
Cậu ta gọi cả họ ra đứng trước dãy bia sai chữ rồi bảo thẳng vào mặt tôi rằng thứ chữ đục tay nhà quê thì chỉ làm hỏng mộ người ta
"Ông đục tay được mấy chữ mà ông dám nhận nguyên một dãy bia của cả một họ?"
"Cậu hỏi dãy bia nào?"
"Dãy bia bên khu mộ tổ họ Trịnh. Mười bốn cái. Ông làm hồi tháng ba."
"Tôi làm chín cái. Năm cái còn lại không phải tay tôi."
"Ông cứ chối đi đã."
Tôi tên Trạc, sáu mươi hai tuổi, khắc bia mộ bằng tay ba mươi lăm năm.
Xưởng tôi là cái lán tôn sát bờ rào nghĩa trang xóm, trong có một bàn đá, một bộ đục, một máy mài cầm tay.
Cậu đứng trước mặt tôi tên Khoản, ba mươi mốt tuổi, con ông chủ cơ sở bia mộ lớn ngoài đường lớn.
"Sáng nay họ Trịnh gọi tôi ra tận nơi. Bia sai tên, sai năm, đá bạc trắng cả ra."
"Sai chỗ nào cậu chỉ tôi xem."
"Ông ra mà nhìn. Ông làm ông còn hỏi tôi."
Sáng thứ bảy, trời hanh.
Thằng Lự đang rửa chổi ở góc lán thì nó đứng dậy.
Nó hai mươi tư tuổi, phụ tôi bốn năm, trọ sau nhà bà bán nước cạnh cổng nghĩa trang.
"Bác ơi để cháu ra với bác."
"Mày ngồi đấy rửa nốt chổi."
Cậu Khoản nhìn thằng Lự từ đầu đến chân.
"Thằng này phụ ông à?"
"Nó phụ tôi."
"Nghe nói hôm dựng bia nó có mặt."
"Nó khiêng."
"Thế thì càng gọn."
Cậu ấy đi trước dẫn tôi ra khu mộ tổ, như thể tôi chưa đến đấy bao giờ.
Mười bốn cái bia xếp hai hàng, người trong họ túm quanh cái thứ tư hàng sau.
Ông đứng giữa là ông Trịnh Đãng, sáu mươi tám tuổi, trưởng họ, người đặt cả dãy bia này.
"Bác Trạc ra rồi đấy à."
"Vâng, ông gọi tôi."
"Tôi không gọi. Cậu Khoản gọi. Bác nhìn hộ tôi cái bia này."
Cái bia ấy khắc tên một bà cụ, dưới tên là hai cái năm, năm sau là bảy mươi chín.
"Bà cô tôi mất năm tám mươi chín, không phải bảy mươi chín."
"Vâng."
"Mười năm, bác ạ. Sai mười năm trên bia bà cô tôi."
"Tôi hiểu."
"Cả họ tôi hôm rằm ra đây thắp hương, người ta đọc được cái đó."
Cậu Khoản chen vào giữa.
"Đấy, bác cứ nói thẳng cho ông ấy nghe."
"Cậu để tôi nói với bác Trạc."
"Vâng vâng."
Ông Đãng chỉ sang cái bia bên cạnh.
"Cái này nữa. Tên chú tôi là Trịnh Văn Cẩn. Khắc thành Cận."
"Vâng."
"Còn cái đầu hàng thì đá nó bạc. Mới một mùa mưa mà nó bạc như đá ngoài đê."
Tôi cúi xuống cái bia thứ tư, đưa tay sờ vào lòng nét chữ.
Thằng Lự đứng sau lưng tôi, không nói gì, nhưng tôi nghe tiếng nó thở.
"Ông sờ thì chữ nó đúng lại à?"
"Tôi sờ vì tôi quen sờ."
"Quen sờ mà khắc sai mười năm."
Người trong họ có tiếng xì xào.
Ông Đãng giơ tay cho im.
"Bác Trạc, bác nhận hay bác không nhận?"
"Ông cho tôi hỏi ông một câu trước."
"Bác hỏi."
"Cả dãy này ông đặt với ai?"
"Với bác. Một đợt, tháng ba, bác nhận cả dãy."
