám cột, và ông không làm gì được ngoài nghe.
*
Rồi ông làm một việc.
Ông với tay lấy cái tô cháo còn một phần ba, mở nắp, đặt xuống mặt phản.
Ông huýt một tiếng ngắn qua cái khăn ướt.
Con Đốm chui vào chòi, đứng ở cửa, tai cụp.
"Đốm."
Nó bước vào, tới cạnh phản.
*
Ông Rế đẩy cái tô về phía nó bằng tay phải.
Con chó cúi xuống ăn.
Ông đặt bàn tay lên đầu nó, và ông giữ ở đó.
Ngoài kia, hai đường lửa còn cách nhau tám mét.
*
"Đốm."
Nó ngẩng lên, miệng còn dính cháo.
Ông Rế đưa tay phải, đẩy nhẹ vào vai nó, đẩy về phía cửa.
"Ra."
Nó không đi.
Ông đẩy mạnh hơn.
"Ra. Đi đi."
*
Con Đốm lùi hai bước, rồi đứng lại ở cửa chòi, quay đầu nhìn vào.
Ông Rế bỏ tay xuống.
Ông không đẩy nữa.
Ông chỉ nói một câu, bằng thứ giọng của người ngồi hiên nhà nói chuyện với con chó của mình.
"Ừ. Thì ở."
*
Bà Chín xách gàu thứ sáu.
Tới vòng này thì bà không hắt lên vách nữa, bà đi vòng ra sau chòi, dội xuống chân bốn cái cột gỗ.
Chân cột là chỗ lửa bò tới trước.
Dội xong bốn cột thì bà phải ngồi thụp xuống, hai tay chống đất.
Khi bà đứng lên được thì cái gàu nhựa đã méo một bên, vì bà đặt nó xuống chỗ đất còn nóng.
*
Ông Tư chạy tới, giật lấy cái gàu.
"Chị nghỉ đi. Tui dội."
"Còn cái mái."
"Tui biết. Chị vô trong chòi với ổng."
"Ông làm được không."
"Chị vô đi chị Chín."
*
Bà Chín vào chòi.
Bà không tới chỗ ông Rế ngay.
Bà đứng ở cửa, nhìn ra ngoài, và bà nhìn thấy cái mà từ ngoài kia bà không nhìn ra được.
Hai đường lửa bây giờ cách nhau năm mét.
Chúng đang đi vào nhau, và chỗ chúng gặp nhau nằm chếch bên trái cái chòi chừng ba chục bước.
*
"Ông Rế."
"Ừ."
"Ông thấy không."
"Thấy."
"Hai đường nó đi vô nhau."
"Ừ."
"Nó gặp nhau chỗ nào ông."
"Chếch bên trái. Chừng ba chục bước."
"Ba chục bước có xa không ông."
Ông Rế nhìn ra một lúc rồi mới trả lời, và ông trả lời thật.
"Không xa."
Bà chống tay lên khung cửa, đứng thẳng người, nhìn.
Rồi bà quay vào, tới ngồi xuống mép phản cạnh chồng.
*
Bà không nói gì thêm.
Bà chỉ đưa tay ra, cầm lấy bàn tay trái của ông, cái bàn tay khép lại không mở ra được nữa.
Bà cầm nó bằng cả hai tay mình.
Ngoài kia, tiếng rào rào lớn tới mức nếu ai nói thì phải nói to.
Không ai nói.
*
Hai đường lửa gặp nhau lúc mười hai giờ năm mươi tám.
Đường lửa lớn ngoài kia, cao ngang thắt lưng, lao tới dải đất ông Tư vừa đốt trụi, và nó vấp vào chỗ không có gì.
Nó bốc cao lên một lần cuối, một bức tường vàng đứng thẳng chừng ba giây.
Rồi nó tụt xuống.
*
Nó không tắt hẳn.
Nó rạp xuống thành một hàng lửa thấp ngang mắt cá, ngoằn ngoèo dọc mép chỗ đất đen, tìm những nhúm lá còn sót.
Ông Tư Lành đứng cách đó mười bước, cái gàu méo trong tay, nhìn.
Ông không reo.
Ông chỉ đứng đó, hai vai sụp xuống, thở.
*
Nhưng lửa không đi vào từ một hướng.
