Halab
Vạt đất trên taluy đổ xuống lúc ba giờ mười, người đàn ông đi lấy măng bị vùi ngang ngực trên lối mòn không ai biết ông rẽ vào
Truyện

Vạt đất trên taluy đổ xuống lúc ba giờ mười, người đàn ông đi lấy măng bị vùi ngang ngực trên lối mòn không ai biết ông rẽ vào

· 32 phút đọc · Halab

Vạt đất trên taluy đổ xuống lúc ba giờ mười chiều, và khi nó dừng lại thì người đàn ông sáu mươi hai tuổi đứng dưới lối mòn chỉ còn nhô lên khỏi mặt đất từ ngang ngực trở lên.

Mưa chưa tạnh, phần đất còn lại phía trên vẫn còn nguyên ở đó, và trong nhà không ai biết chiều nay ông rẽ vào lối nào.

Lối lên rẫy có hai đường.

Đường dưới men theo con suối cạn, rộng, dễ đi, nhưng vòng xa và mùa này lắm vắt.

Đường trên là lối mòn cũ vắt ngang sườn, bề ngang chỉ vừa hai bàn chân đặt dọc, phía trên là một vạt taluy dựng đứng cao chừng bốn mét.

Ông Bấc đi đường trên hai mươi mấy năm nay, vì nó ngắn hơn nửa tiếng, và vì ông biết chỗ nào đặt chân được.

*

Sáng hôm ấy ông dậy lúc bốn giờ rưỡi.

Trời còn tối, mưa vẫn rơi đều trên mái tôn, thứ mưa dai của cuối mùa.

Trong buồng trong, bà vợ ho hai tiếng rồi thôi.

Ông rót nước sôi ra cái ly, thả vào đó hai viên thuốc màu trắng ở vỉ thứ nhất, một viên màu vàng ở vỉ thứ hai.

Ông thả từng viên, đợi tan, vì bà uống nguyên viên hay bị nghẹn.

Rồi ông bưng vào, đặt lên cái ghế đẩu cạnh giường.

"Ông đi rẫy hả."

"Ừ."

"Trời mưa vầy đi làm gì."

"Đi coi cái chòi. Sợ dột."

Bà không hỏi nữa.

Ông đứng ở cửa buồng thêm mấy giây, nhìn cái vỉ thuốc trên ghế, rồi đi ra.

*

Trong gùi: một con dao quắm cán gỗ, một cuộn dây lạt, hai cái bẫy lồng gấp dẹp, một bịch cơm nắm, và cái chai nhựa một lít đựng nước chè.

Ông tháo đôi dép nhựa, treo lên cái đinh đóng ở cột hiên, rồi xỏ đôi ủng cao su.

*

Cái đinh ở cột hiên là một chi tiết nhỏ, và cả nhà đều biết nó.

Đôi dép treo trên đinh nghĩa là ông đi rẫy.

Đôi ủng treo trên đinh nghĩa là ông ở nhà hoặc ra chợ.

Ba năm trước con gái út về nghỉ hè, thấy vậy thì hỏi, ông bảo treo cho khỏi mất, chó nó tha.

*

Con gái út tên Sim, hai mươi mốt tuổi, đang học năm thứ ba trên tỉnh.

Trong ba lô nó mang về một hộp sữa bột cho mẹ và hai trăm ngàn kẹp trong quyển vở.

Hai trăm ngàn ấy nó định đưa cho mẹ chứ không đưa cho bố, vì đưa cho bố thì ông sẽ cất vào cái hộp sắt dưới gầm giường và không tiêu.

Cái hộp sắt đó, nó biết, đang có hơn ba triệu.

Số tiền ấy là học phí kỳ tới của nó.

*

Ông Bấc lên tới rẫy lúc gần bảy giờ, và ông xê tấm tôn dột trên nóc chòi mất bốn mươi phút.

Măng thì ở phía sau, chỗ bụi tre gai và cái dốc.

Mùa này măng lên sau mỗi trận mưa, mọc thành cụm ở chân bụi.

Ông đi vòng ra sau, cầm dao quắm, cúi xuống lựa.

Ông không chặt măng non quá, vì nhẹ ký, mà chặt hết thì mùa sau bụi tre kiệt.

Tới trưa ông chặt được mười một cây, chặt sát đất, mỗi cây một nhát.

Cái gùi đầy nặng chừng hai chục ký.

*

Còn hai cái bẫy lồng.

Mỗi cái ông mua ba mươi lăm ngàn, dùng đã bốn mùa, một cái mất chốt phải chèn bằng que.

Ông gài mồi bằng khúc mì nướng, ở mép rẫy, chỗ chuột đi thành lối.

Ngày trúng thì được hai con chuột, bán tại chỗ mười lăm ngàn một con, ngày không trúng thì không được con nào.

*

Trời từ trưa đã sẫm.

Mây không đen mà xám bệt, nằm thấp sát ngọn cây, làm cả khu rẫy tối đi như đang chiều muộn.

Ở chân dốc sau bụi tre, nước không chảy thành dòng mà rịn ra từ trong đất, chỗ này một vệt, chỗ kia một vệt, làm mặt đất sẫm như thấm dầu.

Ông Bấc thấy mấy vệt sẫm ấy trên đường quay ra.

Rồi ông đeo gùi lên vai, và ông đi về theo lối mòn trên.

*

Đoạn giữa lối mòn trên là chỗ hẹp nhất, dài chừng bốn chục mét.

Ở đoạn đó, vách taluy dựng gần như thẳng đứng, và trên đỉnh vách là một vạt mì của nhà khác vừa nhổ xong tuần trước.

Nhổ mì thì rễ mì đi theo củ, và đất mất chỗ bám.

Sáu ngày mưa đổ xuống một vạt đất vừa mất rễ, nằm trên đầu một cái vách dựng đứng.

Từ hôm kia, trên mặt vạt đất ấy đã có một đường nứt chạy song song với mép vách, rộng bằng ngón tay út.

Sáng nay nó rộng bằng hai ngón.

*

Ông Bấc đi vào đoạn hẹp lúc ba giờ, đặt chân theo cái cách người quen đường vẫn đặt: bàn chân xoay hơi ngang, mũi chân bám vào rễ cây hoặc đá lộ.

Đi được chừng mười lăm bước, ông nghe một tiếng.

Nó giống tiếng người ta xé một tấm vải dày, rất chậm, ở trên đầu.

Ông ngẩng lên.

Cái nghe được và cái làm được, khi ấy, cách nhau chừng hai giây.

Ông Bấc thấy mép trên của vách hạ xuống.

Nó không rơi. Nó hạ xuống, cả một khối, như thể có ai đó rút cái chống bên dưới.