"Tôi nhận cả dãy thật."
Cậu Khoản vỗ tay một cái vào đùi.
"Đấy. Ông ấy nhận rồi nhé, cả họ nghe rồi nhé."
"Cậu nghe cho hết đã."
"Nghe gì nữa?"
"Tôi nhận cả dãy, nhưng tôi không làm hết cả dãy."
Ông Đãng nhíu mày.
"Bác nói lại tôi nghe."
"Tháng ba tôi ốm. Nằm hai mươi ngày, mổ ruột thừa ở bệnh viện ngoài thị trấn."
"Cái đó tôi biết. Tôi có vào thăm bác một lần."
"Lúc ấy tôi mới làm xong chín cái. Còn năm cái tôi không kịp."
"Rồi bác giao cho ai?"
Cậu Khoản trả lời thay tôi, nhanh.
"Giao cho thằng phụ đây chứ ai. Ông ấy nằm viện, thằng này ở nhà đục bừa."
Thằng Lự bước lên nửa bước.
"Cháu không đục cái nào ạ. Cháu chỉ khiêng với đánh bóng chân bia thôi."
"Mày hai mươi mấy tuổi mày biết gì mà cãi."
Tôi quay lại nhìn cậu Khoản.
"Cậu bảo nó đục bừa. Cậu nhìn nó đục bao giờ chưa?"
"Ông nằm viện thì ở xưởng còn ai nữa."
"Thế thì ai đục?"
"Chuyện ấy để tí nữa."
Ông Đãng nhìn tôi, rồi nhìn thằng Lự, rồi nhìn xuống cái bia sai năm.
"Trong họ có người bảo cứ đập cả năm cái làm lại."
"Đập thì dễ."
"Nhưng đập bia người chết, một lần là động một lần. Nên tôi muốn biết ai làm, để người ấy chịu."
Cậu Khoản rút điện thoại, mở ảnh một dãy bia khác, chìa vào mặt tôi.
"Hai mươi hai cái, máy chạy theo file, không sai một chữ."
"Vâng."
"Còn ông thì ông cầm cái đục, ông gõ theo cảm hứng."
"Tôi gõ theo cái vạch tôi kẻ."
"Kẻ tay. Chữ nhà quê."
Ông Đãng hắng giọng.
"Cậu nói vừa thôi. Bác Trạc khắc bia cho bố tôi năm chín mươi tư."
"Thì năm chín mươi tư khác. Bây giờ ai còn ngồi đục tay nữa."
Tôi ngồi thụp xuống trước cái bia thứ tư, mặt bia mới lau, còn vệt nước chưa khô ở chân chữ.
"Ông Đãng, ông cho tôi sờ hết mười bốn cái, ông đi cạnh tôi."
"Bác cứ sờ."
Cậu Khoản cười.
"Ông làm như đang bắt mạch."
"Cậu đi cùng luôn thì tốt."
"Tôi đi. Tôi xem ông diễn."
Tôi bắt đầu từ đầu hàng trước, sờ từng chữ, ngón trỏ miết dọc theo lòng rãnh.
Chuyện trong lòng một nét chữ khắc thì thế này.
Đục tay là gõ từng nhát, lưỡi đục ăn vào đá theo thớ, chỗ thớ cứng nó lệch ra một sợi tóc.
Đáy rãnh vì thế nhám, sờ vào ram ráp như da tay người làm ruộng.
Máy chạy theo file thì mũi quay tròn, ăn đều một độ sâu, đáy phẳng bóng, trơn như lòng cái thìa.
Ba mươi lăm năm tôi sờ đáy chữ nhiều hơn tôi nhìn mặt chữ.
"Ông Đãng, ông miết ngón tay vào nét sổ chữ Trịnh này, miết từ trên xuống."
Ông ấy miết.
"Nó ráp."
"Vâng. Ông sang cái thứ tư, miết y như thế."
Ông ấy sang cái bia sai năm, cúi xuống, miết ngón tay ba lần.
"Cái này trơn."
"Ông nói to lên."
"Cái này trơn hẳn."
Cậu Khoản bước lại.
"Trơn thì làm sao? Đá khác nhau nó ráp trơn khác nhau."
"Cậu bảo tôi diễn, thì cậu sờ đi."
