Halab
Cậu quản lý bếp bắt tôi đền năm triệu sáu tiền nồi thủng, rồi cậu ấy đuổi luôn chị rửa nồi chín năm, và đó là lúc tôi xin đặt gánh lên bàn
Truyện

Cậu quản lý bếp bắt tôi đền năm triệu sáu tiền nồi thủng, rồi cậu ấy đuổi luôn chị rửa nồi chín năm, và đó là lúc tôi xin đặt gánh lên bàn

· 17 phút đọc · Halab

"Bốn cái nồi thủng trong một tuần, bà con nghĩ do trời à?"

"Cậu nói ai đấy?"

"Ông. Ông thợ hàn gánh gồng kia. Tuần trước ông vá bốn cái, tuần này thủng cả bốn."

"Cậu để tôi đặt gánh xuống đã."

"Ông cứ đặt. Tôi đứng đây đợi được."

Tôi tên Trạc, sáu mươi tư tuổi, hàn nồi nhôm đi rong ba mươi lăm năm, gánh có bếp than, que hàn nhôm, một nắm giẻ nhám.

Cậu đứng chắn lối tôi tên Vĩnh, chừng hai tám ba mươi, người coi cả cái bếp ăn của xưởng may bên kia cầu.

Bếp ấy nấu tám trăm suất mỗi trưa, mười bốn cái nồi nhôm to, cái nào cũng cao tới bụng tôi.

"Ông biết bốn cái nồi ấy bao nhiêu tiền một cái không?"

"Cậu nói tôi nghe."

"Một triệu tư. Bốn cái là năm triệu sáu."

"Vâng."

"Ông vá công có tám chục một cái. Ông làm hỏng năm triệu sáu."

"Nếu tôi làm hỏng thì tôi đền."

"Đấy. Bà con nghe rồi nhé. Ông ấy vừa nói đền."

"Nếu tôi làm hỏng."

Sân sau bếp ăn lúc ấy đông người, mười mấy chị phụ bếp đang vo gạo, mấy anh bốc hàng ngồi hút thuốc ngoài gốc bàng.

Bốn cái nồi bị lôi ra xếp thành hàng giữa sân, úp ngược, đáy chổng lên.

"Ông lại nhìn đi. Nhìn cho kỹ vào."

"Tôi nhìn rồi."

"Ông thấy gì?"

"Tôi thấy bốn cái lỗ."

"Bốn cái lỗ ở đúng chỗ ông vá tuần trước."

"Không đúng chỗ đâu cậu."

"Ông bảo tôi mù à?"

"Tôi bảo cậu nhìn gần hơn."

Cậu ấy không cúi xuống.

Cậu ấy quay sang đám đông, giọng cao lên một bậc.

"Bà con thấy chưa? Ông ta bắt tôi cúi xuống nhìn cái lỗ ông ta làm ra."

"Cậu Vĩnh."

"Gì?"

"Cậu quản bếp này bao lâu rồi?"

"Năm tháng."

"Trước cậu là ai quản?"

"Ông hỏi cái đó làm gì?"

"Hỏi cho biết thôi."

"Ông đừng hỏi vòng vo. Ông đền hay không đền?"

"Cậu cho tôi hỏi một câu đã."

"Ông hỏi."

"Bốn cái nồi này tuần rồi nấu món gì?"

"Nồi thì nấu cơm nấu canh chứ nấu gì."

"Canh gì?"

"Ông hỏi lắm thế."

"Vì canh gì thì nồi hỏng kiểu ấy."

"Ông nói cứ như thầy cúng."

"Không phải cúng. Là nghề."

Cậu ấy cười một tiếng, rồi cậu ấy bỏ vào trong.

"Ông ngồi đấy mà giữ cái nghề ba mươi năm của ông."

Chuyện lẽ ra dừng ở đấy.

Hai hôm sau thì chị Sảnh bị đuổi.

Chị Sảnh rửa nồi ở bếp ấy chín năm, tay chị ấy quanh năm trắng bợt vì nước, mười đầu ngón nứt ngang.

Tôi biết chị ấy vì chín năm nay cái gì móp cái gì thủng chị ấy đều để riêng ra một góc, đợi tôi tới.

