Halab
Ông lão bảy mươi mốt chèo thúng chai chở cháu mười tuổi thả lưới gần bờ, tới khi ngọn dừa trên bãi teo lại thành một cái que thì ông biết mình đã chèo không lại gió
Truyện

Ông lão bảy mươi mốt chèo thúng chai chở cháu mười tuổi thả lưới gần bờ, tới khi ngọn dừa trên bãi teo lại thành một cái que thì ông biết mình đã chèo không lại gió

· 32 phút đọc · Halab

Bảy giờ sáng biển lặng như mặt sân, chiếc thúng chai đường kính hai mét chở một ông lão bảy mươi mốt tuổi và đứa cháu trai mười tuổi nằm cách bờ chừng bốn trăm sải tay.

Lúc ấy ngọn dừa cao nhất trong xóm còn nhìn thấy rõ từng tàu lá, và gió chướng đầu mùa vừa trở hướng, thổi từ bờ ra khơi.

Thúng chai không có máy.

Trên thúng có một mái dầm gỗ, một vàng lưới ba màng dài chừng trăm mét, một cái gàu nhựa cắt từ can dầu, một chai nước ngọt loại một lít rưỡi, và một tấm bạt xanh gấp tư nhét dưới be.

Ông Chản ngồi ở nửa thúng phía sau, hai chân xếp bằng, tay phải cầm dầm.

Thằng Bi ngồi nửa trước, quay mặt vào trong, hai bàn tay bấu mép thúng.

Nó mười tuổi, mặc áo thun dài tay của người lớn, tay áo xắn hai vòng.

"Ông ơi mình thả chỗ này hả ông."

"Ừ."

"Sao hổng ra xa nữa."

"Xa quá thì ông chèo về hổng nổi."

Thằng Bi gật đầu, không hỏi thêm.

Nó quay ra nhìn bờ, chỗ có mấy nóc nhà thấp và một cây dừa nghiêng.

*

Ông Chản thả lưới theo cách ông vẫn thả hai mươi mấy năm nay.

Ông đứng lên trong lòng thúng, hai chân dạng ra chịu thăng bằng, thả từng nhúm chì xuống trước.

Phao xốp đi sau, nổi thành một hàng chấm trắng kéo dài ra phía sau thúng.

Trong lúc thả, ông đọc mặt nước.

Nước sáng nay màu xanh nhạt, thấy được đáy cát ở chỗ cạn, và có một lằn đục chạy ngang cách thúng chừng hai chục mét.

Lằn đục ấy là chỗ nước xáo, chỗ cá đi ăn.

Ông thả hết vàng lưới mất mười tám phút.

Thả xong, ông buông dầm xuống lòng thúng, ngồi thở, và ông nhìn vào bờ.

Cây dừa nghiêng vẫn ở đó.

Nhưng mấy nóc nhà thấp bên cạnh nó thì đã bé đi.

*

Con thúng chai này ông đan năm ngoái, tự tay, mất hai mươi mốt ngày.

Nan tre chẻ mỏng, đan xoắn, trét dầu rái ba nước, phơi đủ nắng.

Nó là thứ đắt nhất ông có, và nó cũng là thứ duy nhất ông có.

Vàng lưới thì mua lại của người trong xóm, ba trăm mấy, trả làm bốn lần.

Mỗi chiều gỡ được vài ký cá tạp, cân cho vựa đủ hai ngày gạo.

*

Thằng Bi theo ông từ đầu hè, không phải vì nó thích biển.

Là vì ở nhà không còn ai trông nó.

Mẹ nó đi làm trong khu công nghiệp cách đây hơn hai trăm cây, mỗi tháng gửi về một lần, và không phải tháng nào cũng gửi.

Bà nó mất từ năm kia.

Đứa nhỏ ở nhà một mình thì ông ngồi trên thúng không yên, nên ông chở nó theo.

*

Trong túi áo ngực ông Chản có một mảnh giấy gấp tư, bọc trong bao ni lông cột thun.

Đó là toa thuốc huyết áp, và mặt sau toa có ghi bằng bút bi số điện thoại mẹ thằng Bi.

Ông không có điện thoại.

Số ấy ông ghi để ai nhặt được thì gọi giùm.

*

Tám giờ, mặt trời lên khỏi tầm mắt và bắt đầu gắt.

Ông Chản cởi cái áo khoác bạc màu đang mặc, gấp lại, kê lên mép thúng cho thằng Bi ngồi.

Rồi ông cầm dầm, quạt hai nhát về phía bờ, để giữ thúng đứng yên trên đầu vàng lưới.

Hai nhát đó không đưa được thúng đi đâu cả.

Ông quạt thêm bốn nhát nữa.

Thúng nhích được nửa thân, rồi lùi lại.

Ông ngồi im một lúc, tay vẫn cầm dầm, mắt nhìn hàng phao xốp.

Hàng phao đang chạy chậm về phía sau lưng ông.

*

Thúng chai không đi thẳng.

Mái dầm quạt một bên thì thúng xoay, phải đảo tay liên tục, và tốc độ nhanh nhất của người khoẻ cũng chỉ nhỉnh hơn người đi bộ.

Gió chướng thì thổi đều, không giật, không có tiếng, và nó đẩy cả cái mặt thúng nhô lên khỏi nước như đẩy một cái mẹt.

Ông Chản đã ở trong đó hai lần trong đời, và cả hai lần đều vào được bờ trước trưa.

*

"Ông ơi mình gỡ lưới chưa ông."

"Chưa. Gỡ sớm thì ít cá."

"Chừng nào gỡ."

"Chừng nắng lên tới đầu."

Thằng Bi ngẩng nhìn mặt trời, nheo mắt, rồi cúi xuống.

Nó lấy ngón tay quẹt vào lòng thúng, chỗ có một vũng nước nhỏ bằng bàn tay.

"Ông ơi thúng vô nước nè ông."

"Ừ. Thúng nào cũng vô."

"Vô nhiều hông ông."

"Chút xíu."

"Con tát cho."

"Ừ. Con tát."

Thằng Bi cầm cái gàu nhựa, cúi xuống, tát bốn năm gàu, rồi ngồi lên chỗ áo khoác.

Nó tát cạn được vũng nước ấy trong chừng một phút.

Ông Chản nhìn chỗ vừa cạn.

Ông đếm thầm, và ông thấy nước rịn lại chỗ cũ sau chừng ba trăm nhịp thở.

*

Chín giờ, ông Chản kéo lưới.

Ông kéo bằng hai tay, thay phiên, ghì mép thúng bằng đầu gối để khỏi bị lật.

Lưới lên nặng hơn mọi bữa, và ông mừng.

Được chừng ba chục mét đầu, trong lưới có bốn con cá đối, hai con cá liệt, một con ghẹ nhỏ.

Ông gỡ, bỏ vào cái khoang chèn xốp ở giữa thúng.

Thằng Bi ngồi coi, đếm.