Cậu ấy cúi xuống, miết một cái, rồi rụt tay lại.
"Thì trơn."
"Cậu sang cái bên cạnh."
"Ráp."
"Cậu đếm hộ tôi trong mười bốn cái có mấy cái trơn. Cậu đếm thì người ta tin hơn tôi đếm."
Cậu ấy đi dọc hai hàng, cúi lên cúi xuống, cả họ đứng nhìn.
"Có mấy cái hả cậu?"
"Năm."
"Cậu nói to."
"Năm cái. Thứ tư, thứ năm, thứ sáu, thứ bảy hàng sau, với cái đầu hàng trước."
"Đúng năm cái tôi không kịp làm."
Ông Đãng đứng thẳng người lên.
"Bác Trạc, bác nói cho rõ."
"Chín cái tôi làm bằng đục, đáy nó nhám. Năm cái kia đáy phẳng bóng, không phải đục."
"Không phải đục thì là cái gì?"
"Là máy."
Cậu Khoản cười một tiếng cụt.
"Ông có máy mài cầm tay đấy thôi."
"Cầm tay thì tay tôi rung, nó không đi nổi một nét thẳng dài bằng cái móng tay mà không lệch."
"Ông nói mồm."
"Cậu cầm máy của cậu, cậu thử một nét sổ trên miếng đá thừa, cậu biết ngay."
Ông Đãng giơ tay chặn cả hai.
"Khoan đã. Vậy năm cái kia ai làm?"
"Tôi không giao được cho ai cả. Tôi nằm hai mươi ngày, đến lúc tôi về thì bia đã dựng xong rồi."
"Thế ai dựng?"
Thằng Lự đứng ở rìa đám đông, nó nói, giọng nó run.
"Cháu dựng ạ."
Cậu Khoản quay phắt lại.
"Đấy. Nó nhận rồi."
"Cháu dựng thôi ạ. Có người chở đá đến, bảo là hàng bác Trạc đặt."
"Mày nói láo. Ai chở đến?"
"Cháu không biết tên ạ. Xe tải nhỏ, thùng bạt xanh."
"Cả nghĩa trang này thiếu gì xe thùng bạt xanh."
Ông Đãng nhìn thằng Lự, mắt ông ấy không dữ, nhưng ông ấy hỏi rất chậm.
"Cháu dựng bia mà cháu không đọc chữ à?"
Thằng Lự cúi mặt.
"Cháu có đọc ạ."
"Cháu đọc mà cháu không thấy sai năm?"
"Cháu... cháu đọc chậm ạ."
Người trong họ có tiếng cười khẽ, và cái tiếng cười ấy làm tai tôi nóng lên.
"Ông Đãng."
"Bác nói."
"Thằng này bố nó mất từ lúc nó lớp bốn, mẹ nó đi làm xa. Nó học đến lớp bảy."
"Tôi biết nhà nó."
"Nó dựng bia cho họ ông ba năm nay, cái nào nó cũng lau trước khi nó về."
"Cái đó tôi cũng biết."
"Nó đọc chậm thì nó đọc chậm, chứ nó không đục hộ tôi cái nào."
Cậu Khoản chống nạnh giữa hai hàng bia.
"Bác Đãng, ông này bênh thằng phụ thì ông ấy phải bênh."
"Cậu nói tiếp đi."
"Ông ấy nằm viện, thằng phụ ở nhà. Nó cầm tiền của ông này, nó ăn bớt, nó mua đá ép."
"Đá ép là đá gì?"
"Là đá vụn trộn keo, ép ra, đánh bóng nhìn như granite. Được một mùa mưa là bạc."
"Cậu nói cái này cậu chắc chứ?"
"Cháu làm nghề này, cháu nhìn phát biết."
Tôi nghe đến đấy thì tôi để cái tay tôi xuống mặt bia.
"Cậu vừa nói năm cái đá ấy là đá ép, cậu nói trước mặt cả họ người ta."
"Thì đã sao."
"Không sao. Tôi ghi nhận thôi."
Ông Đãng quay sang tôi.
"Bác Trạc, tiền tôi đưa trước tháng ba, bác giữ hay bác đưa cho ai?"