Sáng hôm ấy tôi gánh qua cổng xưởng thì thấy chị ấy ngồi bệt ở vỉa hè, cái làn nhựa để bên chân.

"Chị Sảnh."

"Ông đi đi."

"Sao lại đi?"

"Người ta bảo tôi với ông một phe."

"Ai bảo?"

"Cậu Vĩnh nói giữa bếp. Ông vá ẩu, tôi gọi ông vào, hai người chia tiền công."

"Chia tám chục một cái à?"

"Ông đừng đùa nữa ông ơi."

"Tôi không đùa. Tôi tức."

"Ông tức thì ông cũng chỉ tức được thôi."

"Chị bị đuổi thật à?"

"Cậu ấy bảo tôi cọ nồi bằng cát, cọ thủng đáy nồi người ta."

"Chị cọ bằng cát thật không?"

"Đến ông cũng nghi tôi nữa à?"

"Tôi muốn nghe chính miệng chị nói ra, một lần, cho tôi yên bụng."

"Không. Chín năm tôi cọ bằng xơ mướp với nước tro. Cát thì tôi lấy ở đâu ra giữa cái sân xi măng ấy."

"Vâng. Tôi tin chị."

"Ông tin thì để làm gì."

Câu ấy chị ấy nói không giận.

Chị ấy nói cái giọng của người đã hết chỗ để giận.

"Chị Sảnh, bốn cái nồi ấy giờ ở đâu?"

"Vẫn úp ngoài sân. Cậu ấy bảo giữ làm bằng chứng bắt ông đền."

"Thế thì may."

"May cái gì hả ông."

"Chị cứ về nhà. Chiều tôi qua."

Chiều ấy tôi không qua nhà chị Sảnh.

Chiều ấy tôi đi vòng ra sau xưởng, chỗ dãy bếp lò xây bằng gạch chỉ.

Tôi đứng ngoài hàng rào lưới, nhìn vào chừng nửa tiếng.

Mười bốn cái lò xây liền nhau, lò nào cũng đun than tổ ong, miệng lò tròn.

Có bốn cái lò ở dãy trong cùng thì khác: miệng méo, gạch bị đục rộng ra, chèn thêm ba viên gạch vỡ kê thành kiềng.

Bốn cái ấy nằm sát tường, chỗ có cái quạt công nghiệp thổi thẳng vào.

Hôm sau tôi lại gánh tới cổng.

Cậu Vĩnh ra trước, sau lưng cậu ấy là ba người mặc áo xưởng.

"Ông tới đền tiền à?"

"Tôi tới xin nói với mọi người một lần."

"Nói ở đâu?"

"Cậu cứ chọn cái sân nào lắm người nhất, tôi nói ở đó."

"Được. Trưa mai bếp nghỉ sớm, tôi cho gọi cả tổ ra sân."

"Cậu cho gọi cả tổ thật à?"

"Thật. Tôi muốn bà con nhìn tận mắt ông thợ hàn ẩu."

"Vậy tôi xin hai điều."

"Ông xin gì?"

"Một là cậu cho gọi cả chị Sảnh ra."

"Người đã nghỉ thì gọi làm gì."

"Vì cậu đuổi chị ấy trước mặt cả bếp, thì cậu nói lại cũng trước mặt cả bếp."

"Còn điều hai?"

"Cậu cho khiêng cả bốn cái nồi ra sân, để nguyên như thế, đừng cọ."

"Ông sợ tôi cọ mất dấu tay ông à?"

"Tôi sợ cậu cọ mất cái khác."

Trưa hôm sau sân sau bếp ăn kê hai cái bàn inox dài.

Bốn cái nồi úp ngược trên bàn, đáy chổng lên trời, nắng rọi thẳng.

Chừng bốn chục người đứng vòng quanh, phần lớn là chị em phụ bếp, tạp dề còn ướt.

Chị Sảnh đứng ở rìa ngoài cùng, hai tay ôm cái làn.

Ông chủ xưởng cũng ra, đứng tựa cột, không nói gì, tay cầm điếu thuốc chưa châm.

"Bà con đứng gần vào. Hôm nay tôi cho bà con xem cái ông thợ này vá nồi kiểu gì."

Cậu Vĩnh cầm cái đèn pin, rọi vào cái lỗ trên đáy nồi thứ nhất.

