Halab
Ông thợ đánh chìa ngồi ngoài cổng bị quản lý toà nhà chỉ mặt giữa chợ sáng: "Chìa cho trộm vào nhà người ta là ông đánh chứ ai"
Truyện

Ông thợ đánh chìa ngồi ngoài cổng bị quản lý toà nhà chỉ mặt giữa chợ sáng: "Chìa cho trộm vào nhà người ta là ông đánh chứ ai"

· 17 phút đọc · Halab

"Ông ngồi cái ghế xếp ngoài cổng mà ông dám đánh thêm chìa cho người ta vào nhà à?"

"Cậu nói cái nhà nào?"

"Phòng bốn lẻ hai. Đêm qua mất sạch, cửa không hề bị phá."

"Không bị phá thì sao hả cậu?"

"Thì có người mở bằng chìa. Chìa ở đâu ra thì cả khu này chỉ có ông làm."

Tôi tên Chản, sáu mươi ba tuổi, đánh chìa khoá ở cái cổng này mười bảy năm.

Đồ nghề của tôi là một cái máy cắt chìa chạy điện, một hòm phôi, một cái ghế xếp và tấm bạt che nắng buộc vào gốc cây.

Cậu đứng trước mặt tôi tên Nghiễm, ba mươi lăm tuổi, quản lý toà nhà cho thuê phía trong cổng.

"Cậu vào phòng ấy chưa?"

"Tôi vào từ bảy giờ sáng. Tôi là người mở cửa cho chị ấy."

"Chị nào?"

"Chị Rẫm thuê phòng đó. Chị ấy đi làm ca đêm về thì mất."

"Mất những gì?"

"Ba chỉ vàng với hơn hai chục triệu tiền mặt. Tiền chị ấy gom cho con nhập học."

Tôi tắt cái máy cắt đang chạy không.

Lúc ấy khoảng tám giờ, đầu cổng đang đông, hàng bún bên kia đường có mấy người ngồi quay mặt sang.

"Chị Rẫm đâu?"

"Ngồi trong sảnh. Khóc từ nãy."

"Cậu để chị ấy ngồi khóc rồi cậu ra đây nói tôi à?"

"Chứ tôi làm gì? Tôi phải tìm ra chìa ở đâu chứ."

Tôi gấp cái ghế xếp lại, dựng vào gốc cây.

Mười bảy năm tôi ngồi cái ghế ấy, sáng dựng ra, tối gấp vào, chưa hôm nào gấp lúc tám giờ.

"Cậu đưa tôi lên phòng ấy."

"Ông lên làm gì?"

"Tôi xem cái ổ khoá."

"Ông xem để ông chữa lời à?"

"Tôi xem để tôi biết người ta vào bằng đường nào."

"Đường nào thì rõ rồi. Bằng cửa chính, bằng chìa."

Cậu ấy móc máy trong túi quần ra, bấm gọi, buông đúng mấy tiếng rồi bỏ máy lại vào túi.

"Ông cứ ngồi đây. Cháu tôi nó đang lên xem rồi."

"Cháu cậu làm gì?"

"Nó mở cửa hàng khoá ngoài phố lớn. Có biển, có bảo hành, có hoá đơn."

"Vâng."

"Chứ không phải ngồi hè cắt chìa hai chục nghìn một cái."

Bên hàng bún có tiếng ai đó cười khẽ.

Chị Rẫm ra tới cổng lúc gần chín giờ, tay vẫn cầm cái áo bảo hộ chưa kịp cởi.

Chị ấy bốn mươi tư tuổi, làm ca đêm ở xưởng may bên kia cầu, thuê phòng trong này bốn năm rồi.

"Bác Chản ơi."

"Chị ngồi xuống đã."

"Bác ơi có phải hôm nọ bác..."

"Chị ngồi xuống cái ghế này."

Chị ấy ngồi xuống, hai bàn tay ôm lấy nhau, mấy đầu ngón còn dính chỉ vải.

Cậu Nghiễm đứng chống tay lên hòm phôi của tôi.

"Chị nói cho ông ấy nghe hôm nào chị nhờ ông ấy."