"Tôi giữ. Tôi nằm viện tôi vẫn giữ trong cái túi vải."
"Vậy thằng bé lấy tiền đâu mua đá?"
Cậu Khoản đáp ngay.
"Thì nó mua chịu. Đá ép rẻ như bèo, nói khó với người ta cái là được."
Tôi đứng lên, phủi tay vào ống quần.
"Ông Đãng, ông cho gọi người nào trong họ hôm ấy ra trông thợ dựng bia."
"Có chú Trịnh Hoạt em tôi, hôm ấy chú ấy ra."
Chú Hoạt ra sau mươi phút, người gầy, đội mũ vải bạc.
"Anh gọi em."
"Hôm dựng năm cái bia sau, chú ra đây phải không?"
"Em ra. Em đứng cả buổi sáng."
"Ai chở đá đến?"
"Cái xe tải nhỏ thùng bạt xanh."
Tôi hỏi chen vào.
"Chú Hoạt, hôm ấy có mấy người xuống xe?"
"Ba. Hai người khiêng, một người cầm cái cặp nhựa đứng chỉ."
"Người cầm cặp nhựa chú có nhớ mặt không?"
Chú Hoạt nhìn quanh một vòng, rồi mắt chú ấy dừng lại.
"Cái cậu này này."
Cả khu mộ im một nhịp.
Cậu Khoản đứng nguyên chỗ cũ, hai tay vẫn chống nạnh, nhưng cái nạnh nó tụt xuống.
"Ông già này nhìn nhầm."
"Em nhầm sao được. Cậu mặc áo khoác gió xanh, cậu bảo em ra chỗ khác cho thợ làm."
"Tôi có đi qua đây mấy lần, ai chả đi qua."
"Cậu đứng từ tám giờ đến gần trưa."
Ông Đãng quay sang cậu Khoản, và giọng ông ấy đổi hẳn.
"Cậu Khoản, cậu đứng đấy làm gì?"
"Cháu đi ngang."
"Đi ngang mà cầm cặp nhựa đứng chỉ thợ?"
"Cháu... cháu có quen mấy anh thợ."
Tôi bước lại gần cái bia thứ tư, cúi xuống, gõ ngón tay vào mặt đá ba cái.
Tiếng nó đục, nó chết ngay trong lòng đá, không ngân.
Tôi sang cái bia bên cạnh, cái tôi làm, gõ ba cái y như thế.
Tiếng nó trong, nó vọng ra một quãng ngắn rồi mới tắt.
"Ông Đãng, ông gõ thử."
Ông ấy gõ đi gõ lại hai cái bia, mặt ông ấy mỗi lúc một sạm.
"Hai cái đá này không phải một loại."
"Không phải. Đá của tôi mua ở bãi đầu dốc, ba mươi lăm năm nay một chỗ."
"Còn năm cái kia?"
"Ông hỏi người cầm cặp nhựa."
Cậu Khoản lùi lại nửa bước, chân cậu ấy đá phải cái lư hương nhỏ ở chân bia.
"Bác Đãng, bác đừng nghe ông ấy dựng chuyện."
"Cậu vừa nói năm cái ấy là đá ép."
"Cháu nói theo kinh nghiệm."
"Cậu nói chắc như đinh đóng cột. Cậu bảo cậu nhìn phát biết."
"Thì..."
"Chưa ai bóc đá ra, chưa ai cắt ra xem, mà cậu biết trong ruột nó là đá vụn trộn keo."
"Cháu..."
"Cậu biết vì cậu là người chở nó đến."
Không ai nói gì. Có tiếng con chim gì kêu ở hàng phi lao ngoài bờ rào.
Cậu Khoản quay sang tôi, mặt cậu ấy đỏ lên.
"Ông gài tôi."
"Tôi hỏi cậu ba câu, cậu tự trả lời cả ba."
"Ông biết từ lúc nào?"
"Lúc tôi sờ đáy chữ thì tôi biết không phải tay tôi."
"Rồi sao ông không nói luôn?"
"Vì lúc ấy tôi mới biết không phải tôi, tôi chưa biết là ai."
"Ông nghi tôi từ đầu."
"Nghi thì tôi không nói, cậu ạ."
Ông Đãng bước tới trước mặt cậu Khoản.