"Bảy con rồi ông."

"Ừ."

"Bữa nay trúng hả ông."

"Ừ. Bữa nay khá."

Ông kéo tiếp.

Và trong lúc kéo, ông ngẩng lên nhìn bờ một cái.

Cây dừa nghiêng vẫn còn.

Nhưng nó không còn là cây dừa nữa.

Nó là một cái que.

*

Ông Chản buông lưới xuống lòng thúng.

Ông đứng lên, hai chân dạng, nhìn thẳng vào bờ.

Mấy nóc nhà đã mất.

Chỉ còn một vệt xanh dài, thấp, nằm ngang chân trời, và trên vệt xanh ấy có mấy chấm nhỏ nhô lên.

Ông chuyển mắt xuống mặt nước ngay bên thúng.

Nước không còn màu xanh nhạt.

Nó xanh thẫm, và không thấy đáy.

*

Ông ngồi xuống, cầm dầm.

Ông quạt.

Ông quạt kiểu người biết mình đang làm gì: cắm dầm sâu, kéo dài, đổi bên mỗi ba nhát, không phí sức.

Hai chục nhát.

Bốn chục nhát.

Ông ngoái lại nhìn hàng phao xốp của vàng lưới còn nằm dưới nước phía sau.

Hàng phao vẫn ở nguyên khoảng cách cũ so với thúng.

Nghĩa là thúng không nhích được thước nào.

*

"Ông ơi mình về hả ông."

"Ừ. Ông chèo về."

"Sao ông chèo lâu vậy ông."

"Tại gió."

"Gió đâu ông. Con hổng thấy gió."

Ông Chản không trả lời câu đó.

Ông đưa bàn tay trái lên, xoè ra, giơ ngang mặt.

Mu bàn tay mát ở một phía.

Phía đó là phía bờ.

*

Ông làm phép tính duy nhất ông làm được.

Từ chỗ thả lưới vô bờ, ngày thường ông chèo mất bốn mươi phút.

Sáng nay ông đã quạt hơn ba trăm nhát mà bờ không gần lại.

Vậy thì không phải là chèo lâu hơn.

Là chèo không tới.

Ông đặt dầm ngang lòng thúng, và ông ngồi im chừng mười nhịp thở.

Rồi ông quay sang thằng Bi, giọng vẫn như đang nói chuyện gạo mắm.

"Bi."

"Dạ."

"Con lấy cái bạt dưới be ra cho ông."

*

Tấm bạt xanh gấp tư, cỡ bằng cái chiếu đôi, mép đã sờn, bốn góc có bốn khoen sắt.

Ông Chản trải nó ra một nửa, đo bằng mắt, rồi gấp lại.

Ông không dùng nó che nắng ngay.

Ông đặt nó xuống, rồi ông kéo phần vàng lưới còn lại lên.

Kéo hết trăm mét lưới mất hai mươi ba phút, và trong hai mươi ba phút đó ông không nói câu nào.

Thằng Bi ngồi im nhìn, tay vẫn cầm cái gàu.

Khi vàng lưới nằm gọn thành đống ướt trong lòng thúng, ông Chản làm cái việc mà nếu có người trong xóm ngồi đây thì họ sẽ hiểu ngay.

Ông rút con dao nhỏ giắt ở be thúng.

*

Ông cắt vàng lưới.

Ông cắt ở chỗ cách đầu lưới chừng hai chục mét, cắt dứt khoát, một đường ngang qua cả ba màng.

Thằng Bi bật dậy.

"Ông cắt lưới chi ông."

"Ông làm cái neo."

"Neo gì ông."

"Neo nước."

"Neo nước là cái gì."

"Là cái dù. Nó nằm dưới nước, nó níu mình lại."

"Rồi lưới hư hả ông."

"Ừ."

"Hư rồi mai lấy gì thả."

Ông Chản không đáp.

Ông cầm đoạn lưới hai chục mét vừa cắt, dồn lại thành một túm, buộc bốn góc bằng dây gân.

Rồi ông cột chung bốn mối dây vào một sợi thừng nilon dài chừng mười lăm mét, đầu kia cột vào cái tay be tre của thúng.

*

Ông thả cái túm lưới xuống nước ở phía bờ.

Nó chìm ngay, không nổi, vì trên đó còn dính chì.

Sợi thừng chạy theo, rồi căng ra, rung nhẹ.

Chiếc thúng chai xoay một vòng chậm, rồi đứng lại, mũi chỉ về phía có gió.

*

Cái neo dù không giữ thúng đứng yên.

Nó chỉ làm thúng trôi chậm lại, vì cái túm lưới chìm dưới sâu bị nước ghì, còn cái thúng ở trên bị gió đẩy.

Ông Chản biết một điều nữa, mà ông không nói ra trước mặt thằng nhỏ.

Chậm lại nghĩa là ra xa chậm hơn.

Không phải là vào gần.

*

Mười giờ rưỡi, nắng đứng.

Ông Chản trải tấm bạt xanh lên hai mép thúng, cột hai góc vào tay be, hai góc còn lại đè bằng cái gàu và bằng đống lưới ướt.

Thành một cái mái nghiêng, cao chừng nửa mét, đủ che một người ngồi.

Ông đẩy thằng Bi vào dưới bóng ấy.

"Con ngồi trỏng."

"Ông hổng vô hả ông."

"Ông ngồi ngoài coi dây."

"Nắng lắm ông."

"Ông quen rồi."

Thằng Bi chui vào, ngồi bó gối.

Ông Chản ngồi ngoài mép bạt, đầu trần, hai vai phơi ra nắng.

Ông lấy cái khăn rằn quấn cổ, trùm lên đầu, buộc dưới cằm.

*

Chai nước ngọt một lít rưỡi nằm trong khoang xốp, chỗ có mấy con cá.

Ông Chản lấy ra, coi.

Nước còn chừng hai phần ba chai.

Sáng nay lúc đi hai ông cháu đã uống mỗi người mấy ngụm, và ông định trưa về nhà thì có nước giếng.

Ông vặn nắp, đưa cho thằng Bi.

"Uống đi."

Thằng Bi cầm chai, ngửa cổ, uống ba ngụm, rồi đưa lại.

"Ông uống."

"Ông chưa khát."

"Ông uống một ngụm thôi."

"Ừ."

Ông Chản đưa chai lên miệng, ngậm miệng chai, nghiêng chai lên, rồi hạ xuống.

Ông vặn nắp lại.

Mực nước trong chai không xuống.

*

Buổi trưa trên biển không có tiếng.

Không sóng vỗ, vì mặt nước chỉ gợn.

Không tiếng máy, vì ghe trong xóm giờ này đã về hết.

Chỉ có tiếng nước liếm vào lườn thúng, đều, nhỏ, như tiếng mèo uống.

Và cứ chừng mười lăm phút lại có tiếng cái gàu nhựa cạ vào đáy thúng.

*

Thằng Bi tát bằng hai tay, người chồm về trước, mông nhổm lên.