Ông ném cái gùi khỏi vai, xoay người, và ông chạy về phía trước ba bước.

Ba bước là tất cả những gì ông kịp.

*

Khối đất đổ xuống lối mòn thành một cái đống dài chừng mười mét.

Nó đổ như một cái bao rách đáy: bung ra, tràn xuống, mang theo những thứ nằm trong lòng đất từ trước.

Trong khối đất ấy có đá, có rễ, và có một gốc cây gãy đã mục nửa thân, trước đó nằm chôn dưới vạt mì, không ai biết nó ở đó.

Khi khối đất dừng lại, cái gốc nằm ngang trên lối mòn, một đầu gác lên đá.

Ống chân trái của ông Bấc nằm dưới cái đầu gác lên đá đó.

*

Khi tiếng ù trong tai lặng bớt, ông Bấc mở mắt.

Trước mặt ông là đất, dựng lên, cách mặt ông chừng một gang, nâu, ướt, lấm tấm rễ đứt.

Từ ngang ngực trở xuống, ông không thấy gì cả.

Vai nhúc nhích được. Hai cánh tay nhúc nhích được, cả hai, tới tận bàn tay.

Từ thắt lưng xuống thì không.

*

Ông không kêu ngay.

Người quen rừng có một thói quen: trước khi làm gì thì nhìn cái đã.

Ông ngửa cổ nhìn lên.

Cái vách taluy bây giờ không còn dựng đứng nữa.

Nó bị khoét mất một khoảng, và mép trên chỗ khoét ấy là một đường đất tươi.

Từ mép đó, đất vẫn đang rơi.

Rơi lấm tấm, từng nhúm nhỏ, đều đặn, như cát chảy trong đồng hồ cát.

*

Ông Bấc đưa hai tay xuống, bới.

Ông bới quanh bụng, moi ra một khoảng rộng bằng cái nón, rồi bới xuống thấp hơn, tới đùi.

Tới đùi thì đất chặt lại, vì bên trên nó là mấy tấn đất khác.

Ông đổi cách: bới ngang, moi từ hông trái sang, lần theo chân trái.

Dưới đầu gối, tay ông chạm phải một cái gì cứng, tròn, có vỏ xù xì.

Không phải đá.

Nó là gỗ, và nó dài, và nó nằm đè ngang qua ống chân ông.

*

Ông rút tay lên, chùi vào ngực áo, rồi ngồi im chừng nửa phút.

Trong nửa phút đó, ông tính ra ba việc.

Việc thứ nhất: một mình ông không moi được chân ra, vì muốn nhấc cái gốc thì phải moi hết chỗ đất đè lên nó, mà chỗ ấy nằm ngoài tầm với.

Việc thứ hai: trời sẽ tối trong khoảng ba tiếng nữa.

Việc thứ ba, ông nghĩ ra sau cùng, và nó làm ông ngừng lại.

Ở nhà, đôi dép nhựa đang treo trên cái đinh ở cột hiên.

Nhưng lối lên rẫy có hai đường, và cái đinh ở cột hiên không nói được ông đi đường nào.

*

Ông cất tiếng gọi lúc ba giờ hai mươi.

Ông ngửa cổ, gọi lần thứ hai, và tiếng bay lên được, đi qua tán cây ướt, rồi mưa nuốt nó.

Tiếng đều đều của hàng vạn hạt nước rơi trên hàng vạn cái lá che kín mọi tiếng khác.

Ông gọi mười lần.

Rồi ông thôi, để dành hơi.

*

Cái gùi nằm cách ông chừng bốn mét, phía dưới dốc, đổ nghiêng.

Con dao quắm văng khỏi gùi, cắm chuôi xuống, cách ông năm mét, và năm mét ấy hôm nay dài bằng cả cái rẫy.

*

Cái ông làm sau đó là một việc rất nhỏ.

Ông đưa tay ra sau lưng, mò trong lớp đất phủ, tìm cái chai nhựa đựng nước chè.

Ông moi ra được, vặn thử.

Chai còn hơn nửa, và ông không uống.

Ông đặt nó vào chỗ đất trũng bên hông phải, rồi vun đất chèn quanh cho nó khỏi lăn.

*

Bốn giờ chiều, mưa nặng hạt hơn một chút.

Trên đầu ông, dòng đất lấm tấm chảy xuống từ mép vạt sạt đổi nhịp: nó ngưng một quãng, rồi trút xuống một nhúm to bằng cái bát.

Nhúm đất ấy lăn xuống mặt đống và dừng lại cách vai ông chừng một sải tay.

Ông ngước lên, đo bằng mắt: từ mép trên chỗ khoét xuống tới chỗ ông, chừng năm mét.

Nếu vạt trên trôi thêm lần nữa, thứ đổ xuống sẽ đi qua đúng chỗ ông đang ngồi.

Và lần này ông sẽ không có ngực nhô ra ngoài.

*

Ông bắt đầu làm một việc mà nếu có người đứng xem thì sẽ thấy nó chậm đến sốt ruột.

Ông bới cái bức tường đất dựng cách mặt ông một gang, và ông không bới để thoát ra.

Ông bới để hạ nó xuống cho thoải, để thứ gì trôi từ trên xuống thì trượt qua hai bên vai.

Được chừng hai mươi phút thì móng tay ngón giữa bên phải bật một mảnh.

Ông ngừng, ngậm ngón tay vào miệng một lúc, rồi bới tiếp bằng mu bàn tay và cạnh bàn tay.

*

Ở nhà, bà Bấc tỉnh dậy lúc bốn giờ, thấy trong nhà tối.

Con Sim chạy lên, đỡ mẹ ngồi dậy, kê cái gối vào lưng.

"Mấy giờ rồi con."

"Bốn giờ."

"Bố mày về chưa."

"Chưa mẹ."

"Mọi hôm giờ này bố về chưa mẹ."

"Ba giờ là về tới."

"Mày ra coi cái đinh."

Con Sim ra hiên, ngẩng nhìn cột.

Trên cái đinh, đôi dép nhựa vẫn treo, quai chúc xuống, đầu quai đọng một giọt nước.

*

Nó quay vào, nói còn treo, rồi ra bếp bắc nồi cơm.

Bốn giờ hai mươi, nó tắt bếp.

Nó vào buồng, lấy cái áo mưa treo sau cánh cửa.

*

Người đầu tiên nó tìm là ông Hoành ở đầu ngõ, người có rẫy giáp rẫy nhà nó.

Ông Hoành đang ngồi vót nan trong hiên.

"Chú ơi, chú có thấy bố cháu về không chú."

"Ông Bấc hả. Không. Sáng nay chú không lên rẫy."