Vạt mía nhà ông Rế chạy vòng, và một nhánh lửa đã đi men theo mép vạt, ra phía sau chòi, nơi không có dải đất đốt chặn nào cả.
Phía sau chòi là vườn điều, và vườn điều mùa này lá rụng dày tới mắt cá chân.
*
Người phát hiện ra là bà Chín.
Bà nghe tiếng lép bép ở sau lưng mình, tức là ở hướng vườn điều.
Bà buông tay chồng, chống mép phản đứng lên, đi ra cửa sau, vén tấm bao dứa lên.
*
Cách chòi mười lăm mét, dưới tán điều, lá khô đang cháy.
Nó cháy thấp, đi chậm, nhưng nó đi tới.
Và trên đường nó đi, cách chòi bốn bước, có gốc cây khế.
*
"Ông Tư!"
Ông Tư chạy vòng ra sau.
Ông nhìn một cái rồi ông hiểu ngay.
"Không đốt chặn được nữa."
"Sao không."
"Đốt bây giờ thì hai đường lửa gặp nhau ngay chỗ cái chòi."
*
Ông Tư quăng cái gàu, chạy tới cây khế, bẻ một cành lớn còn nguyên lá tươi.
Cành lá tươi đập vào lửa thì không bùng, nó ép lửa xuống đất, và mỗi nhát tắt được một khoảng bằng cái nia.
Ông đập, lùi, đập, lùi.
Được chừng bốn mươi nhát thì cành khế trong tay ông cháy xém hết lá, còn trơ cuống.
*
Ông quay lại cây khế, bẻ cành thứ hai.
Bà Chín đã đứng ở đó.
Bà đang bẻ, bằng hai tay, một cành thấp ngang vai.
Cành khế tươi thì dai, không gãy, chỉ tước ra.
Bà giật ba lần mới đứt, và khi nó đứt thì bà ngã ngồi xuống đất.
*
"Chị Chín!"
"Tui không sao."
"Chị bỏ đó đi. Chị lui ra."
"Ông đập một mình ông không kịp."
"Chị đứng không nổi mà chị đập cái gì."
"Tui quỳ."
Bà lồm cồm bò dậy, kéo cành khế theo, và bà đi tới mép lửa.
Bà không đứng đập được như ông Tư, vì đứng thì đầu gối bà không chịu nổi lực vung tay.
Bà quỳ xuống.
Bà quỳ trên đất, hai tay nắm cuống cành, đập ngang.
*
Hai người đập lửa trong mười lăm phút.
Trong mười lăm phút đó, họ chặt cụt cây khế.
Cành thấp hết thì ông Tư leo lên chạc, bẻ cành cao, quăng xuống cho bà.
Tán khế thưa dần, rồi trống, rồi chỉ còn thân cây với mấy cuống cành trơ.
Nắng trưa lần đầu tiên trong bốn mươi sáu năm rọi thẳng xuống chỗ đất dưới gốc khế.
*
Một giờ mười lăm, đường lửa phía vườn điều đứt thành từng khúc rời.
Ông Tư đi dọc theo, đập nốt những khúc còn cháy.
Bà Chín không đứng lên được nữa.
Bà ngồi bệt dưới gốc khế trụi, cành khế cháy dở còn trong tay, và bà nhìn về phía cái chòi.
Cái chòi vẫn còn.
*
Rồi mái chòi bốc lửa.
*
Trong lúc hai người quay lưng đập lửa phía vườn điều, một mảnh tàn từ vạt mía ngoài xa đã bay qua, rơi vào chỗ mái lá phía tây, chỗ bà Chín dội nước không tới.
Lớp lá dừa nước phơi mười bốn tháng bén trong bốn giây.
Khi bà Chín ngẩng lên thì nửa mái phía tây đã là một tấm lửa.
*
Bà Chín hét.
Ông Tư quay lại, quăng cành khế, chạy vào chòi qua cửa trước.
Trong chòi khói đặc tới mức ông không thấy cái phản.
Ông cúi rạp xuống, bò, và ở độ cao đầu gối thì còn nhìn được.
Ông thấy hai chân người.
*
Ông tới bên phản, sờ được vai ông Rế.
"Anh Rế!"
"Ừ."
"Ôm cổ tui. Tui cõng anh."
Ông Rế không đưa tay lên.
Ông đưa tay phải xuống, nắm lấy mép cái phản gỗ, và ông nói ba tiếng qua cái khăn ướt.