Mỗi lần tát nó đếm.

"Chín... mười... mười một..."

"Bao nhiêu gàu rồi con."

"Mười một."

"Bữa qua bao nhiêu."

"Bảy."

Ông Chản gật đầu.

Ông không nói gì về con số ấy.

Nhưng ông cúi xuống, đưa tay xoa dọc đáy thúng, dò từ giữa ra mép.

Ở chỗ cách mép chừng một gang, dưới lớp dầu rái, mặt tre hơi mềm.

Ông ấn ngón cái vào đó.

Nó lún.

*

Mười hai giờ, ông Chản làm một việc.

Ông tháo cái khăn rằn trên đầu xuống, nhúng vào nước biển, vắt vừa ráo, rồi trùm lên vai thằng Bi.

"Ướt vậy con hết nóng."

"Rồi ông trùm gì ông."

"Ông có tóc."

Thằng Bi cười một tiếng.

Rồi nó nín, ngồi im, và một lúc sau nó nói.

"Ông ơi."

"Ừ."

"Sao mình hổng thấy bờ nữa vậy ông."

Ông Chản quay ra nhìn về phía tây.

Vệt xanh dài lúc sáng đã không còn.

Ở đó bây giờ chỉ có một đường ranh mỏng, nơi màu nước và màu trời chạm nhau, và trên đường ranh ấy không có gì nhô lên.

"Tại nắng nó chói."

"Chừng nào hết chói."

"Chiều."

*

Một giờ chiều, thằng Bi bắt đầu nôn.

Nó không kêu trước.

Nó chỉ chồm ra mép thúng, và nó ói ra chỗ nước biển bên hông.

Ông Chản đỡ trán nó bằng lòng bàn tay, tay kia vỗ lưng.

Ói xong nó ngồi thụp xuống, tựa lưng vào be, mặt tái đi.

"Con chóng mặt hả."

"Dạ."

"Nằm xuống."

"Con nằm được hông ông."

"Được. Nằm ngang, gối lên đùi ông."

Ông Chản kéo nó nằm xuống lòng thúng, gối đầu lên đùi mình, kéo mép bạt che mặt nó.

Trong lòng thúng có nước.

Nước ngập chừng đốt ngón tay, và tóc thằng nhỏ nằm trong đó.

*

Ghe thì lắc dọc, thúng thì xoay tròn, không có hướng nào cố định để mắt bám vào.

Người lớn quen biển ngồi thúng nửa buổi cũng chóng mặt.

Ông Chản mười tuổi đã ngồi thúng, nên ông không biết cái đó nặng cỡ nào với một đứa nhỏ mới ngồi ba tháng hè.

Thằng Bi nôn lần thứ hai lúc hai giờ.

Lần này nó không nôn ra gì.

*

Ông Chản mở chai nước.

Ông đổ ra nắp chai, đưa lên môi thằng nhỏ.

"Uống."

"Con hổng uống được."

"Ngậm thôi. Đừng nuốt liền."

Thằng Bi ngậm, rồi nuốt.

Ông đổ nắp thứ hai.

Rồi nắp thứ ba.

Xong ông vặn nắp lại, đặt chai vào chỗ khuất nắng, và ông ngồi tính.

Chai còn hơn nửa.

Nếu mỗi giờ ba nắp thì nó hết vào khoảng đầu hôm.

Nếu mỗi giờ hai nắp thì nó qua được đêm.

Ông không tính phần của mình vào bài toán đó, vì phần đó ông đã bỏ ra ngoài từ trưa.

*

Ba giờ chiều, gió mạnh thêm một bậc.

Mặt biển bắt đầu có nếp — những nếp ngắn chạy song song, đầu nếp bạc lên rồi tắt.

Mỗi lần thúng nhấp, một ít nước tràn qua be phía đón gió, chảy vào lòng.

Ông Chản đặt đầu thằng Bi xuống đống lưới ướt, kéo sợi thừng neo lên, cột lại vào tay be phía đối diện.

Cái thúng xoay chậm, đưa mạn cao hơn ra đón gió.

Nước tràn ít lại.

*

Rồi ông cầm gàu.

Ông tát bằng nhịp của người đã tát cả đời: múc, hất, không nhìn, không đếm.

Hai mươi phút sau, lòng thúng cạn xuống còn một lớp mỏng.

Ông đặt gàu xuống, ngồi thở, hai bàn tay run.

Nước đang rịn lên lại, từ chỗ cách mép một gang.

Không thành dòng.

Chỉ là mặt tre ở đó sẫm hơn chỗ khác, và cứ đều đều nhả nước ra.

*

Ông Chản cởi cái áo thun đang mặc ra, vắt lên be.

Ông xé ở gấu áo một mảnh dài, vò cho mềm, rồi ấn nó vào chỗ tre sẫm, ấn mạnh bằng gốc bàn tay.

Nước rịn ra chậm hơn.

Ông tìm quanh lòng thúng, kiếm được cục sáp dầu rái khô còn sót trong cái lon sữa bò để dưới be.

Sáp cứng, không nhão ra được dưới trời chiều.

Ông nhét cả cục vào miệng, ngậm cho nó mềm bằng hơi ấm, rồi lấy ra, miết lên mặt tre.

Ông miết như vậy chừng hai chục lần.

*

Bốn giờ, có chim.

Một đàn chừng hai chục con, bay thấp, thành hàng lệch, ngang qua phía trên chiếc thúng.

Chúng bay về một hướng.

Ông Chản ngẩng lên nhìn.

Chim biển kiếm ăn cả ngày ngoài khơi, và chiều thì chúng quay vào bờ.

Hướng chúng bay là hướng bờ.

Ông nhìn theo, rồi ông quay đầu lại, đo bằng mắt khoảng cách giữa hướng ấy và hướng chiếc thúng đang trôi.

Hai hướng ấy ngược nhau.

*

Ông đánh thức thằng Bi dậy.

"Bi. Dậy con."

"Dạ."

"Con ngồi lên, dựa vô đây."

"Con mệt ông."

"Ông biết. Ngồi lên chút xíu thôi."

Ông kéo nó ngồi dậy, tựa lưng vào be, rồi ông đưa nắp chai nước lên miệng nó.

Thằng Bi uống.

Ông đổ nắp thứ hai.

Nó lắc đầu.

"Con hổng khát."

"Uống đi."

"Ông uống trước con mới uống."

Ông Chản cầm chai, ngậm miệng chai, ngửa cổ.

Rồi ông đưa nắp cho nó.

Thằng Bi uống nắp thứ hai, rồi nằm xuống.

*

Ông Chản làm cái việc ông đã nghĩ tới từ lúc nhìn thấy đàn chim.

Ông sờ vào cổ tay trái.

Ở đó có một cái đồng hồ, mặt kính xước mờ, dây da nứt, kim đứng từ lâu.

Đó là đồng hồ của bà nó, ông giữ lại đeo cho có.