"Tháng trước tôi làm mất chìa, tôi nhờ bác Chản đánh cho hai cái."

"Hai cái. Chị dùng một, còn cái thứ hai đâu?"

"Tôi treo ở nhà."

"Chị treo ở nhà, mà đêm qua nhà chị có người vào."

"Bác Chản, hôm ấy bác cắt cho tôi mấy cái hả bác?"

"Hai cái. Cắt xong tôi đưa chị thử ngay tại chỗ."

"Vâng, tôi thử ngay ở cổng."

"Chị thử mấy lần?"

"Tôi thử một lần, tra vào là mở."

"Không. Chị thử hai lần."

Chị ấy nghĩ một lúc.

"Ừ đúng rồi bác ạ. Cái thứ hai lúc đầu nó kẹt, bác mài lại cho tôi."

"Vâng. Tôi mài lại."

Cậu Nghiễm quay phắt sang.

"Kẹt là kẹt thế nào? Ông cắt sai à?"

"Phôi mới nó có gờ. Tôi mài gờ đi thì nó trơn."

"Nghe hay nhỉ. Ông cắt sai rồi ông sửa, thế thì ông cắt bao nhiêu cái ông cũng bảo là sửa."

Tôi để cái giũa xuống hòm phôi.

Chuyện một cái chìa khoá thì nó thế này.

Phôi chìa là một miếng đồng thau dập sẵn, mặt còn phẳng lì, chưa có rãnh nào.

Cắt là cho lưỡi phay ăn vào theo dáng cái chìa mẫu, ăn tới đâu thì mạt đồng bay ra tới đó.

Chỗ lưỡi phay vừa rời khỏi miếng đồng thì mép rãnh bao giờ cũng còn một cái gờ mỏng, sắc, gọi là bavia.

Chìa mới cắt mà chưa gạt gờ ấy đi thì tra vào ổ nó cào lên lòng ổ, dùng vài lần là ổ có vết.

Mười bảy năm tôi gạt cái gờ ấy bằng đầu ngón cái, gạt trước khi đưa cho khách, không cần nhìn.

"Cậu Nghiễm."

"Gì ông?"

"Cái ổ khoá phòng bốn lẻ hai bây giờ ở đâu?"

"Vẫn ở trên cửa chứ ở đâu."

"Cậu tháo nó xuống được không?"

"Tháo làm gì? Tháo rồi lấy gì khoá?"

"Thì cậu cứ tháo. Tôi không động vào."

"Ông không động vào thì ai tháo?"

"Cậu tháo. Hoặc cháu cậu tháo."

Cậu Nghiễm lại bấm máy lần nữa, dặn dò dăm ba tiếng rồi bỏ vào túi áo.

Cậu cháu xuống tới nơi khoảng chín rưỡi, tên Vọng, hai mươi chín tuổi, áo có thêu tên cửa hàng ở ngực.

Cậu ấy xách một cái vali đồ nghề, mở ra là cả một khay dụng cụ xếp thẳng hàng.

"Chú bảo cháu xuống có việc gì?"

"Ông này đòi tháo ổ khoá xuống."

Cậu Vọng nhìn tôi, nhìn cái hòm phôi, rồi nhìn cái máy cắt đã rút phích.

"Bác cứ để cháu làm. Nghề này bây giờ nó khác rồi bác ạ."

"Khác thế nào cậu?"

"Chúng cháu có mã số, có phần mềm, có bảo hành ba năm."

"Ba thứ ấy tôi chịu, đúng là không có."

"Thế bác lấy gì bác cãi?"

"Tôi có cái ổ khoá."

Chị Rẫm đứng lên khỏi ghế.

"Các anh ơi, hay là thôi. Mất thì tôi chịu, đừng làm to chuyện của bác Chản."

"Câu ấy chị rút lại cho tôi."

"Tôi già rồi bác ơi, tôi không muốn phiền ai."

"Bốn mươi tư thì già nỗi gì hả chị."

"Nhưng tại cái phòng nhà tôi mà bác mang tiếng."

"Tiếng tăm của tôi thì để đấy, ai muốn đồn gì thì đồn. Chỗ tiền con chị nhập học mới là cái tôi không để đấy được."