"Đây. Lỗ to bằng đầu đũa. Tuần trước chỗ này ông ấy vá."

"Cậu Vĩnh."

"Ông lại nói gì?"

"Cậu cho tôi đặt gánh lên bàn."

"Ông mang gánh lên làm gì?"

"Trong gánh tôi có một nắm giẻ nhám với một cái que hàn."

"Rồi sao?"

"Chả sao hết. Cứ để nó nằm đấy đã."

Tôi đặt gánh lên đầu bàn, mở ra.

Bếp than con, ống bễ, mấy thanh nhôm hàn, hộp nhựa đựng giẻ nhám ba loại thô mịn khác nhau.

"Ông giở trò gì thế."

"Nãy giờ tôi có đụng vào cái gì đâu cậu."

"Ông lui ra kia. Trưa nay người nói là tôi."

"Vâng."

Cậu ấy rọi đèn hết bốn cái nồi, chỉ bốn cái lỗ.

"Bốn cái lỗ. Bốn chỗ vá. Bà con còn cần tôi nói gì nữa không?"

Có tiếng lao xao.

Một chị đứng gần bàn nói vọng ra.

"Cậu ơi, chỗ vá của ông Trạc là chỗ nào ạ?"

"Thì đấy, chỗ cái lỗ."

"Cậu chỉ giúp em cái mối hàn với."

"Mối hàn nào nữa?"

"Thì vá thì phải có mối hàn chứ ạ."

Cậu Vĩnh im mất một nhịp.

"Ông ta vá ẩu thì nó bong ra rồi."

"Cậu Vĩnh."

"Gì?"

"Cậu cho tôi lên bàn ba phút."

"Ông lên làm gì?"

"Tôi chỉ cho bà con xem mối hàn của tôi nó ở đâu."

Ông chủ xưởng châm điếu thuốc, rồi khoát tay.

"Cho ông ấy lên."

Tôi bước tới cái nồi thứ nhất, đặt tay lên đáy nó.

Đáy nồi nóng rẫy vì phơi nắng, tôi phải lót giẻ.

"Bà con nhìn giúp tôi. Cái nồi này đáy dày ba li, thành mỏng một li rưỡi."

"Ông định mở lớp à?"

"Ba câu thôi. Nghe xong cậu chẳng thiệt gì."

"Ông nói đi."

"Nhôm nó không giống sắt. Sắt gặp lửa thì đỏ lên rồi mới chảy, nhôm thì không đỏ, nó chảy cái ụp."

"Rồi sao?"

"Nên nhôm mỏng gặp bếp quá lửa thì nó thủng bằng cách CHẢY, chứ không nứt."

"Thủng là thủng, chảy với nứt thì khác gì."

"Khác ở cái mép lỗ."

Tôi lấy ngón tay út day vòng quanh cái lỗ trên đáy nồi thứ nhất.

"Lỗ do chảy thì mép nó tròn, và có gờ vón lên như hạt cơm nguội."

"Ông tự nói thì ông tự đúng."

"Cậu sờ thử đi."

"Tôi không sờ."

"Chị nào đứng gần đây sờ hộ tôi một cái."

Cái chị hỏi mối hàn lúc nãy bước lên, chùi tay vào tạp dề, đưa ngón tay day vòng mép lỗ.

"Nó gợn gợn chị ơi."

"Gợn thành hạt hay gợn thành xước?"

"Thành hạt ạ. Như cơm khô dính vào."

"Chị day ngược lại xem."

"Ngược xuôi gì nó cũng gợn thế ạ."

"Vâng. Cảm ơn chị."

Tôi quay sang cậu Vĩnh.

"Cậu Vĩnh, lỗ do người ta cọ, mài, cạo bằng cát bằng dao thì nó khác."

"Khác thế nào?"

"Mài thì nhôm mỏng dần đều, sờ vào thấy nó trũng như lòng chảo, rồi mới thủng ở chỗ mỏng nhất."

"Rồi sao nữa?"

"Và cái xước nó chạy một chiều, vì tay người cọ chỉ cọ được một chiều."

"Ông kể lể mấy cái xước ấy làm gì?"

"Để bà con rõ: bốn cái nồi này chẳng dính dáng gì tới bàn tay ai cọ cả."

Chị Sảnh ở rìa vòng người ngẩng lên.