Ông tháo ra.

*

Ông chùi mặt kính vào vạt quần khô, chùi kỹ, rồi giơ lên hứng nắng chiều, nghiêng qua nghiêng lại.

Một vệt sáng nhỏ chạy trên mặt nước.

Nhỏ, nhưng có.

Ông bắt đầu quét cái vệt sáng ấy dọc theo đường chân trời, chậm, từ trái sang phải, rồi ngược lại.

Ông làm việc đó liên tục trong bốn mươi phút.

Ông không thấy chiếc ghe nào.

*

Năm giờ, nắng đổ hẳn về tây.

Bóng cái mái bạt in xuống lòng thúng bây giờ dài gấp ba lúc trưa.

Ông Chản cúi xuống, đặt mu bàn tay lên trán thằng nhỏ.

Trán nó nóng.

Không nóng kiểu sốt.

Nóng kiểu người phơi nắng cả ngày và trong người không còn nước.

Ông thấm nước biển vào cái khăn rằn, đắp lên trán nó, rồi lau cổ, lau hai cánh tay.

Nước biển bốc hơi thì mang theo hơi nóng, cái đó ông học từ hồi đi bạn ghe cào.

*

"Ông ơi."

"Ừ."

"Mình còn xa nhà hông ông."

"Không xa."

"Xa nhiêu ông."

"Bằng từ nhà mình ra chợ."

"Ra chợ đi bộ mười lăm phút."

"Ừ."

Thằng Bi im một lúc.

"Ông ơi. Ông nói xạo."

Ông Chản ngồi im.

Rồi ông đưa tay vuốt tóc bết của thằng nhỏ ra sau.

"Ừ. Ông nói xạo."

*

Sáu giờ kém, mặt trời chạm mép nước.

Nó không đỏ.

Nó vàng đục, méo một bên, và nó lún xuống nhanh hơn người ta tưởng.

Ông Chản nhìn nó lún, và ông nhìn để lấy hướng, vì chỗ mặt trời lặn là hướng bờ.

Khi mặt trời còn một nửa, ông với cái áo thun vắt trên be, xé thêm một dải, buộc vào tay be ở đúng phía ấy.

Dải vải trắng, cột thành nút, đầu thả xuống.

Đó là cái la bàn duy nhất trên chiếc thúng.

*

Sáu giờ rưỡi, trời sập.

Trên biển tối rất nhanh, và tối rồi thì không còn gì để nhìn ngoài mặt nước đen và cái nếp bạc thỉnh thoảng chạy ngang.

Ông Chản đưa tay sờ dải vải trắng buộc trên be.

Nó vẫn ở đó.

Ông đặt thằng Bi vào lòng, quay đầu nó ra hướng ấy.

Rồi ông cởi cái áo khoác bạc màu ra khỏi mép thúng, mặc cho thằng nhỏ, kéo khoá lên tới cằm.

Hai ống tay dài trùm kín bàn tay nó.

Ông xắn lên ba vòng mỗi bên.

*

Đêm trên biển lạnh không cắt.

Nó thấm, đều, từ dưới lườn thúng lên, qua lớp nước đọng, qua quần áo ướt.

Thằng Bi run trong lòng ông từng đợt, cách nhau chừng vài phút.

Mỗi lần nó run, ông siết hai cánh tay lại.

Cứ chừng một lúc ông lại đưa một tay ra, mò cái gàu, tát.

Tát trong bóng tối thì không đo được còn bao nhiêu nước, chỉ đo bằng chỗ mông ông ngồi.

Lúc chập tối, mông ông còn khô.

Chín giờ, nó ướt.

*

Ông Chản uống nước lần đầu tiên lúc mười giờ đêm.

Ông ngậm miệng chai, đếm tới ba, rồi hạ xuống.

Ba nhịp đếm ấy được chừng nửa ngụm.

Rồi ông sờ chai, đo bằng ngón tay từ đáy lên.

Còn chừng một phần ba.

Ông vặn nắp thật chặt, nhét chai vào giữa hai đùi thằng Bi, chỗ ấm nhất và chắc nhất trên chiếc thúng.

*

Nửa đêm, thằng Bi tỉnh.

"Ông."

"Ừ."

"Con lạnh."

"Ông biết."

"Mình chưa về hả ông."

"Chưa."

"Chừng nào về."

"Sáng."

"Sáng có ai tới hả ông."

"Ừ. Sáng ghe đi ngang."

"Ghe của ai."

"Ghe câu mực trong xóm. Bốn giờ sáng người ta về ngang đây."

Thằng Bi im.

Rồi nó hỏi một câu mà ông Chản không tính trước.

"Ông ơi. Người ta có thấy mình hông ông."

*

Ông Chản không trả lời ngay.

Ông ngồi tính, thật, trong bóng tối.

Ghe câu mực chạy đèn sáng, mà người trên ghe nhìn ra ngoài vùng đèn thì không thấy gì.

Một chiếc thúng chai không đèn, thấp hơn mặt nước một gang, nằm giữa đêm, thì có chạy ngang cách năm chục mét cũng không ai thấy.

Đó là cái ông biết.

"Ông sẽ làm cho người ta thấy."

"Làm sao ông."

"Ông tính rồi. Con ngủ đi."

*

Cái ông tính, ông làm lúc gần một giờ sáng.

Ông lần trong đống lưới ướt, gỡ được năm cái phao xốp trắng còn dính trên đoạn lưới cắt dở.

Rồi ông tháo dải vải buộc trên be xuống, xé thêm hai dải nữa từ chỗ áo thun còn lành.

Ông buộc năm cái phao thành một chùm, buộc kèm ba dải vải, rồi cột chùm ấy vào đầu mái dầm.

Mái dầm gỗ dài hơn hai mét.

Nghĩa là nếu ông đứng lên giơ dầm quá đầu, chùm trắng ấy sẽ ở cách mặt nước gần bốn mét.

*

Ông không giơ ngay.

Giơ dầm suốt đêm thì tay chết trước khi ghe tới.

Ông đặt cây dầm dọc lòng thúng, đầu có chùm phao gác lên be, rồi ông chờ tiếng máy.

Chờ tiếng máy trên biển đêm thì không nghe bằng tai hướng ra ngoài, mà cúi đầu xuống, áp một bên tai vào mép be thúng.

Nước dẫn tiếng máy đi xa hơn không khí.

Ông ngồi như vậy, đầu nghiêng, má áp vào tre ướt.

*

Trong lúc ngồi nghe, ông tát bằng một tay, tay kia giữ thằng nhỏ.

Cứ chừng nửa tiếng lại một đợt, và mỗi đợt càng lâu hơn đợt trước.

Chỗ tre mềm dưới lớp sáp giờ đã nhả nước thành hai chỗ, không phải một.

Đến hai giờ sáng thì cái mông ông ngồi không phải ướt nữa.

Nó ngập.

Nước trong lòng thúng lên tới mắt cá chân ông.