Cậu Nghiễm chen vào giữa hai chúng tôi.

"Chị Rẫm, chị đừng để ông ấy dắt."

"Cậu ạ, tôi đang bị mấy người dắt, tôi tự đi một đoạn."

Cửa phòng bốn lẻ hai còn khép hờ, khung nhôm, tay nắm tròn, một ổ khoá ngoài bắt vào cánh.

"Cậu Vọng, cậu là thợ, cậu nói trước cho anh em nghe cái đã."

"Bác hỏi gì cháu nói nấy."

"Cửa này có dấu cạy không?"

"Không ạ. Khung nhôm không móp, chốt không cong."

"Vậy người ta vào bằng gì?"

"Bằng chìa. Chỉ có chìa mới mở mà không để lại gì."

"Cậu nói to lên cho chị Rẫm nghe."

"Bằng chìa ạ."

"Vâng. Tôi ghi nhận là cậu nói bằng chìa."

Cậu Nghiễm gật đầu, tay khoanh trước ngực.

"Đấy. Cháu tôi nó nói rồi đấy ông."

"Cậu Vọng, cậu tháo hộ tôi cái ổ ấy xuống."

"Cháu tháo, nhưng tháo rồi bác định làm gì?"

"Tôi định nhờ cậu đếm hộ tôi mấy thứ."

Cậu ấy lấy tua vít trong khay, vặn hai con vít giữ ổ, đỡ cái ổ khoá xuống lòng bàn tay.

Cái ổ nằm trong tay cậu ấy, mặt trước xước nhẹ, lỗ tra chìa hơi bóng.

"Đây bác. Ổ còn nguyên, không cạy, không bẻ."

"Cậu lật mặt sau tờ giấy bảo hành trong khay ra, trải xuống chiếu."

"Rồi sao ạ?"

"Rồi cậu cầm cái ổ, lỗ tra chìa quay xuống, gõ nhẹ vào mu bàn tay mươi cái."

"Trong ấy làm gì có gì mà dốc."

"Thì cậu cứ gõ."

Cậu ấy gõ, mấy cái đầu không có gì, rồi tới cái thứ năm thứ sáu thì trên mặt giấy trắng hiện ra một vụn nhỏ.

Gõ tiếp một lúc thì vụn thành một nhúm, xám, li ti như hạt bụi nhưng không bay.

"Ơ."

"Cậu đếm hộ tôi cái nhúm ấy nó nhiều hay ít."

"Nhiều đấy chứ bác. Bằng cái đầu tăm."

"Chị Rẫm, chị lấy hộ tôi cái kẹp tóc trên bàn kia."

Chị Rẫm đưa tôi cái kẹp tăm bằng thép, tôi đưa lại cho cậu Vọng.

"Cậu Nghiễm, cậu ra đây cầm cái này."

"Ông định làm trò gì?"

"Cậu cầm nó rê là là trên nhúm mạt kia, cách chừng một đốt tay."

"Kẹp tóc thì hút được cái gì."

"Kẹp tóc thì không. Cái nam châm trong hòm đồ cháu cậu thì có."

Cậu Vọng lấy trong khay ra một cây nam châm nhỏ đầu bọc cao su, loại vẫn dùng để hút vít rơi.

Cậu ấy chưa đưa cho chú cậu ấy ngay, cậu ấy cầm trong tay một lúc.

"Cậu Vọng, cậu đưa cho cậu ấy đi."

"Sao lại phải là chú cháu cầm ạ?"

"Vì cậu Nghiễm là người sáng nay nói trước mặt hàng bún là tôi đánh thêm chìa."

Cậu Nghiễm giật cây nam châm, rê ngang trên tờ giấy.

Cái nhúm mạt trên giấy dựng lên, chạy theo, bám lên đầu nam châm thành một túm lông xám.

"Cậu giơ lên cho chị Rẫm nhìn."

"Thì mạt sắt. Mạt sắt thì sao?"

"Cậu Vọng, cậu nói hộ tôi cái phôi chìa nó bằng gì."

"Đồng thau ạ."

"Đồng thau có hút nam châm không?"

"Không ạ."

"Cậu nói to lên."