"Bố cháu đi từ sớm mà giờ chưa về."

Ông Hoành đặt con dao vót xuống.

"Mấy giờ đi."

"Năm giờ sáng."

"Giờ mấy giờ rồi."

"Bốn rưỡi."

*

Trong hiên nhà ông Hoành, ba người đứng.

Ông Hoành, con Sim, và anh Bường con ông Hoành, thợ hồ, hôm nay nghỉ vì mưa.

"Ông ấy đi đường nào."

"Cháu không biết chú."

"Có hai đường. Đường suối với đường trên."

"Bố cháu hay đi đường nào hả chú."

Ông Hoành không trả lời ngay.

Ông nhìn ra ngoài mưa, rồi ông hỏi con bé một câu khác.

"Sáng nay bố mày đi ủng hay đi dép."

"Đi ủng ạ. Dép còn treo ở đinh."

"Còn cái gùi."

"Không có ở nhà."

*

Ông Hoành gật đầu chậm.

"Đi ủng, đeo gùi, mùa mưa. Vậy là đi đường trên."

"Sao chú biết."

"Đường suối mùa này lắm vắt. Đi ủng lội suối thì nước vào ủng, nặng chân. Ông ấy không đi kiểu đó."

Ông Hoành quay vào nhà, lấy cây đèn pin đội đầu treo trên vách.

"Với lại có cái này nữa."

"Cái gì chú."

"Đường trên ngắn hơn nửa tiếng. Nhà mày có người ốm ở nhà thì ông ấy đi đường nào."

Con Sim không đáp.

Nó chỉ siết chặt cái nút áo mưa dưới cằm.

*

Năm giờ kém mười, ba người đi.

Ông Hoành mang đèn đội đầu và một cái cuốc, anh Bường vác xà beng với cây rựa, con Sim cầm cái đèn pin nhỏ.

Trước khi ra khỏi ngõ, ông Hoành ghé nhà ông Sáu Đàn cách đó bốn nhà, gõ cửa, nói ba câu.

Ông Sáu Đàn vào nhà xách cái đèn măng sông và một cuộn dây thừng, rồi đi theo.

Bốn người.

Không nhiều hơn được, vì cả xóm mùa này người lớn đi làm xa gần hết.

*

Trên đó, ông Bấc hạ được bức tường đất trước mặt xuống ngang cằm.

Việc đó mất hơn một tiếng.

Tay ông bây giờ tê, các ngón sưng, đầu ngón nhợt.

Ông cảm thấy hai chân mình, và không phải cảm thấy đau.

Ông cảm thấy chúng đang xa dần, như thể chúng thuộc về người khác, và người ấy đang đi ra chỗ khác.

Ông đã từng thấy chuyện này một lần.

*

Chuyện ấy xảy ra mười bốn năm trước, ở cái mỏ đá bỏ hoang bên kia đồi.

Một người thợ đá bị vách đá đổ đè hai chân từ sáng tới tối.

Người ta moi ra được. Ông ta còn tỉnh, còn hỏi xin điếu thuốc.

Người thợ đá nằm trên cái cáng tre, hút hết điếu thuốc, và trên đường xuống dốc thì ông ta không nói nữa.

Sau này người ta bảo tại đè lâu quá.

Ông Bấc không hiểu tại sao đè lâu lại chết, vì lúc moi ra rõ ràng người ta còn tỉnh.

Nhưng ông nhớ người ta nói với nhau: giá mà moi ra sớm hơn.

*

Bị vùi lúc ba giờ mười, bây giờ nhìn trời chừng năm giờ.

Ông không biết bao lâu thì thành lâu quá.

Ông chỉ biết cái con số ấy có tồn tại, và ông đang đi về phía nó.

Rồi ông luồn hai tay vào chỗ đất tơi quanh bụng và bắt đầu bóp hai bên đùi mình, chỗ tay còn với tới.

Bóp cho máu nó còn nhớ đường.

*

Bốn người tới chân dốc lúc năm giờ hai mươi.

Ở chỗ hai lối rẽ nhau, ông Hoành dừng lại.

"Chia hai."

"Chia sao chú."

"Chú với con Sim đi đường trên. Thằng Bường với ông Sáu đi đường suối."

"Sao lại chia."

"Đi đường trên gặp thì tốt. Không gặp thì cũng phải có người đi lối kia coi."

Anh Bường ngập ngừng.

"Bố đi đường trên có sao không. Mưa mấy hôm nay."

"Thì mới phải đi coi."

*

Đường trên tối và trơn.

Đi được chừng hai mươi phút thì ông Hoành dừng.

Trước mặt hai người là một cái đống cao ngang ngực, chạy dài mất hút vào bóng tối.

*

Con Sim gọi trước.

Nó gọi tiếng "bố" đầu tiên bằng cái giọng thường ngày, không to, và không có tiếng đáp.

Ông Hoành đưa tay chặn nó lại.

"Đứng im. Nghe."

Mưa rơi trên lá, và nước chảy đâu đó phía dưới dốc.

Trong khoảng giữa hai tiếng nước ấy, có một cái gì khác — mỏng, thấp, đứt quãng, không thành chữ.

Ông Hoành đưa cái vệt đèn quét dọc mặt đống.

Ở giữa đống đất, cách chỗ hai người chừng hai chục mét, có một cái nón lá rách nằm ngửa.

Và cạnh cái nón, có một cái đầu người.

*

Họ tới chỗ ông Bấc lúc năm giờ năm mươi.

Con Sim tới trước, vì nó chạy trên đống đất mới sạt mà không biết là nguy hiểm.

Nó khuỵu xuống trước mặt bố, hai tay chống lên đất.

"Bố."

"Ừ."

"Bố có sao không bố."

"Không sao."

"Bố có đau chỗ nào không."

"Không đau."

Ông Bấc nói tiếp, và ông nói bằng cái giọng bình thường như đang ngồi trong hiên nhà.

"Con lùi ra khỏi chỗ đó. Lùi ra phía sau lưng bố. Đất trên kia còn rơi."

*

Ông Hoành tới sau, và ông không nói gì với ông Bấc trong nửa phút đầu.

Ông đưa cái đèn rọi lên vách, chậm, từ dưới lên tới mép sạt.

Ông nhìn cái mép ấy hồi lâu, và ông thấy cái ông cần thấy: đất vẫn đang rơi xuống từ đó, lấm tấm, đều.

Rồi ông hạ đèn xuống, rọi vào ông Bấc.

"Bấc."

"Ừ."

"Kẹt tới đâu."

"Ngang ngực. Chân trái có cái gốc đè."

"Gốc to không."

"Bằng bắp đùi. Nằm ngang."

"Còn cảm giác không."

Ông Bấc im một nhịp.