"Tháng ba cậu đến nhà tôi hai lần, cậu bảo bác Trạc già rồi, làm chậm, cả họ phải chờ."
"Cháu nói thật lòng."
"Rồi bác Trạc nằm viện, cậu biết. Cậu biết vì cậu hỏi tôi."
"..."
"Cậu chở năm cái bia đến, cậu bảo thợ dựng, để cả họ tưởng là hàng bác Trạc."
"Cháu định làm giúp."
"Giúp mà không nói với tôi câu nào?"
"Cháu định làm xong rồi cháu nói."
"Cậu định làm xong, đá bạc, chữ sai, rồi cậu chỉ vào bác Trạc."
"Cháu không có ý ấy."
"Cậu có. Sáng nay chính cậu gọi tôi ra tận đây."
Tôi nhìn cậu Khoản, và tôi thấy cậu ấy còn trẻ quá.
Trẻ đến mức cậu ấy vẫn đang tìm một câu để gỡ, thay vì tìm một câu để nhận.
"Cậu Khoản."
"Ông đừng nói nữa."
"Tôi nói một câu thôi."
"..."
"Cậu chép hai cái năm ấy ở đâu ra?"
Cậu ấy im.
"Cậu chép trong tờ giấy ông Đãng đưa tôi, tôi để trong cái cặp treo ở lán."
"Ông vu."
"Tôi không vu. Tôi hỏi thôi. Nhưng tờ giấy ấy tôi viết lại bằng tay, chữ tôi viết số chín cái đuôi nó móc ngược."
Ông Đãng quay sang.
"Bác nói gì cơ?"
"Ông xem cái số bảy mươi chín trên bia. Số chín nó móc ngược, đúng kiểu tôi viết."
"Ừ, nó móc."
"Máy chạy theo file thì nó khắc đúng cái nét người ta vẽ. Người ta vẽ theo cái gì thì nó ra cái ấy."
"Nghĩa là sao hả bác?"
"Nghĩa là người làm file ngồi nhìn chữ viết tay của tôi mà chép, chép cả cái tật viết của tôi."
"Rồi chép sai một chữ số."
"Vâng. Tôi viết tám, đuôi tôi khép không kín, người ta đọc thành chín."
Ông Đãng đứng nhìn cái bia bà cô ông ấy rất lâu.
"Bác Trạc, thế cái tên chú Cẩn thành Cận?"
"Chữ Cẩn tôi viết dấu hỏi hơi thấp. Người ta đọc thành dấu nặng."
"Trời đất."
"Cả hai chỗ sai đều là sai ở chỗ người ta đọc chữ tôi, ông ạ."
"Vậy tờ giấy của bác giờ ở đâu?"
"Ở trong cặp treo ở lán tôi. Ông cho người vào lấy."
Ông Đãng sai đứa cháu chạy vào lán lấy cái cặp da bạc, rút một tờ giấy kẻ ô ly, đưa chú Hoạt giơ lên cho nắng xuyên qua.
"Đây. Số chín móc ngược đúng như bác nói."
"Vâng."
"Còn chữ Cẩn, dấu hỏi bác viết thấp thật."
"Tôi viết ba mươi lăm năm nay như thế."
Cậu Khoản nhìn tờ giấy, rồi nhìn xuống đất.
"Cái cặp ấy tôi không đụng vào."
"Cậu không phải đụng. Cậu chỉ cần chụp một cái là đủ."
"..."
"Ngày ông Đãng đưa tôi tờ này, tôi trải nó lên bàn đá ngoài lán, tôi trải cả buổi."
Ông Đãng gấp tờ giấy lại, đưa vào tay tôi, hai tay.
"Bác Trạc, tôi xin lỗi bác."
"Ông không phải xin lỗi. Ông đi hỏi cho ra là ông làm đúng."
"Tôi nghe cậu ấy nói trước, tôi để cậu ấy dắt tôi ra đây."
"Ai chả nghe người nói trước."
Ông Đãng quay sang thằng Lự, và ông ấy bỏ cái mũ trên đầu xuống.
"Cháu ơi, bác nói nặng cháu câu đọc chậm."
"Dạ không sao đâu bác ạ."
"Bác nói trước mặt cả họ."