*

Ông đánh thức thằng Bi.

"Bi. Dậy."

"Dạ."

"Con ngồi lên chỗ này. Chỗ này cao."

Ông nhấc nó đặt lên đống lưới ướt vun thành gò giữa lòng thúng.

Cao hơn được chừng một gang.

"Ông ơi thúng chìm hả ông."

"Không chìm. Thúng vô nước thôi."

"Vô nhiều quá ông."

"Ừ. Ông tát."

"Con tát với."

"Con ngồi im. Ông tát."

Thằng Bi ngồi im được chừng một phút.

Rồi nó tụt xuống, mò tìm trong bóng tối, và nó tìm được cái nắp chai.

Nó dùng cái nắp chai để tát.

*

Cái nắp chai mỗi lần múc được chừng một muỗng nước.

Ông Chản biết chỗ ấy không đáng gì so với chỗ đang rịn vào.

Nhưng ông không ngăn, vì đứa nhỏ đang làm việc thì nó không nghĩ tới chuyện khác.

Hai ông cháu tát song song như vậy tới ba giờ sáng.

*

Ba giờ mười, ông Chản nghe được tiếng máy.

Nó tới qua lớp tre, qua nước, mỏng như tiếng gõ vào lòng bàn tay.

Ông xoay đầu, áp tai kia xuống, nghe lại.

Vẫn có.

Ông đứng dậy, hai chân dạng ra chịu, vác cây dầm lên, giơ thẳng đứng quá đầu.

Rồi ông quay cây dầm thành vòng tròn lớn, chậm, đều, để chùm trắng vẽ một vòng trên nền trời đen.

*

Ông quay được chừng bốn phút thì tay bắt đầu rung.

Ông hạ xuống, đổi tay, quay tiếp.

Tiếng máy không to lên.

Nó cũng không nhỏ đi.

Nghĩa là chiếc ghe ấy đang chạy ngang, không chạy tới.

Ông Chản hạ dầm xuống, ngồi thụp, thở.

Rồi ông làm cái việc mà từ chiều tới giờ ông chưa làm.

Ông hét.

*

Tiếng ông ra khỏi cổ họng khô, và nó không đi được xa.

Ông hét lần thứ hai, kéo hết hơi từ bụng.

Lần thứ ba, tiếng vỡ ra ở giữa chừng.

Thằng Bi ngồi trên gò lưới, ngước lên.

Rồi nó cũng hét.

Tiếng nó cao, mỏng, và nó hét theo cái cách trẻ con gọi nhau ngoài sân.

"Cứu... cứu..."

Hai ông cháu hét như vậy chừng ba chục lần.

Tiếng máy đi qua, rồi xa dần về phía tây bắc, rồi mất.

*

Bốn giờ, ông Chản ngồi xuống cạnh thằng nhỏ.

Ông không nói gì.

Ông mở chai nước, đổ vào nắp, đưa lên miệng nó.

"Uống."

"Còn nhiêu ông."

"Còn."

"Con hổng uống đâu. Để dành."

"Uống đi con."

"Ông uống chung con mới uống."

Ông Chản cầm chai, ngậm miệng chai, ngửa cổ, đếm tới ba trong đầu, rồi hạ xuống.

Ông không nuốt.

Ông ngậm chỗ nước ấy trong miệng, và khi thằng Bi uống xong nắp của nó, ông cúi xuống, nhả chỗ nước trong miệng vào cái nắp, rồi đưa lại.

"Còn nữa nè. Uống nốt."

*

Thằng Bi uống nốt nắp đó.

Rồi nó nằm xuống, gối đầu lên đùi ông, và nó nói một câu.

"Ông ơi con hổng đi biển với ông nữa đâu."

Ông Chản đưa tay đặt lên ngực nó.

"Ừ."

"Tại con ngồi thúng con ói."

"Ừ."

"Con ở nhà một mình được mà ông."

"Ừ."

"Ông đừng chở con theo nữa."

Ông Chản không trả lời câu đó.

Ông ngồi im, tay vẫn đặt trên ngực thằng nhỏ, và ông đếm nhịp thở của nó.

*

Trời hửng lúc năm giờ mười.

Không phải sáng.

Chỉ là màu đen của nước và màu đen của trời tách nhau ra, và giữa hai màu ấy hiện lên một đường xám.

Ông Chản tìm trên đường xám ấy một cái gì nhô lên.

Không có gì.

Bốn phía đều là một đường tròn khép kín, và trên vòng tròn ấy không có một cái gờ nào.

*

Trong ánh sáng đầu tiên của ngày, ông đếm được cái ông cần đếm.

Nước trong lòng thúng ngập quá mắt cá chân, và chiếc thúng chìm sâu hơn hôm qua chừng một gang.

Đống lưới ướt nằm giữa, thành gò, và thằng Bi nằm co trên đó.

Ông nhìn cái đống lưới rất lâu.

Rồi ông xốc thằng nhỏ lên, đặt nó ngồi vào chỗ khô nhất còn lại là mép be phía cao.

Ông giữ nó bằng một tay.

Tay kia, ông bắt đầu đẩy vàng lưới xuống biển.

*

Vàng lưới ướt nặng gấp mấy lần khi khô.

Ông đẩy từng nhúm một, dùng cả vai.

Nhúm đầu chìm chậm, xoè ra dưới nước như một cái bóng.

Thằng Bi ngồi trên be, nhìn xuống.

"Ông bỏ lưới hả ông."

"Ừ."

"Bỏ chi ông."

"Cho thúng nhẹ."

"Rồi mai lấy gì thả ông."

"Mai tính."

"Lưới mắc tiền lắm mà ông."

Ông Chản dừng tay một nhịp.

"Ừ. Mắc."

Rồi ông đẩy nốt phần còn lại.

*

Chiếc thúng nhẹ đi thật.

Mép be nhô lên khỏi mặt nước thêm được chừng nửa gang.

Ông Chản tát tới đáy, và đáy thúng lộ ra, ướt, sẫm, hai chỗ tre mềm có màu khác hẳn phần còn lại.

Ông lấy nốt cục sáp dầu rái, ngậm cho mềm, miết lên đó cho tới khi hết sáp.

*

Sáu giờ sáng, mặt trời lên ở đúng phía đối diện chỗ hôm qua nó lặn.

Bờ ở phía sau lưng mặt trời.

Ông biết ông chèo không lại gió.

Ông vẫn cầm dầm.

Ông cắm xuống, kéo, đổi bên, cắm xuống, kéo.

Ông quạt như vậy hai trăm nhát, và chiếc thúng xoay chậm về hướng ấy, rồi trôi ngang, rồi ông quạt tiếp.

*

Bảy giờ, thằng Bi thấy nó trước.

Nó đang ngồi trên be, mặt hướng về phía nam, và nó chỉ tay.

"Ông. Cái kia."

Ông Chản buông dầm, quay lại.