"Còn ít."

*

Ông Hoành ngồi thụp xuống, tháo cái cuốc khỏi vai.

Rồi ông làm ba việc trong ba phút, theo đúng thứ tự.

Việc thứ nhất, ông không đào.

Ông đi ngược lên phía trên đống, chỗ chân vách, và ông dùng cuốc bổ một đường rãnh ngang, sâu chừng một gang, dài chừng ba mét, phía trên đầu ông Bấc.

Đường rãnh ấy hứng nước từ trên chảy xuống và dắt nó lệch sang bên, không cho chảy thẳng vào chỗ đang đào.

Nước chảy vào chỗ đào thì đất nhão, đất nhão thì đào tới đâu lở tới đó.

*

Việc thứ hai, ông Hoành cởi áo mưa của mình ra.

Ông trải nó lên mặt đống ngay phía trên đầu ông Bấc, mép trên chèn đá, mép dưới thả xuống.

Tấm áo mưa hứng những nhúm đất lấm tấm đang rơi, và dắt chúng trượt sang một bên.

Ông làm xong thì đứng lên, người ướt sũng ngay lập tức.

Việc thứ ba, ông quay xuống, gọi con Sim.

"Cháu chạy xuống chỗ rẽ. Gọi thằng Bường với ông Sáu lên đây."

"Cháu chạy à chú."

"Chạy. Đi đường suối mà xuống, đừng đi lối này."

"Chú ơi, sao lại đi lối kia."

"Lối này còn sạt nữa."

*

Con Sim chạy.

Nó chạy trong mưa, trên con đường mòn nó chỉ đi hai lần trong đời.

Nó ngã hai lần, và lần thứ hai cái đèn pin văng khỏi tay, lăn xuống dốc, tắt.

Nó bò xuống dốc, quờ trong bụi cỏ ướt, tìm được cái đèn, đổ nước ra, bấm lại.

Đèn nhấp nháy hai cái rồi thôi hẳn.

Nó đứng dậy trong bóng tối hoàn toàn, và nó tiếp tục chạy xuống bằng cách bám vào từng thân cây một.

*

Trên chỗ sạt, ông Hoành bắt đầu đào.

Ông không đào ở chỗ ông Bấc, mà đào ở phía dưới, cách chừng hai mét về phía hạ dốc, khoét một cái hố nghiêng vào lòng đống.

"Ông đào chỗ đó làm gì."

"Moi từ dưới lên."

"Sao không moi thẳng."

"Moi thẳng thì đất trên đầu ông tuột xuống lấp lại."

Ông sáu mươi tư tuổi, và ông đào được chừng mười lăm phút thì phải ngồi xuống thở.

"Bấc."

"Ừ."

"Nói chuyện đi. Đừng ngồi im."

"Nói gì."

"Gì cũng được. Tao đào tao cần nghe mày còn ở đó."

*

Ông Bấc nói.

Ông nói về cái chòi rẫy, về chỗ mái tôn dột, về chuyện sáng nay ông đã xê tấm tôn lên một gang.

Ông nói mười một cây măng đang nằm ngoài kia, chỗ cái gùi đổ, và nếu để qua đêm thì măng thâm, bán không được.

Ông nói hai cái bẫy lồng còn ở mép rẫy, một cái mất chốt phải chèn que, ai lên thì gỡ giùm kẻo chuột dính bẫy chết thối.

Ông nói cái vỉ thuốc của bà nhà ông, viên trắng hai viên buổi sáng, viên vàng một viên, phải thả từng viên vào nước cho tan chứ bà uống nguyên viên hay nghẹn.

Ông nói tới đó thì ngừng.

Ông Hoành đang bổ cuốc, và ông cũng ngừng.

Rồi ông Hoành bổ nhát tiếp theo.

*

Con Sim gặp anh Bường và ông Sáu Đàn ở lưng chừng đường suối lúc sáu giờ hai mươi.

Nó không nói được câu nào rõ, vì thở.

"Trên... trên đó... bố cháu..."

"Bố cháu sao. Nói chậm."

"Bị đất... bị đất vùi..."

"Còn sống không."

"Còn. Bố cháu còn nói chuyện."

Anh Bường quay đầu lại, nói với ông Sáu Đàn.

"Bác chạy về xóm. Gọi thêm người. Bảo mang cưa với đòn bẩy."

"Cưa nào."

"Cưa cây. Có gốc đè chân."

Ông Sáu Đàn chạy về.

Anh Bường phạt bụi bằng cây rựa, cắt ngang sườn để lên chỗ sạt, và con Sim đi sau, tay bám vào vạt áo mưa của anh.

*

Bảy giờ tối.

Cái hố nghiêng ông Hoành đào đã sâu vào lòng đống chừng một mét hai.

Anh Bường thay ông cầm cuốc, và anh trẻ, anh đào nhanh gấp đôi.

Nhưng càng vào sâu, đất càng chặt, và cứ mỗi lần cuốc bổ mạnh thì phía trên lại có một nhúm đất tuột xuống.

Ông Bấc, ở phía trên cái hố, cảm nhận rất rõ: mỗi lần cuốc bổ, khối đất đang bó lấy ngực ông lại nhích xuống một chút.

Nghĩa là bó chặt thêm.

"Bường."

"Dạ bác."

"Bổ nhẹ tay."

"Nhẹ thì lâu lắm bác."

"Nhẹ tay."

Anh Bường ngừng, ngước lên nhìn ông Bấc.

Rồi anh bỏ cuốc, dùng cây xà beng chọc vào đất cho tơi ra, cào bằng hai bàn tay, hất ra sau.

Trong một tiếng sau đó, cái hố tiến thêm được sáu chục phân.

*

Tám giờ, người trong xóm lên tới.

Bốn người nữa, cộng ông Sáu Đàn là năm.

Họ mang lên một cái cưa cá mập lưỡi dài, hai cái cuốc, một cái xẻng, hai cây đòn tre, một bó dây thừng, và cái đèn măng sông đã bơm sẵn.

Người đi cuối cùng vác trên vai bốn cây cọc gỗ dài chừng hai mét, loại cọc chống giàn bí.

Đó là ông Ngọ, thợ mộc trong xóm, sáu mươi tuổi.

"Cọc chi vậy bác Ngọ."

"Chống cái vách. Nó còn xuống nữa thì chống được lúc nào hay lúc đó."

*

Đèn măng sông treo lên một cành cây, và chỗ sạt lần đầu tiên có ánh sáng đủ để nhìn toàn cảnh.

Cái đống dài mười mét.

Cái vách phía trên bị khoét một khoảng bằng nửa cái sân.