"Ông bịa. Nó thủng đúng chỗ ông vá."

"Cậu cầm đèn pin lại đây một cái."

Cậu ấy đưa đèn, tay không vững lắm.

Tôi rọi chếch từ bên hông vào đáy nồi, để cái bóng đổ dài ra.

"Bà con nhìn cái vệt hơi bạc chạy vòng cung đây."

"Vệt gì thế ông?"

"Đấy là mối hàn của tôi tuần trước."

"Nó cách cái lỗ bao xa hả ông?"

"Chị lấy đốt ngón tay chị đo hộ tôi."

Chị ấy đo, đếm thành tiếng.

"Một, hai, ba... gần bốn đốt ạ."

"Bốn đốt ngón tay là chừng bảy phân."

Sân im hẳn xuống.

"Cậu Vĩnh, mối hàn của tôi ở đây, còn cái lỗ ở kia, cách nhau bảy phân."

"Thì ông vá xong nó thủng lan ra."

"Nhôm không thủng lan được. Nhôm không phải vải rách."

"Ông cứ nói ngang."

"Cậu cho tôi lật ba cái còn lại."

Ba cái nồi kia mối hàn của tôi cũng nằm cách cái lỗ, cái gần nhất năm phân, cái xa nhất một gang.

Và cả bốn mối hàn ấy đều còn nguyên, không bong một sợi.

"Bà con để ý giúp tôi cái này nữa."

"Ông nói."

"Bốn cái lỗ này đều nằm về một phía của đáy nồi, phía bên tay trái, cùng một chỗ như nhau."

"Thì sao?"

"Cậu úp bốn cái lại đi, xem nó có chồng khít lên nhau không."

Hai chị phụ bếp xoay bốn cái nồi cho cùng chiều quai.

Bốn cái lỗ nằm gần như trên một đường, cùng lệch về một bên.

"Cái lỗ thủng do bếp quá lửa thì nó nằm đúng chỗ ngọn lửa liếm mạnh nhất."

"Ông định nói lò nhà tôi à?"

"Tôi chưa nói lò nào cả. Tôi mới nói cái nồi."

"Ông nói tiếp đi."

"Bà con nhìn cái quầng đen quanh lỗ."

Cái quầng ấy không tròn đều.

Nó xoè về một phía như cái nan quạt, đen kịt ở giữa, nhạt dần ra ngoài.

"Nồi kê ngay ngắn giữa lò thì cháy đen đều cả đáy, thành một vòng tròn."

"Còn cái này?"

"Cái này cháy lệch hẳn một phía. Nghĩa là cái nồi kê không cân trên lò."

Chị Sảnh buông cái làn xuống đất.

"Cậu Vĩnh."

"Bà nói gì?"

"Bốn cái lò trong cùng cậu cho đục rộng miệng ra tháng trước."

"Bà im đi."

"Cậu bảo lò cũ nhỏ, đun lâu sôi, cậu cho đục rộng ra rồi kê ba viên gạch vỡ làm kiềng."

"Bà nghỉ rồi bà còn nói chuyện bếp làm gì."

"Từ hôm đục xong tới hôm tôi nghỉ, sáng nào tôi cũng bê nồi lên đấy, tôi kê thì tôi biết chứ."

"Bà biết cái gì?"

"Ba viên gạch ấy không bằng nhau. Nồi đặt lên là nó vênh về bên trái."

Tôi quay sang cậu Vĩnh.

"Cậu Vĩnh, cậu cho đục miệng lò rộng bao nhiêu?"

"Chuyện lò thì liên quan gì tới ông."

"Liên quan chứ. Miệng lò rộng thì lửa ăn ra sát thành nồi."

"Rộng một tí thì có sao."

"Nồi kê vênh, một bên đáy chạm gạch, một bên hổng lên."

"Rồi sao?"

"Chỗ hổng ấy không có gì hút nhiệt, nhôm ở đấy nóng gấp mấy chỗ khác."

"Ông bảo lò tôi làm chảy nồi à?"

"Tôi bảo nhôm mỏng gặp nhiệt cao thì nó chảy. Cái ấy không phải tôi bảo, cái ấy là nhôm nó thế."

"Ông có bằng chứng gì?"

"Cậu cho khiêng một cái lò ra đây."