"Kéo cái phản."
*
Ông Tư đứng khựng nửa giây.
Rồi ông hiểu.
Cõng thì phải xốc người liệt lên vai, mà người liệt nửa thân thì không bám được, và ông sáu mươi hai tuổi thì không cõng nổi bảy chục ký.
Còn mặt đất trong chòi là đất nện phẳng.
Ông Tư vòng ra đầu phản, hạ thấp người, hai tay bám hai góc.
*
Ông kéo.
Cái phản trượt khỏi bốn viên gạch, đổ ịch xuống đất, và ông Rế bị hất nghiêng nhưng vẫn nằm trên đó.
Ông Tư kéo tiếp.
Trên đất nện, tấm phản nặng, nó cày một rãnh trong lớp đất, nhưng nó đi.
*
Bà Chín bò tới cửa chòi.
Bà không đứng lên nữa, bà bò, và bà bò vào trong khói.
Bà tới được đầu phản bên kia, nắm lấy góc còn lại, và bà kéo.
Hai người kéo một tấm phản có người nằm trên, ra khỏi một cái chòi đang cháy mái, qua khoảng cửa rộng một mét.
Cái phản kẹt ở khung cửa.
*
"Nghiêng!"
"Nghiêng đường nào ông Tư!"
"Bên chị! Ép qua bên chị!"
Ông Tư dồn cả người vào một góc, ép cho tấm phản xoay chéo.
Nó xoay được nửa gang rồi kẹt lại lần nữa.
Trên đầu ba người, một tàu lá dừa nước cháy đứt rơi xuống, vắt ngang khung cửa, và nó cháy ở đó.
Ông Tư đưa cẳng tay hất nó ra ngoài.
*
Tấm phản qua được cửa.
Ông Tư kéo nó ra xa chòi bốn mét, rồi tám mét, rồi mười hai mét, tới chỗ đất đen mà chính ông đã đốt trụi lúc nãy.
Chỗ đất đen đó không còn gì để cháy.
Ông kéo tấm phản vào giữa chỗ ấy rồi buông tay, ngã ngồi xuống.
Bà Chín bò theo tới mép chỗ đất đen thì nằm sấp xuống, mặt úp vào cánh tay.
*
Con Đốm ra khỏi chòi sau cùng.
Nó chạy vòng qua chỗ đất đen, tới nằm sát cạnh tấm phản, và nó thở dốc, lưỡi thè dài.
Lông ở đuôi nó cháy xém một mảng bằng bàn tay.
Ông Rế đưa tay phải xuống, sờ tìm, chạm được vào cái đầu ướt của nó.
Ông giữ tay ở đó.
*
Cái chòi cháy hết trong mười một phút.
Mái lá đi trước, rồi vách bao dứa, rồi bốn cột gỗ căm xe cháy từ chân lên, còn đứng thêm một lúc lâu rồi mới đổ.
Nó đổ vào trong, không đổ ra ngoài.
Ba người nằm trên chỗ đất đen cách đó mười hai mét, nhìn.
Không ai nói.
*
Chú Bảy và ba người nữa tới lúc một giờ bốn mươi, mang theo hai cái mền bông ướt sũng và bốn cái bao dứa nhúng nước.
Họ tới muộn hơn tất cả những gì quan trọng.
Việc còn lại của họ là dập nốt mấy đám lửa lẻ dọc mép vườn điều và khiêng cái phản.
Bà Chín đi sau cùng, chống gậy, và cứ chừng hai chục bước bà lại phải dừng.
*
Về tới sân nhà lúc hai giờ mười.
Con dâu ông chạy ra với một ca nước, và nó khóc, và nó không nói được câu nào.
Ông Rế uống hết ca nước rồi ông hỏi một câu.
"Bà đâu."
*
Bà Chín ngồi ở bậc thềm, hai chân duỗi thẳng ra phía trước.
Bà không co được nữa.
Cái đầu gối phải sưng lên thấy rõ dưới ống quần, và bà ngồi đó, hai tay đặt lên đùi, nhìn ra khoảng sân.
Hai bàn tay bà đầy những vết xước dài do cuống cành khế tước ra.
*
Ông Tư Lành ngồi ở bậc thềm bên kia, cách bà chừng hai mét, và trong nửa tiếng ông không nói câu nào.
Rồi ông đứng dậy, đi tới trước tấm phản.