Mép khoảng khoét ấy, dưới ánh đèn, hiện ra một đường nứt mới, chạy song song với mép, cách mép chừng một mét.

Ông Ngọ nhìn nó, rồi nhìn xuống chỗ ông Bấc, rồi nhìn lại nó.

"Cái vệt kia là cái gì bác."

"Nứt."

"Nứt thì sao."

"Nứt thì cái dải một mét đó nó sẽ xuống. Không biết lúc nào."

*

Người ta chia việc.

Bốn người đào tiếp cái hố nghiêng từ dưới lên.

Hai người dùng cọc gỗ và cây đòn tre dựng một cái khung ba chân ngay phía trên đầu ông Bấc, căng tấm bạt cũ lên trên.

Cái khung ấy không đỡ nổi một khối đất.

Nhưng nếu chỉ một dải một mét trôi xuống thì nó tách được dòng đất ra hai bên, và chỗ dưới có thể chỉ bị phủ tới vai chứ không lấp đầu.

Ai cũng biết cái khung ấy mong manh, và không ai nói ra.

Con Sim ngồi phía trên đầu ông Bấc, một tay đặt lên vai bố, một tay cầm cái nón lá che ngang.

*

Chín giờ, cái hố nghiêng chạm tới cái gốc cây.

Anh Bường thò cả người vào hố, sờ dọc thân gốc, rồi lùi ra.

"Nó nằm ngang. To bằng cái bắp đùi. Một đầu gác lên hòn đá."

"Cưa được không."

"Cưa được. Nhưng cưa xong nó rơi."

"Rơi thì sao."

"Nó rơi xuống thì nó đè nặng hơn."

"Không cưa một chỗ. Cưa hai chỗ."

"Sao lại hai."

"Cưa hai đầu, lấy khúc giữa ra. Khúc giữa lấy ra rồi thì hai đầu còn lại nó nằm yên trên đá, không đè xuống nữa."

*

Việc cưa bắt đầu lúc chín giờ hai mươi.

Trong cái hố nghiêng chỉ đủ một người nằm, anh Bường nằm nghiêng, kéo cưa bằng một tay.

Lưỡi cưa cá mập dài tám tấc, cưa trong tư thế đó thì mỗi nhát chỉ đi được nửa lưỡi.

Ba người thay nhau, và vết cưa thứ nhất ăn được nửa thân gỗ sau bốn mươi phút.

*

Ở phía trên, ông Bấc không nói nữa.

Ông vẫn tỉnh. Mắt ông vẫn mở, và khi con Sim hỏi thì ông trả lời.

Nhưng ông trả lời chậm hơn, và ông trả lời ngắn hơn.

"Bố lạnh không bố."

"Không."

"Bố uống nước không."

"Không."

"Bố nói chuyện với con đi bố."

Ông Bấc quay mặt về phía con.

Trong ánh đèn măng sông, ông thấy cái áo mưa của nó rách một đường dài ở vai, và dưới chỗ rách là cái áo len đỏ nó mua trên tỉnh.

"Áo mày rách rồi."

"Không sao đâu bố."

"Vá lại. Đừng vứt."

*

Mười giờ, vết cưa thứ nhất đứt.

Anh Bường lay thử.

"Khúc này nó rời rồi bác ơi."

"Nó có tụt không."

"Không. Nó còn kẹt trong đất."

"Cưa tiếp đầu kia."

Vết cưa thứ hai khó hơn, vì nó nằm sâu hơn về phía trong, và người cưa phải với dài hết cánh tay.

Bốn mươi lăm phút.

Trong bốn mươi lăm phút ấy, mưa ngớt dần rồi tạnh hẳn.

*

Mưa tạnh không phải tin tốt.

Ông Ngọ là người đầu tiên nói ra điều đó, và ông nói rất khẽ, với riêng ông Hoành.

"Tạnh rồi."

"Ừ."

"Nước trong đất nó chưa rút đâu."

"Tôi biết."

"Mấy hôm mưa liên tục thì đất no nước. Tạnh rồi nó mới nặng nhất."

Ông Hoành ngẩng lên nhìn cái đường nứt trên mép vách.

Dưới ánh đèn măng sông, ông thấy nó rộng hơn lúc tám giờ.

Không nhiều.

Chừng nửa đốt ngón tay.

*

Mười một giờ kém, vết cưa thứ hai đứt.

Anh Bường chui vào lại, sờ dọc ống chân ông Bấc.

"Hết gỗ rồi bác. Còn đất."

"Moi đất."

"Bác Bấc ơi, bác thử nhúc nhích cái chân trái coi."

Ở phía trên, ông Bấc nhắm mắt lại.

"Không nhúc nhích được."

*

Việc moi đất quanh hai chân mất thêm một tiếng rưỡi.

Từ khúc này trở đi, tất cả làm bằng tay không, và bằng những cái que tre vót dẹt để cạy đất ra khỏi kẽ.

Bên trên, con Sim ngồi nguyên chỗ cũ, tay vẫn để trên vai bố.

Cứ mươi phút nó lại gọi.

"Bố."

"Ừ."

"Bố còn nghe con không."

"Còn."

Cái tiếng "còn" ấy, mỗi lần, nhỏ hơn lần trước một chút.

*

Nửa đêm.

Cái đường nứt trên mép vách bây giờ rộng bằng ba ngón tay.

Ông Ngọ leo lên phía trên, soi đèn pin vào nó, rồi tụt xuống, đi thẳng tới chỗ ông Hoành.

"Phải nhanh."

"Còn bao lâu."

"Tôi không biết. Nhưng nó không đợi mình."

Ông Hoành nhìn xuống cái hố, nơi có hai cái chân người đang được moi ra khỏi đất bằng ngón tay.

Rồi ông làm cái việc mà từ tối tới giờ ông chưa làm.

Ông đếm người.

Tám người đang ở trên cái đống đất mà bên trên nó là một dải đất một mét sắp trôi.

*

Ông Hoành cho bốn người xuống.

"Mấy đứa lùi xuống dưới kia. Đứng dưới gốc dẻ."

"Bác nói gì lạ vậy bác."

"Tao nói mấy đứa lùi xuống."

"Còn bác."

"Tao với ông Ngọ với thằng Bường ở lại. Ba người đủ moi."

Bốn người đàn ông đứng im, không ai nhúc nhích.

Ông Sáu Đàn là người lên tiếng.

"Ông Hoành."

"Gì."

"Ông đếm được thì tôi cũng đếm được."

*

Không ai xuống.

Ông Hoành đứng nhìn bốn người đó chừng ba giây, rồi ông quay lại chỗ cái hố, và ông không nói thêm câu nào.

Ông chỉ đổi cách chia việc.