"Lò xây liền, khiêng thế nào được."

"Vậy thì cả sân này đi vào trong ấy, bốn chục người, đi hết."

Ông chủ xưởng rời cột, ném điếu thuốc xuống, giẫm lên.

"Đi."

Bốn chục người kéo vào dãy bếp.

Trong ấy nóng hầm, tường ám khói đen từ chân lên tới mái tôn.

Mười cái lò ngoài miệng còn tròn, gạch còn nguyên khuôn.

Bốn cái lò trong cùng thì miệng bị đục nham nhở, viền gạch vỡ ra từng mảng, và trong lòng mỗi cái kê ba viên gạch vỡ.

"Bà con nhìn ba viên gạch này."

Tôi cúi xuống, rút một viên ra, giơ lên.

"Viên này còn nguyên, cao chừng bảy phân."

Tôi rút viên thứ hai.

"Viên này sứt mất một góc, còn chừng sáu phân."

Viên thứ ba tôi không rút được, vì nó đã lún xuống lớp tro.

"Bà con lấy cái nồi kê thử lên đây một cái."

Hai anh bốc hàng khiêng cái nồi thứ nhất vào, đặt lên ba viên gạch.

Cái nồi nghiêng thấy rõ, mép trái sát xuống, mép phải hổng lên chừng một đốt ngón tay.

"Chị nào cầm que luồn thử vào chỗ hổng ấy."

Một chị luồn cái đũa cả vào, luồn ngọt, không vướng.

"Đấy là chỗ lửa nó chui lên liếm thẳng vào đáy nồi."

Có tiếng người thở ra ở phía sau.

"Cậu Vĩnh, cậu bảo cậu cho đục lò từ tháng trước, đúng không?"

"Đúng."

"Cậu nói to lên cho bà con nghe."

"Tôi cho đục từ tháng trước. Thì sao?"

"Bốn cái lò cậu đục, bốn cái nồi thủng."

"Trùng hợp."

"Cậu Vĩnh, còn chuyện này nữa."

"Ông còn gì?"

"Cái quạt công nghiệp cậu cho lắp trên tường kia, thổi thẳng vào bốn cái lò này."

"Quạt cho đỡ nóng."

"Quạt thổi vào lò than thì lò cháy tợn lên, y như tôi kéo bễ."

"Ông nói lắm quá."

"Cậu tắt quạt đi rồi cậu đun thử một buổi, cậu sẽ thấy nồi lâu sôi hơn hẳn."

Cậu ấy không đáp.

Cậu ấy nhìn quanh, và cậu ấy bắt đầu thấy bốn chục con mắt đang nhìn về phía mình.

"Vậy tôi hỏi ông một câu."

"Cậu hỏi."

"Sao mười cái lò kia nồi không thủng?"

"Câu ấy cậu hỏi hay đấy."

"Ông trả lời đi."

"Vì mười cái lò kia miệng còn tròn, nồi ngồi khít vành lò, không kê gạch, không vênh."

"Chỉ có thế?"

"Còn một cái nữa, mà cái ấy tôi phải xem thì tôi mới nói."

"Ông xem cái gì?"

"Cho tôi ngửi mấy cái nồi ở dãy ngoài."

"Ngửi?"

"Vâng. Ngửi."

Tôi ra dãy lò ngoài, mở nắp một cái nồi đang nguội, cúi xuống.

Mùi chua xộc lên, cái mùi me nấu lâu ngày quyện với gỉ nhôm.

"Cái nồi này chuyên nấu canh chua phải không chị?"

"Vâng ông ạ. Nồi số bảy nấu chua, tuần ba bữa."

"Chị cho tôi soi trong lòng nó một cái."

Tôi rọi đèn vào lòng nồi số bảy.

Từ eo nồi xuống đáy, mặt nhôm không còn trơn, nó rỗ lấm tấm như tổ ong, chỗ nào chỗ nấy lỗ chỗ.

"Bà con lại xem giúp tôi cái này."

"Trong nồi mốc à ông?"

"Không phải mốc. Là nhôm bị đồ chua ăn."

"Ăn thật ạ?"

"Me, dấm, cà chua nấu lâu, ngày nào cũng nấu, thì nó ăn mòn nhôm từ trong ra."

"Rồi có thủng không ông?"