Cách chừng hai cây số về phía nam, trên mặt nước có một chấm đen nhỏ.

Chấm đó không phải chim.

Chim thì bay lên rồi hạ xuống.

Chấm đó nằm yên, và bên cạnh nó có một chấm nhỏ hơn nhô lên, đứng thẳng.

Cái chấm nhỏ đứng thẳng ấy là một người đứng trong thúng.

*

Ông Chản đứng bật dậy, vác cây dầm có chùm phao trắng lên, giơ quá đầu, quay hai chục vòng.

Cái chấm đen phía nam không động đậy.

Ông hạ xuống, vơ nốt chỗ áo thun rách còn lại trong lòng thúng, cột vào đầu dầm, giơ lên, quay tiếp.

Chấm đen vẫn nằm im.

Thằng Bi đứng dậy trên be, một tay bám tay be, tay kia vẫy bằng cả cánh tay áo khoác dài trùm quá bàn tay.

*

Người trong chiếc thúng kia đang gỡ lưới.

Gỡ lưới thì cúi xuống, mắt nhìn vào tay, và nửa tiếng mới ngẩng lên một lần.

Ông Chản ngồi xuống, thở, và ông đợi.

Ông đợi mười lăm phút, không rời mắt.

Rồi cái chấm nhỏ đứng thẳng ấy vươn lên cao hơn một chút.

Người kia đã đứng thẳng lưng.

Ông Chản đứng phắt dậy, giơ dầm, quay hết sức.

*

Cái chấm đen phía nam đứng yên thêm chừng nửa phút.

Rồi nó xoay.

Rồi nó bắt đầu lớn lên, rất chậm, vì người kia đang chèo ngược gió chếch.

Ông Chản đặt dầm ngang lòng thúng, ngồi giữ hai vai thằng nhỏ, và hai ông cháu cùng nhìn cái chấm ấy lớn dần.

Nó lớn trong bốn mươi phút.

*

Người trong thúng kia là một người đàn ông chừng năm mươi, trần lưng, đội nón lá rách vành.

Khi hai chiếc thúng còn cách nhau chừng ba chục mét, ông ta hét trước.

"Ai đó!"

"Tui! Chản đây!"

"Chản nào!"

"Chản xóm Bãi Ngoài! Chản đan thúng!"

Người kia im mất mấy giây.

Rồi tiếng ông ta đổi hẳn.

"Trời đất ơi ông trôi tới đây hả!"

*

Hai chiếc thúng áp nhau lúc gần tám giờ.

Người đàn ông ném qua một sợi dây, ông Chản bắt được, cột vào tay be.

Ông ta chồm sang, nhìn vào lòng thúng, và cái đầu tiên ông ta nhìn không phải là hai ông cháu.

Là mực nước trong lòng thúng.

"Thúng ông lủng."

"Ừ. Hai chỗ."

"Từ hồi nào."

"Từ trưa qua."

"Trưa qua tới giờ hả."

Ông Chản gật đầu.

Người kia không hỏi thêm câu nào.

Ông ta lôi trong thúng mình ra một cái can nhựa, mở nắp, đưa qua.

*

"Cho thằng nhỏ uống trước."

Ông Chản đỡ cái can, kê vào miệng thằng Bi.

Thằng Bi uống.

Nó uống một hơi dài, rồi sặc, rồi uống tiếp.

"Từ từ con."

"Cho nó uống. Uống đã đi."

Ông Chản để nó uống hết chừng nửa can, rồi đậy nắp lại.

"Ông uống đi ông Chản."

"Chút."

"Uống. Tui còn can nữa."

Ông Chản cầm can, và lần này ông không đếm tới ba.

Ông uống thật.

*

Người đàn ông tên Hưng, làm nghề câu mực, thả thúng từ ghe của người khác lúc ba giờ sáng.

Ông ta ở xóm bên kia mũi đá, cách đó bảy cây đường bộ.

"Ghe tui nó chạy vòng, chừng chín giờ nó lại đón."

"Chín giờ hả."

"Ừ. Ông với thằng nhỏ qua thúng tui."

"Còn thúng tui."

Ông Hưng nhìn chiếc thúng lủng đang chìm sâu hơn mép an toàn một gang.

Rồi ông ta nhìn ông Chản.

"Ông tính kéo nó về hả."

*

Ông Chản không đáp.

Ông cúi xuống, sờ dọc lòng thúng của mình, giống như người sờ lưng một con vật.

Rồi ông đứng lên.

"Kéo được hông."

"Kéo được. Mà chậm lắm. Ghe nó đón chín giờ, mình kéo thì tới trưa cũng chưa tới chỗ hẹn."

"Ừ."

"Với lại nó ngậm nước rồi ông. Kéo nó nặng gấp ba."

Ông Chản gật đầu.

Ông chỉ ngồi xuống, và ông ngồi trong lòng chiếc thúng của mình thêm chừng nửa phút.

*

Chuyển người sang thúng khác giữa biển là việc dễ lật.

Ông Hưng ghì hai mép thúng lại với nhau, người nhoài ra làm đối trọng.

Ông Chản bế thằng Bi lên, đưa qua, và ông Hưng đặt nó ngồi giữa lòng thúng mình.

Rồi ông Chản bước một chân qua, dồn người, và trong lúc dồn, ông ngoái lại nhìn.

Chiếc thúng ông đan hai mươi mốt ngày, trong lòng còn cái gàu nhựa cắt từ can dầu, cái lon sữa bò đựng sáp đã hết, và mấy con cá đối ươn trong khoang xốp.

Ông rút chân sau qua.

*

Ông Hưng tháo sợi dây cột hai thúng.

Chiếc thúng lủng lùi lại ngay, xoay một vòng, rồi trôi theo gió.

Nó trôi về hướng ngược với hướng hai người đang chèo.

Thằng Bi ngồi giữa lòng thúng ông Hưng, quay đầu nhìn theo.

"Ông ơi thúng mình nó đi đâu."

"Nó trôi."

"Rồi nó về hông ông."

"Không."

"Sao hổng về được."

"Tại hổng ai chèo."

*

Ông Hưng chèo, và ông Chản chèo phụ bằng một cái dầm nhỏ.

Hai người chèo chếch, không chèo ngược gió, và cứ chừng mười lăm phút lại đổi bên.

Ông Hưng vừa chèo vừa hỏi, giọng như hỏi chuyện đồng áng.

"Ông thả lưới chỗ nào."

"Ngoài mũi. Chỗ có lằn nước đục."

"Rồi trôi hồi mấy giờ."

"Chín giờ sáng qua tui biết mình không vô được."

"Sao ông biết."

"Tui quạt ba trăm nhát mà cái cây dừa nó hổng lớn lên."

Ông Hưng gật đầu.

Ông ta chèo thêm mấy nhát, rồi hỏi câu tiếp.

"Vàng lưới ông đâu."

"Tui bỏ rồi."

*

"Bỏ hồi nào."