Ông cho hai người xuống phía dưới đống, cách chỗ đào tám mét, đứng đó với một cuộn dây thừng đã buộc sẵn thòng lọng.

Nếu vách đổ, hai người đó sẽ là hai người đào ra.

Cái tính toán ấy lạnh, và ai cũng hiểu, và không ai bàn.

Con Sim nghe hết.

Nó không rời chỗ.

*

Một giờ sáng.

Ông Bấc được moi ra tới ngang đùi.

Người ta luồn được một sợi dây thừng vòng qua dưới hai nách ông, hai đầu dây vắt lên trên, buộc vào một gốc cây.

Sợi dây ấy không dùng để kéo.

Nó dùng để nếu đất trên đầu trôi xuống, người ở dưới còn có cái mà bám vào để lôi ông lên.

Ông Bấc, lúc người ta luồn dây, nói một câu.

Đó là câu đầu tiên ông nói ra trong gần một tiếng.

"Con Sim đâu."

"Con đây bố."

"Mày xuống dưới kia."

"Con không xuống."

*

Ông Bấc quay đầu về phía con.

Trong ánh đèn măng sông, mặt ông xám, môi trắng, tóc bết vào trán.

"Nghe bố nói."

"Dạ."

"Cái hộp sắt dưới gầm giường."

"Bố."

"Trong đó có ba triệu hai. Với cái giấy đóng tiền học kỳ trước."

"Bố đừng nói nữa."

"Học phí kỳ tới bao nhiêu."

Con Sim không trả lời.

"Bao nhiêu."

"Bốn triệu tám."

"Thiếu một triệu sáu."

Ông ngừng một nhịp, thở.

"Con hỏi bác Hoành. Bác ấy có cái xe cày."

*

Con Sim cúi xuống, hai tay ôm lấy đầu bố.

Nó không khóc thành tiếng.

Nó áp trán vào tóc ướt của ông, và nói vào đó, rất nhỏ, đủ để một mình ông nghe.

"Bố im đi. Con xin bố. Bố im đi."

Ông Bấc im.

Ông không nói thêm về tiền học nữa cho tới sáng.

Bên dưới, trong cái hố nghiêng, ông Ngọ moi được bàn chân phải của ông ra khỏi đất.

Ông sờ vào nó, rồi ông rút tay ra, và ông ngồi im trong hố chừng năm giây trước khi gọi ra ngoài.

"Chân phải ra rồi. Còn chân trái."

*

Hai giờ mười.

Cái vách đổ.

Nó không đổ cả mảng.

Cái dải một mét đó tách ra khỏi mép, trôi xuống, và nó trôi chậm hơn người ta tưởng, gần như là nó chảy.

Nó đi qua cái khung ba chân dựng phía trên đầu ông Bấc.

Cái khung gãy hai chân, đổ nghiêng, và trong lúc đổ nó hất dòng đất lệch sang bên phải.

Phần đất ấy đổ xuống, phủ lên chỗ ông Bấc, và nó dừng lại ở ngang cằm ông.

Trên cái đống, mọi người bị hất ngã.

*

Trong bốn giây sau đó, không ai nhìn thấy gì, vì đèn măng sông tắt.

Rồi có tiếng ông Hoành.

"Đứa nào còn ở trên này."

"Con."

"Tôi."

"Tôi đây."

Người ta điểm được sáu tiếng.

Thiếu hai.

"Thằng Bường đâu."

"Bường!"

Từ trong cái hố nghiêng, một tiếng vọng ra, nghèn nghẹt.

"Con trong hố. Con không ra được. Miệng hố bị lấp."

*

Người thứ hai không đáp là con Sim.

Nó bị hất xuống dốc chừng bốn mét, đầu đập vào một cái rễ cây, và nó nằm đó chừng mười lăm giây.

Rồi nó tự bò lên.

Nó bò lên bằng bốn chi, không ai đỡ, vì lúc ấy sáu người đang bới ở miệng cái hố nghiêng.

Nó lên tới nơi, không nói gì với ai, và nó đi thẳng tới chỗ bố nó.

Đất đã lên tới cằm ông.

Con Sim quỳ xuống, thọc hai tay vào đống đất trước mặt bố, và nó bắt đầu bới.

*

Miệng hố được khơi ra sau bảy phút.

Anh Bường bò ra, người phủ đất, mặt trắng bệch, rồi quay lại nhìn vào trong hố.

"Trong đó thế nào."

"Trong đó không sập. Cái nóc hố nó không sập bác ạ."

"Sao không sập."

"Đất trong đó cũ. Nó chặt."

Ông Ngọ, đang ngồi thở dốc bên cạnh, nghe câu ấy thì ngẩng lên.

"Vậy thì chui lại vào."

"Bác."

"Chui vào. Trong đó bây giờ là chỗ chắc nhất ở đây."

*

Ba giờ sáng.

Người ta bới lại đống đất mới, hạ nó từ cằm ông Bấc xuống tới ngực.

Ông vẫn tỉnh, nhưng ông không còn trả lời khi người ta gọi tên.

Ông chỉ chớp mắt.

Con Sim quỳ bên cạnh, một tay giữ cằm bố cho đầu ông khỏi gục xuống, tay kia lau đất trên mặt ông bằng vạt áo len đỏ.

Nó lau mãi một chỗ, dù chỗ ấy đã sạch.

Ông Hoành cởi cái áo khoác của mình, đắp lên vai ông Bấc, và ông nói với con bé một câu.

"Cháu nói chuyện với bố đi. Nói cái gì cũng được. Đừng để ông ấy ngủ."

*

Con Sim nói chuyện với bố nó từ ba giờ sáng tới lúc trời hửng.

Nó kể cái phòng trọ trên tỉnh có bốn đứa, và cái quạt trần quay lệch nên đêm nào cũng kêu.

Nó kể nó dạy kèm cho một đứa lớp sáu, đứa đó dốt toán nhưng vẽ đẹp.

Nó kể bà bán xôi ở cổng trường hay để dành cho nó cái bánh chưng rán.

Nó kể cả những chuyện chưa xảy ra, những chuyện của mùa hè năm sau.

Cứ chừng năm phút nó lại hỏi một câu, và ông Bấc chớp mắt.

*

Năm giờ mười sáng, chân trái ông Bấc ra khỏi đất.

Không có tiếng reo.

Ông Ngọ chui ra khỏi hố, gọi ông Hoành lại, và nói nhỏ vào tai.

Ông Hoành nghe xong thì đứng thẳng người lên.

"Khiêng."

"Khiêng thế nào bác."

"Nằm ngửa. Đừng để ai xốc nách. Đừng để ai vác lên vai."

"Sao vậy bác."

"Cứ làm vậy."