"Có. Nhưng nó thủng từ TRONG ra ngoài, và trước khi thủng thì trong lòng phải rỗ như thế này đã."

Tôi bước lại chỗ bốn cái nồi trên bàn inox.

"Cậu Vĩnh, cậu rọi đèn vào trong lòng bốn cái nồi này giúp tôi."

Cậu ấy không cầm đèn.

Cái chị phụ bếp lúc nãy cầm hộ, rọi vào từng cái.

Lòng bốn cái nồi ấy nhẵn thín, sáng loáng, không một vết rỗ.

"Bà con thấy chưa. Trong nhẵn, ngoài cháy đen lệch một phía."

"Nghĩa là sao hả ông?"

"Nghĩa là bốn cái nồi này thủng từ NGOÀI vào, do lửa, chứ không phải từ trong ra, không phải do cọ, không phải do vá."

Cả sân bếp im.

Cái im ấy nặng, chỉ nghe tiếng quạt công nghiệp quay không tải trên tường.

"Cậu Vĩnh."

"..."

"Cậu vu cho một bà rửa nồi là cọ thủng đáy nồi, mà cái làm thủng nồi là ba viên gạch cậu kê."

Cậu ấy mở miệng ra, rồi cậu ấy ngậm lại.

Ông chủ xưởng bước vào giữa vòng người.

"Vĩnh."

"Dạ."

"Tháng trước cậu xin tiền sửa lò, tôi duyệt bao nhiêu?"

"Dạ... bốn triệu."

"Cậu thuê thợ nào xây?"

"..."

"Tôi hỏi cậu thuê thợ nào."

"Em không thuê thợ. Em cho mấy anh bốc hàng đục ra, kê tạm."

"Kê tạm bằng gạch vỡ nhặt ngoài bãi?"

"Dạ."

"Còn bốn triệu?"

Cậu ấy không nói.

Một anh bốc hàng đứng ở cửa lên tiếng, giọng khàn.

"Ông ơi, hôm ấy cậu ấy bảo bọn cháu đục nhanh trong một buổi. Cháu có nói là kê gạch thì nồi nó chênh, cậu ấy bảo nấu ăn chứ có phải cân vàng đâu."

"Cậu ấy nói câu ấy à?"

"Cháu nhớ nguyên câu ạ."

Cậu Vĩnh quay phắt lại.

"Anh nói thế nào đấy?"

"Cháu nói cái cháu nghe."

Ông chủ xưởng quay sang chị Sảnh.

"Chị Sảnh."

"Dạ."

"Hôm chị bị cho nghỉ, ai nói với chị?"

"Cậu Vĩnh ạ. Nói giữa bếp, lúc chị em đang ăn trưa."

"Cậu ấy nói sao?"

"Cậu ấy bảo tôi cọ nồi bằng cát, cọ chín năm nay, giờ mới lòi ra."

"Chị có cãi không?"

"Tôi có cãi. Nhưng tôi cãi thì ai nghe tôi."

"Sao chị không nói với tôi?"

"Ông ơi, tôi rửa nồi, tôi có bao giờ gặp được ông đâu."

Ông ấy im một lúc lâu.

"Vĩnh, cậu xin lỗi chị ấy."

"Em..."

"Xin lỗi ở đây, trước đúng những người hôm ấy ngồi ăn trưa nghe cậu nói."

Cậu Vĩnh xin lỗi thật.

Cậu ấy nói một câu ngắn, không nhìn lên, và chị Sảnh cũng không nhìn cậu ấy.

Chị ấy chỉ cúi xuống nhặt cái làn lên.

Bốn cái nồi thủng cuối cùng vẫn là tôi vá.

Tôi vá mất một buổi chiều, bốn cái, ba trăm hai chục nghìn.

Vá xong tôi ngồi lại với chị Sảnh ở gốc bàng ngoài sân.

"Ông Trạc ơi."

"Chị gọi gì tôi?"

"Chị em bảo tôi phải sang đây nói với ông một tiếng."

"Nói gì hả chị."

"Ông giữ lại cho tôi cái chỗ làm."

"Chị nói quá lời. Tôi có làm gì đâu, cái nồi nó tự khai đấy chứ."

"Nãy tôi đứng khóc trước mặt cả bếp, ông có thấy không."