"Cắt hai chục mét làm neo dù hồi trưa qua. Sáng nay bỏ hết phần còn lại."

"Sao bỏ."

"Nó ngậm nước. Nó nặng."

Ông Hưng chèo một nhát dài.

"Vàng lưới đó bao nhiêu."

"Ba trăm mấy."

"Ông mua đứt hả."

"Trả bốn lần."

"Trả xong chưa."

"Còn một lần."

*

Chiếc ghe câu mực tới chỗ hẹn lúc chín giờ hai mươi.

Nó là ghe gỗ, dài chừng mười hai mét, mui thấp, trên nóc cắm một dàn bóng đèn.

Người trên ghe kéo hai ông cháu lên bằng cái thang tre buộc ngoài mạn.

Trên ghe có bốn người, và cả bốn đều nhìn thằng Bi trước.

Người ta lấy áo khô, lấy nước, lấy một hộp sữa đặc pha loãng.

Thằng Bi uống hết ly sữa, rồi ngủ ngồi, đầu gục vào vai ông nó.

*

Ông chủ ghe chừng bốn mươi tuổi, tóc cháy nắng.

Ông ta ngồi xuống cạnh ông Chản.

"Ông trôi từ hôm qua hả bác."

"Ừ."

"Bác không có gì làm hiệu hả."

"Có. Tui buộc phao xốp với vải trắng lên cây dầm."

"Hồi đêm hả."

"Ừ. Chừng ba giờ sáng tui nghe tiếng máy."

Ông chủ ghe ngừng lại.

Rồi ông ta hỏi lại, chậm.

"Ba giờ sáng hả bác."

"Ừ."

"Ghe tui chạy ngang đó hồi ba giờ."

*

Không ai nói gì trong một lúc.

Ông chủ ghe ngồi nhìn ra mặt biển, hai bàn tay để trên đầu gối.

Rồi ông ta đứng dậy, đi vào trong mui, và ông ta không quay ra ngay.

Một người bạn ghe ngồi gần đó lên tiếng, giọng nhỏ.

"Hồi đêm tụi tui kéo mực, đèn sáng chói. Nhìn ra ngoài tối thui bác ơi."

"Tui biết."

"Bác đừng để bụng."

Ông Chản lắc đầu.

"Tui không để bụng. Tui cũng đi ghe hai chục năm rồi."

*

Ghe cập bến xóm bên kia mũi đá lúc mười một giờ.

Người trên bến bu lại, vì tin đã chạy trước bằng bộ đàm.

Có người chạy đi báo về xóm Bãi Ngoài.

Ông Chản đứng trên bến, tay dắt thằng Bi, và ông đứng đó với đúng những thứ còn lại trên người.

Một cái quần vải ướt và cái khăn rằn vắt vai.

Cái áo khoác bạc màu đang mặc trên người thằng nhỏ.

Cái đồng hồ chết dây da nứt trong túi quần.

Và một mảnh giấy gấp tư bọc ni lông đã ngấm nước, chữ số nhoè nhưng còn đọc được.

*

Người ta cho hai ông cháu quá giang xe chở cá về xóm.

Thằng Bi ngồi trong lòng ông, ngủ suốt đường.

Về tới đầu ngõ, hàng xóm đã đứng chờ sẵn.

Bà Bảy bán tạp hoá đầu ngõ chạy ra trước, hai tay đưa lên rồi hạ xuống, không biết làm gì.

"Trời ơi ông Chản."

"Ừ."

"Tụi tui tưởng..."

"Ừ."

"Thúng ông đâu."

Ông Chản đứng ở đầu ngõ, tay vẫn dắt thằng nhỏ.

"Ngoài kia."

*

Chiều hôm đó người trong xóm góp nhau.

Không phải góp tiền.

Người cho mượn cái thúng cũ nằm không sau hè, lủng một chỗ nhưng vá được.

Người cho vay hai vàng lưới cũ, bảo trả sau, mùa nào cũng được.

Ông Bảy Đài, người đan thúng lâu năm nhất xóm, xách qua một bó nan tre chẻ sẵn với hai lon dầu rái.

"Đan cái mới đi ông."

"Tui bảy mươi mốt rồi ông Bảy."

"Bảy mươi mốt thì đan chậm hơn. Chứ có ai cấm đâu."

*

Mẹ thằng Bi về sau đó bốn ngày.

Chị xin nghỉ ba ngày công, đi xe đò một đêm.

Chị về tới nhà lúc sáng, và việc đầu tiên chị làm là ôm thằng nhỏ, rồi ngồi bệt xuống thềm.

Ông Chản đứng ở cửa bếp, không vào.

"Ba."

"Ừ."

"Sao ba chở nó ra đó."

"Tại ba không có ai gửi."

Chị không nói thêm.

Chị ngồi ở thềm rất lâu, mặt úp vào tóc con.

*

Tối hôm ấy, sau khi thằng Bi ngủ, chị ra sau bếp, chỗ ông Chản đang ngồi vót nan.

Chị đặt xuống chiếu một xấp tiền mỏng.

"Ba cầm cái này."

"Của con để đóng tiền trọ."

"Con còn."

"Ba không lấy."

"Ba."

"Ba nói không lấy."

Chị ngồi im, rồi chị nói câu chị định nói từ lúc bước xuống xe đò.

"Con xin nghỉ chỗ đó rồi ba. Con về làm ở xưởng may ngoài thị trấn. Lương ít hơn."

*

Ông Chản ngừng tay dao.

Ông không quay lại.

"Ít bao nhiêu."

"Ít chừng phân nửa."

"Vậy con về làm chi."

Chị không trả lời câu đó.

Chị đứng dậy, đi vào trong, rồi lát sau đi ra, cầm theo cái áo khoác bạc màu đã giặt phơi khô.

Chị treo nó lên cây đinh sau cửa bếp.

"Tại con đi rồi thì ba lại chở nó ra biển."

*

Ông Chản đan cái thúng mới trong ba mươi bốn ngày.

Chậm hơn cái cũ mười ba ngày.

Buổi sáng ông đan, buổi chiều ông đi bạn cho ghe người khác, ngồi gỡ lưới thuê, được trả bằng cá.

Thằng Bi vào năm học, chiều nào cũng ngồi cạnh coi ông đan, và nó có việc riêng của nó.

Việc của nó là giữ đầu nan.

*

Cái thúng mới trét dầu rái ba nước, phơi đủ nắng, y như cái cũ.

Chỉ khác một chỗ.

Ở mép be, chỗ tay cầm, ông Chản buộc thêm một sợi dây gân dài chừng mười lăm mét, cuộn gọn, đầu kia cột sẵn vào một túm lưới cũ có dằn chì.

Buộc sẵn, để đó, không dùng.

Ông Bảy Đài qua coi, thấy cái túm ấy thì hỏi.

"Cái gì đây ông."

"Neo nước."

"Ngày thường ông thả lưới gần bờ, cần chi cái này."

Ông Chản không giải thích.