*

Người ta chặt hai cây tre, buộc ngang bằng bốn thanh gỗ cọc, phủ lên đó tấm bạt và hai cái áo mưa.

Sáu người nhấc ông Bấc lên cái cáng ấy, mỗi người đỡ một chỗ, cùng lúc, theo tiếng đếm của ông Hoành.

Khi họ nhấc, ông mở mắt và nhìn lên trời.

Trời lúc ấy đã xám bạc, và mưa đã tạnh được sáu tiếng.

Ông quay đầu sang, tìm.

"Cái gùi."

"Bác nói gì."

"Cái gùi. Ngoài kia."

Anh Bường chạy xuống dốc, nhặt cái gùi lên, dốc ngược cho đất ra, và anh vác nó lên vai mình.

*

Xuống tới đường lớn mất hai tiếng mười lăm phút.

Con Sim đi bên cạnh cáng suốt quãng đường đó, một tay giữ mép bạt.

Ở chỗ dốc cuối, người ta phải hạ cáng xuống, chuyền qua một khe đá, rồi nâng lên lại.

Trong lúc chuyền, ông Bấc tỉnh và ông nói một câu.

"Bà nhà tôi."

"Bà ấy ở nhà. Yên tâm."

"Thuốc sáng."

"Có người sang rồi. Bà Hoành sang từ đêm qua."

Ông Bấc nhắm mắt lại.

*

Người ta chở ông đi bằng chiếc xe bán tải chở nông sản của một người trong xóm, lót rơm dưới thùng, đặt cáng lên trên.

Trong suốt quãng đường ấy, con bé nhìn hai bàn tay bố nó đặt trên bụng.

Mười đầu ngón tay ông trầy hết, móng ngón giữa bên phải mất một mảnh, và trong các kẽ móng còn đất.

Nó nhớ ông bới bằng hai bàn tay không suốt từ ba giờ chiều tới lúc người ta lên tới nơi.

Và nó nhớ ông đã bới không phải để chui ra.

*

Ở nơi người ta đưa ông tới, chuyện xảy ra trong ba ngày.

Ngày thứ nhất, họ nói chân trái ông giữ được hay không thì chưa biết.

Ngày thứ hai, họ nói khả năng thấp.

Ngày thứ ba, họ gọi con Sim ra hành lang và nói một câu dài, nhiều từ nó không hiểu, nhưng có một đoạn nó hiểu: để lâu hơn thì sẽ ảnh hưởng tới toàn thân.

Rồi nó vào buồng, ngồi xuống cạnh giường, và nó nói lại với bố nó bằng tiếng của người nhà.

Ông Bấc nghe xong thì gật đầu một cái.

Ông chỉ hỏi lại đúng một câu.

"Mất tới đâu."

"Trên gối một chút bố ạ."

"Ừ."

*

Ông về nhà sau đó ba tuần.

Bà Bấc chống gậy đi ra tới bậc thềm thì dừng lại.

Ông Bấc ngước lên nhìn vợ.

"Bà đứng đó làm gì. Vào nhà đi, gió."

"Ông về rồi hả."

"Về rồi."

"Ông có đói không."

"Đói."

Bà quay vào, và người ta nghe tiếng bà lục cục ở bếp, và không ai đi theo bà.

*

Cái đinh ở cột hiên vẫn còn.

Trên đó bây giờ không treo gì.

Đôi dép nhựa thì ông vẫn đi.

Đi một chiếc.

Chiếc còn lại con bé cất trong túi ni lông, để chung với đôi ủng, và nó không nói ra lý do.

Nhưng cứ chiều chiều, bà Bấc ngồi ở cửa buồng, mắt nhìn ra cột hiên, chỗ có cái đinh trống.

*

Tháng thứ hai, con Sim xin nghỉ học một kỳ.

Nó lên tỉnh làm giấy, rồi về, và nó nói với mẹ trước, trong bếp, lúc đang nhặt rau.

"Con xin bảo lưu một kỳ mẹ ạ."

"Rồi mày định làm gì."

"Con đi làm. Có chỗ nhận."

"Bố mày biết chưa."

"Chưa."

"Rồi ai nói."

"Con nói."

Bà Bấc không nói gì thêm, và bà cũng không ngăn.

*

Con Sim nói với bố nó vào buổi tối, ngoài sân, lúc ông đang ngồi hong chân.

Trước khi nó mở miệng, ông Bấc đã nói trước.

"Mày bảo lưu rồi hả."

Con bé ngẩng phắt lên.

"Sao bố biết."

"Bác Hoành nói."

"Bố."

"Ừ."

"Con đi làm một năm. Con đi làm rồi con học tiếp."

Ông Bấc nhìn ra ngõ, ngồi im khá lâu, và khi ông nói thì ông không nói về chuyện học.

"Hôm đó bố đào."

"Dạ."

"Mày có biết bố đào cái gì không."

"Bố đào để chui ra."

"Không."

Ông Bấc đưa bàn tay phải lên, xoè ra, nhìn cái móng giữa đã mọc lại nhưng cong vẹo.

"Bố đào cái đất trước mặt cho nó thấp xuống."

"Để làm gì hả bố."

"Để nếu nó đổ lần nữa thì nó trượt qua hai bên."

Ông hạ tay xuống.

"Bố tính bố nằm đó tới sáng. Sáng thì có người đi rẫy ngang."

*

Con Sim ngồi im.

Rồi nó hỏi bố nó một câu, và nó hỏi bằng cái giọng bình thường, vì nếu không bình thường thì nó sẽ không hỏi được.

"Bố ơi."

"Ừ."

"Nếu sáng ra mà không ai đi ngang thì sao hả bố."

Ông Bấc quay sang nhìn con.

Ông nhìn nó một lúc, rồi ông trả lời, và ông trả lời thật, không tránh.

"Thì bố nằm đó."

Con bé gật đầu.

Nó không hỏi thêm câu nào nữa.

*

Sang tháng thứ tư, ông Bấc bắt đầu ngồi đan.

Người trong xóm bắt đầu đặt, mỗi cái tám chục ngàn.

Không bằng đi rẫy, nhưng nó là tiền, và nó vào cái hộp sắt dưới gầm giường.

Con Sim đi làm ở một xưởng may cách nhà hai mươi cây.

Ngày nghỉ nó ngồi bên bố nó vót nan, vót vụng, nan chỗ dày chỗ mỏng, và ông Bấc phải vót lại.

Có lần nó nói xong một câu dài thì ngẩng lên, và nó thấy bố nó không đan nữa.

Ông đang ngồi im, hai tay đặt trên cái gùi đang đan dở, mắt nhìn nó.

*

"Bố nghe không."

"Nghe."

"Bố nghe cái gì."