"Anh Rế."
"Ừ."
"Tui đốt rẫy tui."
*
Ông Rế nhìn lên.
"Ông canh không."
"Có. Tui canh từ bảy giờ sáng. Tui phát ranh ba mét. Tui xách hai thùng nước."
"Gió trở lúc mấy giờ."
"Mười hai giờ mười lăm."
"Ừ."
*
Ông Rế đưa tay phải lên, chống xuống mặt phản, nhích người lên một chút cho dựa được vào cái gối con dâu vừa kê.
"Ông Tư."
"Dạ."
"Rẫy ông sao rồi."
Ông Tư đứng im mấy giây.
"Cháy hết."
*
"Hết bao nhiêu."
"Vạt mía tơ tui trồng lại hồi tháng trước. Với cái nhà kho."
"Nhà kho có gì."
"Phân với thuốc. Với bốn tạ mía giống."
Ông Rế gật đầu chậm.
Ông không nói câu nào về chuyện đó nữa.
*
Chiều hôm ấy thằng Bình về.
Nó về lúc bốn giờ, đứng ở đầu ngõ nhìn ra hướng rẫy, nhìn cái cột khói mỏng còn bốc lên từ chỗ chòi, rồi nó chạy vào sân.
Nó quỳ xuống bên tấm phản.
"Ba."
"Ừ."
"Ba có sao không ba."
"Không sao."
*
Nó quay sang mẹ nó.
"Má."
Bà Chín không trả lời ngay.
Bà đang nhìn cái đầu gối của mình.
"Má có sao không má."
"Không sao."
*
Đêm đó người ta kê lại cái phản trong buồng ngoài, chỗ ông Rế nằm mười bốn tháng trước.
Con dâu ông trải chiếu mới, kê gối, và nó không nói gì về chuyện mùi.
Nó chỉ mở toang hai cánh cửa sổ ra hướng vườn.
Ngoài kia, gió đã đổi lại hướng đông.
*
Sáng hôm sau, người trong xóm ra chỗ rẫy.
Vạt mía nhà ông Rế cháy hết bốn sào rưỡi, đen từ mép mương vào tới chỗ chòi.
Mía cháy thì không cứu được, vì lóng mía nứt ra, nước đường chảy, để một ngày là chua.
Thằng Bình về sân, đứng trước tấm phản.
"Ba."
"Bao nhiêu."
"Bốn sào rưỡi."
"Còn được sào nào không."
"Không ba."
Ông Rế im một lúc.
"Vụ này là tiền thuốc cả năm của ba."
"Con biết ba."
"Ừ. Con biết thì thôi, đừng nói với má con."
*
Chỗ cái chòi bây giờ là một khoảng vuông đất đen với bốn khúc gỗ cháy nằm chéo.
Người ta bới trong đó, tìm được cái ca nhựa méo, cái tô sành nứt, và cây gậy tre cũ cháy còn hai gang.
Cách đó bốn bước là gốc khế.
Thân nó không cháy. Nó chỉ trụi, cụt hết cành, đứng đó như một cây cọc.
*
Ba tuần sau, cây khế nứt mấy chồi non ở chỗ cuống cành bị bẻ.
Bà Chín là người đầu tiên thấy, từ trên cái rơ moóc thằng Bình kéo, vì bây giờ bà đi bộ hai trăm mét không nổi nữa.
"Má thấy gì đó má."
"Nó nứt chồi."
"Cây nào má."
"Cây khế. Cây tụi tao bẻ trụi."
Thằng Bình nhìn theo tay mẹ nó chỉ.
"Nó sống hả má."
"Sống."
*
Cái đầu gối phải của bà, sau hôm đó, không về lại như cũ.
Bà đi được trong sân, đi được ra tới ngõ.
Xa hơn thì phải có người chở.
Ông Rế nằm trong buồng ngoài, và bây giờ ông không nói chuyện ra ở riêng nữa.
Con dâu ông sinh vào tháng sau, con gái.
Buổi chiều, người ta khiêng ông ra hiên ngồi.
*
Ông Tư Lành sang chơi vào những buổi chiều như vậy.
Ông sang tay không, ngồi ở bậc thềm, uống nước chè.
Có bận ông ngồi cả tiếng không nói câu nào.
Có bận ông nói chuyện giá mía, chuyện phân, chuyện thằng con ông đi làm xa.