"Chỗ ấy thì tôi có lỗi với chị."

Ông chủ xưởng ra chỗ tôi lúc sân đã vãn người.

"Ông Trạc."

"Vâng."

"Tôi cho xây lại cả mười bốn cái lò."

"Vâng, nên xây."

"Ông xem hộ tôi cái bản vẽ được không?"

"Tôi không biết vẽ. Nhưng tôi nói được ba câu."

"Ông nói."

"Miệng lò làm đúng bằng vành nồi, đừng rộng. Đừng kê gạch. Quạt lắp cao lên, thổi chếch, đừng thổi thẳng vào cửa lò."

"Chỉ thế thôi à?"

"Chỉ thế thôi. Cái nghề nó đơn giản, chỉ là ít người để ý."

Ông ấy gật, rồi ông ấy đi.

Tôi thu gánh, gói mấy thanh nhôm hàn lại như mọi bận.

Cái bếp than con này về tay tôi năm tôi hăm chín.

Của thầy tôi truyền lại, kèm mỗi một lời.

"Cái nồi nó chịu được tới đâu là nó khai tới đấy, mày cứ chịu khó nghe."

Bấy nhiêu năm tôi chỉ ôm mỗi lời ấy mà ăn.

Sang tháng sau thì bên bếp ấy tịnh không ai nhắn tôi.

Chẳng phải người ta để bụng gì.

Lò đã xây khít vành, nồi ngồi ngay ngắn, mà nồi ngồi ngay ngắn thì lấy đâu ra chỗ thủng.

Dạo trước tuần nào tôi cũng ghé đấy hai bận, khi vá vặt, khi hàn quai, khi gò cái đáy móp.

Giờ thì trắng cả tuần.

Chị Sảnh có lần gặp tôi ngoài chợ, chị ấy đứng lại.

"Ông Trạc, dạo này ông có hay qua bên ấy không?"

"Không chị ạ."

"Sao thế ông?"

"Bên ấy hết nồi thủng rồi."

"Ơ..."

"Chị đừng ơ. Thế là tốt."

"Nhưng còn ông?"

Câu ấy tôi bỏ lửng, chỉ cười.

Bỏ lửng vì trong bụng tôi thật sự chẳng có gì để đáp lại.

Trong xóm nhiều người mừng cho tôi: khỏi phải đền, mà tiếng tăm thì cả xưởng nhớ mặt.

Riêng tôi ngồi tính đi tính lại vẫn thấy mình lỗ.

Ba mươi lăm năm nay tôi có bát cơm là nhờ thiên hạ nhìn cái lỗ thủng mà chịu, không đoán ra vì đâu.

Trưa hôm ấy tôi trải cái vốn ấy ra hết trước bốn chục con người, chỉ vì một chị rửa nồi bị đuổi mà há miệng không nên lời.

Trải ra thì chị ấy giữ lại được cái chậu rửa.

Còn cái tôi ôm khư khư suốt bấy nhiêu năm để đổi lấy hai bữa, tôi cho không, ngay tại chỗ, chẳng đòi ai một xu.

Thầy tôi dặn tôi hãy nghe cái nồi.

Thầy tôi quên dặn rằng có ngày tôi phải nói thay nó, và nói xong thì tôi hết chỗ ngồi.

Sáng nào tôi cũng vẫn xỏ đòn gánh lên vai như cũ.

Đồ nghề chẳng nhẹ đi lạng nào.

Chỉ mỗi đoạn đường là cứ xa dần ra.

Chia sẻ:FacebookXThreadsTelegram
Thấy lỗi trong bài? Báo cho ban biên tập

Đọc tiếp

Cậu ấy đòi tôi bốn mươi lăm triệu giữa sân trại, rồi tôi bảo cậu ấy thọc tay vào bao cám nằm dưới chỗ dột
Truyện

Cậu ấy đòi tôi bốn mươi lăm triệu giữa sân trại, rồi tôi bảo cậu ấy thọc tay vào bao cám nằm dưới chỗ dột