Ông chỉ vuốt lại mối buộc cho chặt.

*

Sáng hạ thuỷ, người trong xóm ra đứng coi mấy người.

Ông Chản khiêng thúng xuống mép nước một mình, đặt xuống, đẩy ra, rồi bước vào.

Thằng Bi đứng trên bãi, tay cầm cặp sách, vì sáng đó nó đi học.

"Ông ơi."

"Ừ."

"Ông chừng nào về."

"Trưa."

"Trưa mấy giờ."

Ông Chản ngồi trong lòng thúng, tay cầm dầm, và ông ngước lên nhìn thằng nhỏ.

Rồi ông trả lời, và ông trả lời khác mọi khi.

"Con coi cái cây dừa. Chừng nào bóng nó ngã tới gốc thì ông về tới."

*

Thằng Bi gật đầu.

Rồi nó chạy vài bước lên bãi, quay lại, và nó hỏi với ra một câu.

"Ông ơi. Cái thúng cũ của mình giờ nó ở đâu."

Ông Chản đã quạt được mấy nhát.

Ông ngừng dầm.

Ngoài kia, mặt biển sáng nay lặng như mặt sân, và gió còn chưa trở.

"Ông không biết."

"Nó chìm hả ông."

*

Ông Chản ngồi im trên chiếc thúng mới, cách bờ chừng hai chục sải tay.

Ông nhìn về phía đường ranh mỏng nơi màu nước chạm màu trời.

Rồi ông quay lại nhìn thằng nhỏ đứng trên bãi, cặp sách ôm trước bụng, tay áo xắn hai vòng.

"Ông hổng biết con."

"Vậy lỡ nó chưa chìm thì sao ông."

Ông Chản cầm dầm lên.

"Thì nó còn trôi."

Rồi ông quạt nhát đầu tiên, và ông chèo ra chỗ nước còn thấy đáy cát, chỗ ông thả lưới hai mươi mấy năm nay, chỗ mà từ đó nhìn vào vẫn còn đếm được từng tàu lá trên ngọn dừa.

Chia sẻ:FacebookXThreadsTelegram

Đọc tiếp

Người đàn ông liệt nửa người nằm trong chòi lá giữa rẫy mía khô, và lúc mười hai giờ mười lăm thì gió trở hướng
Truyện

Người đàn ông liệt nửa người nằm trong chòi lá giữa rẫy mía khô, và lúc mười hai giờ mười lăm thì gió trở hướng

Mười một giờ trưa, cột khói bên kia con mương cạn còn trắng và đứng thẳng, và người đàn ông nằm trong cái chòi lợp lá cách đó hai trăm mét không nhìn thấy nó. Ông năm mươi tư tuổi, liệt nửa người sau tai biến, ra ở chòi giữ rẫy đã mười bốn tháng vì trong nhà chật và vì con dâu ông đang nghén. Từ mép phản xuống đất là bốn tấc, và bốn tấc ấy ông chưa xuống lần nào một mình. Người chăm ông là bà vợ năm mươi tuổi hỏng cả hai đầu gối, mỗi ngày ba lượt đi hai trăm mét trong mười một phút. Người hàng xóm bên kia mương đốt dọn rẫy từ bảy giờ sáng, phát ranh ba mét, xách theo hai thùng nước, đứng canh không rời. Khói trắng là lá còn ẩm, khói xám là lá đã khô, và khói nâu thì không còn ai canh được nữa. Trưa hôm ấy gió trở hướng, và cái mốc mà lửa vượt qua rồi thì không cứu kịp chỉ rộng có bốn mét.

· 33 phút đọc
Con sốt cao lên cơn co giật lúc mười một giờ đêm, đường độc đạo xuống thị trấn đã sạt mất mười hai mét từ chiều — người mẹ hai mươi ba tuổi đếm bằng nhịp thở vì trong nhà không có cái đồng hồ nào
Truyện

Con sốt cao lên cơn co giật lúc mười một giờ đêm, đường độc đạo xuống thị trấn đã sạt mất mười hai mét từ chiều — người mẹ hai mươi ba tuổi đếm bằng nhịp thở vì trong nhà không có cái đồng hồ nào

Mười một giờ đêm, đứa bé mười bốn tháng cứng người trong lòng mẹ nó, hai bàn tay nắm chặt, mắt trợn ngược lên trần nhà. Cách cái sàn gỗ ấy chừng bảy trăm mét, đoạn đường độc đạo xuống thị trấn đã trôi mất một khoảng dài bằng ba gian nhà từ lúc chiều, mà nhà cuối xóm thì không ai đi tới để kể. Người mẹ hai mươi ba tuổi ấy có một cái túi vải hoa treo trên vách, trong đó còn đúng hai viên thuốc hạ sốt, một cuốn sổ cân nặng và một cái nhiệt kế thuỷ ngân. Chị không có xe, không có sóng điện thoại, và không có cả một cái đồng hồ để biết cơn giật kéo dài bao lâu. Trong xóm có một bà cụ bảy mươi hai tuổi từng đỡ đẻ cho gần hết đám đàn bà ở đây, và bà biết một điều mà người mẹ chưa biết: đứa nào lên một cơn rồi mà không hạ được sốt thì nó sẽ lên cơn nữa, có đứa hai tiếng, có đứa nửa tiếng. Đêm ấy mười một người đàn ông ra đứng ở mép chỗ sạt với một cuộn dây thừng kéo gỗ và hai cái đèn pin. Và giữa mười hai mét đất đang trôi ấy, có một khoảnh khắc mà người mẹ buộc phải chọn: đứng lại, hay đi tiếp.

· 29 phút đọc
Cậu quản lý trẻ đứng giữa chợ bảo tôi chỉnh cân điêu ăn tiền, rồi ép hội tiểu thương cấm tôi vào chợ
Truyện

Cậu quản lý trẻ đứng giữa chợ bảo tôi chỉnh cân điêu ăn tiền, rồi ép hội tiểu thương cấm tôi vào chợ

Tôi tên Chật, sáu mươi hai tuổi, sửa cân đi rong ba mươi năm, hòm đồ nghề có mười hai viên quả cân gang thầy tôi để lại. Một buổi sáng chợ đông, cậu quản lý cửa hàng thực phẩm mới mở ở đầu chợ đứng giữa lối đi nói to rằng cả chợ ăn gian được là nhờ tôi. Ba hôm sau, bà bán khoai hăm hai năm ở góc trong cùng bị hội tiểu thương dẹp sạp vì cái cân của bà ấy. Hội họp một tối, mười bảy người giơ tay, và tôi cũng không được vào chợ nữa. Tôi chỉ xin một điều trước khi thu hòm đồ nghề: sáng mai bày bàn ra sân giữa chợ thì mang cả cái cân của bà ấy ra. Cân đồng hồ lò xo chỉ có bốn kiểu sai, và mỗi kiểu để lại một dấu vết khác nhau.

· 15 phút đọc