"Mía kỳ này nghe nói xuống giá."
"Xuống nhiêu."
"Nghe nói xuống bốn chục một tạ."
"Ừ."
"Anh uống nước không."
"Uống."
Ông không nhắc chuyện hôm đó.
Ông Rế cũng không.
*
Tới bận thứ mười mấy, ông Tư đặt cái ly xuống và ông hỏi một câu.
"Anh Rế."
"Ừ."
"Anh có giận tui không."
Ông Rế nhìn ra sân một lúc lâu.
*
"Ông Tư."
"Dạ."
"Hồi tui còn đi được, mỗi năm tui đốt rẫy mấy lần."
"Ừ."
"Tui cũng phát ranh. Tui cũng canh. Tui cũng xách nước."
Ông đưa tay phải lên, xoa cái cổ tay trái đang khép.
"Có năm nào tui chắc được là gió nó không trở đâu."
*
Ông Tư cúi đầu xuống nhìn cái ly.
"Rẫy anh bốn sào rưỡi."
"Ừ."
"Vụ tới tui trồng lại giùm anh. Giống tui còn được ít, tui chia."
"Giống ông cháy rồi mà."
"Cháy bốn tạ. Còn tạ rưỡi tui gửi bên nhà thằng cháu."
Ông Rế im một nhịp.
"Ừ."
*
Cuối mùa mưa năm đó, cây khế ra lá kín tán trở lại, nhưng tán nó lệch, vì bên phía người ta bẻ nhiều thì cành mọc lại nhiều hơn.
Con Đốm vẫn nằm dưới gốc khế, nhưng bây giờ nó nằm đó một mình, và mỗi chiều nó chạy về nhà trước khi trời tối.
Mảng lông xém ở đuôi nó mọc lại, màu nhạt hơn chỗ khác.
*
Có một buổi chiều, thằng Bình ngồi vót nan ngoài hiên, và nó hỏi bố nó một câu.
"Ba."
"Ừ."
"Hôm đó ba nằm trong chòi, ba có sợ không ba."
Ông Rế nghĩ một lúc.
*
"Lúc đầu không."
"Sao không ba."
"Tại lúc đầu ba tưởng ba còn xuống được cái phản."
"Rồi sao ba."
"Rồi ba thử. Ba không xuống được."
Ông đưa tay phải lên, xoè ra, nhìn lòng bàn tay mình.
"Lúc đó mới sợ."
*
Thằng Bình cúi xuống vót tiếp.
Nó kéo lưỡi dao hai lần rồi ngừng tay.
"Ba."
"Ừ."
"Sao ba không kêu con."
"Ba có kêu."
"Con không nghe."
"Ba biết."
*
Ông Rế quay đầu nhìn ra chỗ bà Chín.
Bà đang ngồi ở đầu hiên, nhặt đậu, hai chân duỗi thẳng ra trước như từ hôm đó tới giờ.
Ông nhìn bà một lúc, rồi ông nói với thằng con, và ông nói khẽ hơn.
"Bữa đó má mày xuống dốc trong bao lâu."
"Con không biết ba."
"Mọi bữa má mày đi mười một phút."
*
Thằng Bình ngẩng lên.
"Bữa đó bao lâu ba."
"Ba không biết. Ba nằm trong chòi ba đâu có thấy."
Ông Rế đưa tay phải lên, chống mép phản, xoay người một chút cho nhìn rõ hơn về phía đầu hiên.
"Nhưng ba biết một cái."
"Cái gì ba."
*
"Cái đầu gối đó, má mày giữ để đi ra chòi ba lượt một ngày."
Thằng Bình không nói gì.
"Giờ nó hết rồi."
Ông Rế nhìn thêm một lúc nữa, rồi ông quay mặt đi.
"Mai mày ra chợ mua cho má mày cây gậy khác."
*
"Gậy má còn dùng được mà ba."
"Cây đó ngắn."
"Ngắn hả ba."
"Ngắn. Người chống một chân thì gậy phải cao hơn."
Ông Rế nói tới đó thì im.
Ngoài sân, gió chiều thổi qua, mang theo mùi khói của một đám đốt dọn nào đó rất xa, mỏng, gần như không có.
Bà Chín ngồi ở đầu hiên, ngẩng lên ngửi một cái, rồi bà cúi xuống nhặt tiếp rổ đậu.