Tôi tên Trác, sáu mươi hai tuổi, chữa bệnh cho lợn gà thuê trong xóm này ba mươi lăm năm. Tôi không có bằng cấp gì hết, tôi học nghề từ ông chú tôi, đồ nghề là cái túi vải đựng mấy ống tiêm với dăm lọ thuốc quấn giẻ cho khỏi vỡ. Chiều thứ tư tôi sang trại nhà ông Chấn tiêm cho bốn con lợn ho ở ô số hai, lấy công ba trăm hai. Sáng thứ bảy, con trai ông ấy đứng giữa sân gọi hai chục người hàng xóm vào làm chứng rằng tôi tiêm bừa, tiêm chết hai mươi sáu con, và đòi tôi đền bốn mươi lăm triệu. Cậu ấy bảo tôi có bằng cấp gì đâu mà cầm kim. Tôi xin cậu ấy mười lăm phút để vào ô số hai, và tôi xin cậu ấy đứng ngay sau lưng tôi mà nhìn tay tôi làm.

· 15 phút đọc
Con sốt cao lên cơn co giật lúc mười một giờ đêm, đường độc đạo xuống thị trấn đã sạt mất mười hai mét từ chiều — người mẹ hai mươi ba tuổi đếm bằng nhịp thở vì trong nhà không có cái đồng hồ nào
Truyện

Con sốt cao lên cơn co giật lúc mười một giờ đêm, đường độc đạo xuống thị trấn đã sạt mất mười hai mét từ chiều — người mẹ hai mươi ba tuổi đếm bằng nhịp thở vì trong nhà không có cái đồng hồ nào

Mười một giờ đêm, đứa bé mười bốn tháng cứng người trong lòng mẹ nó, hai bàn tay nắm chặt, mắt trợn ngược lên trần nhà. Cách cái sàn gỗ ấy chừng bảy trăm mét, đoạn đường độc đạo xuống thị trấn đã trôi mất một khoảng dài bằng ba gian nhà từ lúc chiều, mà nhà cuối xóm thì không ai đi tới để kể. Người mẹ hai mươi ba tuổi ấy có một cái túi vải hoa treo trên vách, trong đó còn đúng hai viên thuốc hạ sốt, một cuốn sổ cân nặng và một cái nhiệt kế thuỷ ngân. Chị không có xe, không có sóng điện thoại, và không có cả một cái đồng hồ để biết cơn giật kéo dài bao lâu. Trong xóm có một bà cụ bảy mươi hai tuổi từng đỡ đẻ cho gần hết đám đàn bà ở đây, và bà biết một điều mà người mẹ chưa biết: đứa nào lên một cơn rồi mà không hạ được sốt thì nó sẽ lên cơn nữa, có đứa hai tiếng, có đứa nửa tiếng. Đêm ấy mười một người đàn ông ra đứng ở mép chỗ sạt với một cuộn dây thừng kéo gỗ và hai cái đèn pin. Và giữa mười hai mét đất đang trôi ấy, có một khoảnh khắc mà người mẹ buộc phải chọn: đứng lại, hay đi tiếp.

· 29 phút đọc
Ông lão bảy mươi mốt chèo thúng chai chở cháu mười tuổi thả lưới gần bờ, tới khi ngọn dừa trên bãi teo lại thành một cái que thì ông biết mình đã chèo không lại gió
Truyện

Ông lão bảy mươi mốt chèo thúng chai chở cháu mười tuổi thả lưới gần bờ, tới khi ngọn dừa trên bãi teo lại thành một cái que thì ông biết mình đã chèo không lại gió

Bảy giờ sáng biển lặng như mặt sân, chiếc thúng chai hai mét chở một ông lão bảy mươi mốt tuổi và đứa cháu trai mười tuổi nằm cách bờ chừng bốn trăm sải tay. Thúng không có máy, chỉ có một mái dầm, một vàng lưới trăm mét và một chai nước một lít rưỡi. Gió chướng vừa trở hướng, thổi từ bờ ra khơi. Ông đo khoảng cách còn lại bằng ngọn dừa trên bãi, bằng màu nước đổi từ xanh nhạt sang xanh thẫm, bằng hướng đàn chim chiều bay ngược lại với hướng chiếc thúng đang đi. Trong lòng thúng có một chỗ tre mềm rịn nước, và mỗi giờ nó rịn nhiều hơn giờ trước. Đứa nhỏ say sóng từ trưa, và trên thúng không có gì để đổi lấy nước ngọt.

· 32 phút đọc