"Nghe cái giọng."

"Giọng con làm sao."

Ông Bấc cúi xuống, đan tiếp nan tre vào chỗ dở.

"Cái hôm đó bố nằm dưới đất, bố nghe tiếng mày gọi từ xa."

Con Sim ngừng tay.

"Bố nghe được hả bố."

"Nghe."

"Sao bố không đáp."

"Bố có đáp. Mày không nghe thấy."

Ông kéo sợi nan cho chặt.

"Bố hết hơi từ chiều rồi."

*

Con bé cúi xuống, vót tiếp cái nan trong tay.

Nó vót được hai đường thì nó dừng lại.

"Bố ơi."

"Ừ."

"Con nghe thấy chứ."

Ông Bấc ngẩng lên.

"Cái lúc bác Hoành bảo con đứng im để nghe. Con có nghe thấy một tiếng gì đó."

"Rồi sao."

"Con tưởng con nghe nhầm. Con không dám nói. Con sợ nói ra rồi hoá ra không phải."

Con Sim đặt cái nan xuống.

"Con đứng đó chắc hai giây thôi. Nhưng con nhớ hai giây đó tới giờ."

*

Ông Bấc không nói gì.

Ông đặt cái gùi đan dở xuống đùi, và ông đưa tay xoa cái đầu gối bên trái, chỗ ống quần gập lại và khâu túm.

Ông xoa chỗ đó theo thói quen, mỗi ngày mấy chục lần, không để ý.

Ngoài sân, trời đang chuyển mưa, thứ mưa đầu mùa, còn thưa hạt.

Trên cột hiên, cái đinh vẫn ở đó, trống không.

Ông nhìn ra chỗ ấy một lúc.

Rồi ông quay sang con gái, và ông nói câu cuối cùng của buổi chiều hôm đó.

"Mai mày nghỉ, dẫn bố ra chợ mua cái đinh nữa."

"Mua chi bố."

"Đóng cạnh cái cũ."

"Để treo gì hả bố."

"Treo cái nạng."

Chia sẻ:FacebookXThreadsTelegram

Đọc tiếp

Cậu ta vứt bộ máy đồng hồ lên mặt tủ kính của tôi rồi bảo cả phố nghe rằng ông thợ vỉa hè này vừa tráo đồ của một bà cụ tám mươi mốt tuổi
Truyện

Cậu ta vứt bộ máy đồng hồ lên mặt tủ kính của tôi rồi bảo cả phố nghe rằng ông thợ vỉa hè này vừa tráo đồ của một bà cụ tám mươi mốt tuổi

Tôi tên Ứng, sáu mươi tư tuổi, sửa đồng hồ ở góc phố này bốn mươi năm, cái tủ kính rộng bằng hai cánh cửa và cái kính lúp kẹp mắt phải. Tuần trước bà Lượt tám mươi mốt tuổi trong ngõ mang sang cái đồng hồ mặt trắng của chồng bà, kêu nó chạy nhanh, tôi thay cho bà một cái chân kính vỡ và lấy ba trăm nghìn. Sáng thứ năm ấy, con ông chủ tiệm đồng hồ lớn ngoài mặt phố sang, đặt bộ máy đã tháo rời lên mặt tủ kính của tôi và nói tôi đã tráo máy, đòi tôi đền bảy triệu. Bà cụ ngồi ngoài quầy tiệm người ta từ tám giờ sáng, không dám về, vì bà sợ bà về thì người ta nói tôi nặng hơn. Người vặn vít để lại vết trên đầu con vít, và cái vết ấy không xoá đi được.

· 16 phút đọc
Cả lô hàng mốc trắng, cậu chủ trẻ chỉ vào mặt tôi bảo bà tráng ẩu thì lấy đâu ra tiêu chuẩn, và tôi vác cái phên nứa cũ đi bộ ra kho
Truyện

Cả lô hàng mốc trắng, cậu chủ trẻ chỉ vào mặt tôi bảo bà tráng ẩu thì lấy đâu ra tiêu chuẩn, và tôi vác cái phên nứa cũ đi bộ ra kho

Tôi tên Hoạt, năm mươi tư tuổi, tráng bánh đa nem ở cái sân này từ năm hai mươi ba tuổi. Hai giờ sáng dậy xay bột, sáu giờ ra phên, ba giờ chiều gỡ bánh, ba mươi năm chưa đổi giờ nào. Cơ sở đóng gói ngoài thị trấn lấy hàng của tôi bốn năm, mỗi tuần hai lượt, cho tới cái hôm một nghìn tư tệp bị khách trả về vì mốc trắng. Cậu con ông chủ sang tận sân tôi, bảo tôi tráng ẩu, bắt tôi ký giấy nhận trách nhiệm, còn trước đó đã trừ lương ba tháng của người đàn bà gỡ bánh thuê goá chồng nuôi con tật chân. Tôi chỉ xin cậu ấy mở cho tôi một kiện hàng trả về. Bánh đa nem mốc có hai kiểu, và ba mươi năm mở kiện thì biết hai kiểu ấy nhìn khác nhau như hai người khác nhau.

· 14 phút đọc
Cậu quản lý bảo tôi hàng vỉa hè thì biết gì về giày, rồi cậu ấy đuổi con bé lau dọn trước mặt cả cửa hàng, và đó là lúc tôi xách cái hòm gỗ đi lên tầng một
Truyện

Cậu quản lý bảo tôi hàng vỉa hè thì biết gì về giày, rồi cậu ấy đuổi con bé lau dọn trước mặt cả cửa hàng, và đó là lúc tôi xách cái hòm gỗ đi lên tầng một

Tôi tên Cẩn, ngoài năm mươi, sửa giày dưới gốc cây ở đầu con phố này ba mươi năm, đồ nghề là cái hòm gỗ với hai cái ghế con. Da mặt trên thì thay được, nhuộm được, đánh xi cho mới thì nhìn khó biết, còn cái đế thì không: đế là chỗ duy nhất trên đôi giày mà người mang tự viết vào đấy mỗi ngày một ít, suốt mấy năm. Buổi sáng ấy, cậu quản lý cửa hàng giày trong trung tâm thương mại xuống gốc cây bảo tôi đã đánh tráo một đôi da bò hăm hai triệu của khách gửi bảo hành, và bắt tôi đền. Cậu ấy ôm khư khư cái túi vải dưới nách, không cho tôi cầm lấy một chiếc. Ba hôm sau, con bé mười chín tuổi vẫn bê giày xuống cho tôi bị đuổi việc trước mặt cả cửa hàng. Nó xuống chỗ tôi, không mang giày, chỉ mang một cái túi ni lông đựng đồ.

· 15 phút đọc