"Cháu quen rồi ạ."
Cái câu ấy của nó làm tôi phải quay mặt đi.
Ông Đãng đứng thẳng, nói to cho cả khu mộ nghe.
"Năm cái bia này không phải của bác Trạc. Ai trong họ tôi nghe câu khác thì về nói lại giúp tôi."
"Vâng ạ."
"Còn cậu Khoản."
"Bác..."
"Cậu chở đá gì đến thì chở đi. Làm lại bằng đá thật, chữ đúng, tiền cậu chịu."
"Cháu chịu ạ."
"Và cậu ra thắp cho bà cô tôi ba nén hương, trước mặt tôi."
"Vâng ạ."
Cậu ấy thắp, tay run, cắm ba nén vào cái lư hương lúc nãy chân cậu ấy đá phải.
Cắm xong cậu ấy đứng đấy, không ai bảo cậu ấy về, mà cậu ấy cũng không về.
Tôi với thằng Lự đi bộ về lán.
"Bác ơi, sáng nay cháu sợ quá."
"Sợ gì?"
"Cháu sợ cháu nói ra thì người ta không tin, mà cháu không nói thì bác phải chịu."
"Mày nói ra rồi đấy thôi."
"Cháu nói mà cháu run."
"Run thì kệ nó run."
Nó im một quãng, rồi nó hỏi.
"Bác ơi, sao bác không bảo cháu đọc chậm là tại nhà cháu nghèo?"
"Vì cái đó không liên quan gì đến năm cái bia cả."
Sau hôm ấy cơ sở ngoài đường lớn chở năm cái bia đi thật, làm lại đá thật, chữ đúng.
Còn chuyện cả xóm nghe thì cũng như mọi lần.
Người ta nghe đoạn đầu, rằng có ông thợ khắc bia làm sai năm mất trên bia của cả một họ.
Đoạn sau thì người ta không nghe.
Nhà bà Thoả đã đặt tôi khắc bia cho ông cụ nhà bà ấy vào tháng bảy, đến tháng năm bà ấy sang nói khó, xin thôi.
Bà ấy không nói vì sao, bà ấy để lại hai trăm nghìn tiền cọc trên bàn đá rồi đi.
Hai nhà bên kia bờ mương trước vẫn gọi tôi ra khắc chữ ngày giỗ, năm ấy cũng thôi gọi.
Tôi ngồi trong lán tôn, không có cái biển hiệu nào ngoài đường lớn để dán sự thật lên.
Thằng Lự bảo hay là bác cho cháu đi kể với từng nhà.
Tôi bảo mày kể thì người ta lại bảo thằng phụ nó bênh chủ nó.
Việc trong nghĩa trang thì vẫn còn, cỏ vẫn phải cắt, chân bia vẫn phải chà.
Chỉ có bàn đá ngoài lán thì tháng ấy trống, không có phôi nào nằm chờ.
Tháng chín, cậu Khoản mang sang lán tôi một miếng đá vuông và một cái đục mới tinh.
"Bác Trạc."
"Cậu Khoản."
"Bác dạy cháu đục một chữ được không ạ."
"Cậu có máy chạy được cả nghìn chữ một ngày."
"Cháu muốn biết cái đáy nó nhám nó thế nào ạ."
Tôi cầm cái đục lên, xem lưỡi, rồi tôi trả lại cho cậu ấy.
"Lưỡi này mài góc to quá. Cậu mài lại đã."
"Vâng ạ."
"Rồi cậu về tập trên đá thừa nhà cậu, đục hỏng chừng hai chục miếng thì tôi dạy."
Cậu ấy về. Tháng sau cậu ấy quay lại thật, mang theo một bao tải đá vụn.
Việc thì tôi nhận dạy, mà mấy nhà thôi gọi tôi thì vẫn không gọi lại.
Chiều nào tôi cũng quét mặt bàn đá một lượt, quét từ trong ra ngoài, ba mươi lăm năm nay vẫn quét kiểu ấy.
Quét xong thì mặt đá sạch bong, thấy được cả cái vân xám chạy ngang.
Chỉ có điều người đi ngoài đường thì người ta không nhìn vào mặt bàn.
Người ta nhìn cái mái tôn tôi ngồi dưới.