"Không hút ạ."

Trong phòng không ai nói câu nào.

Chị Rẫm ngồi thụp xuống mép chiếu, nhìn cái túm mạt trên đầu cây nam châm.

"Bác Chản ơi, thế nghĩa là sao hả bác?"

"Nghĩa là trong lòng cái ổ nhà chị có mạt sắt."

"Mạt sắt ở đâu ra ạ?"

"Chưa biết. Tôi mới nghi."

"Bác nghi gì ạ?"

"Chị cứ để tôi hỏi cậu Vọng thêm mấy câu, xong tôi mới dám nói chắc."

Cậu Nghiễm đặt cây nam châm xuống, giọng cậu ấy đã khác một chút.

"Ông hỏi đi."

"Trong ổ khoá này có mấy lá bi?"

"Năm ạ."

"Cậu đẩy lõi ổ ra, đếm hộ tôi cho chắc."

Cậu ấy lấy một cái que thép mảnh, đút vào đuôi ổ, đẩy cái lõi trượt ra khỏi vỏ.

Năm cái lá bi rơi xuống lòng bàn tay cậu ấy, nhỏ như hạt gạo cắt đôi.

"Đủ năm bác ạ."

"Cậu cầm từng cái lên soi cái chân nó."

"Chân nó thì tròn."

"Cả năm cái đều tròn à?"

Cậu Vọng soi lâu hơn, xoay nghiêng cho ăn sáng cửa sổ.

"Không ạ. Ba cái tròn. Hai cái bẹt một bên."

"Bẹt là bẹt thế nào?"

"Như bị miết. Sáng hơn chỗ còn lại."

"Cậu nói to lên."

"Hai cái bị miết bẹt ạ."

Tôi ngồi xuống mép chiếu cho ngang tầm chị Rẫm, vì đứng cao quá thì nói chuyện nó khó.

"Cậu Vọng, chìa đồng thau miết vào bi thép thì cái nào mòn trước?"

"Chìa mòn trước ạ. Đồng mềm hơn thép."

"Vậy cái gì miết bẹt được bi thép?"

Cậu ấy im.

"Cậu trả lời được thì cậu trả lời. Không thì thôi."

"Que thép ạ."

"Que thép thì để làm gì trong ổ khoá?"

"Để câu. Người ta gọi là bẻ khoá bằng móc."

Cậu Nghiễm bước lên nửa bước.

"Vọng, mày nói vừa thôi."

"Chú hỏi thì cháu nói."

"Mày nói thế thì hoá ra không phải chìa."

"Cháu chỉ nói cái bi nó bẹt ạ."

Tôi cầm cái lõi ổ lên, xoay ra ánh sáng, rồi tôi đặt xuống chiếu chứ tôi không soi.

"Cậu Nghiễm, còn một chỗ nữa, chỗ này cậu tự sờ."

"Sờ cái gì?"

"Cậu đưa ngón út vào lỗ tra chìa, đẩy vào chừng đốt rưỡi."

"Rồi sao?"

"Rồi cậu rút ra, xem đầu ngón tay cậu có gì."

Cậu ấy làm thật, rút ra, nhìn đầu ngón út.

"Đen."

"Đen là cái gì?"

"Là bẩn chứ là gì."

"Cậu chùi vào tờ giấy trắng kia hộ tôi."

Cậu ấy chùi, trên giấy để lại một vệt đen bóng, không phải bụi.

"Cậu Vọng, cái đen ấy là gì?"

"Là dầu mỡ ạ."

"Loại nào?"

"Loại người ta xịt cho ổ trơn. Mỡ đặc."

"Ổ nhà chị Rẫm lắp lúc nào?"

Cậu Nghiễm đáp thay, giọng gọn.

"Ổ toà nhà lắp một loạt, cách đây bốn năm."

"Bốn năm mà lòng ổ còn mỡ đặc chưa khô à?"

Không ai đáp câu ấy.

Tôi đứng lên, phủi hai đầu gối.

"Chị Rẫm, tôi trả lời chị được rồi."

"Bác nói đi bác."

"Đêm qua có người mở cửa nhà chị, nhưng không phải bằng chìa."

"Thế bằng gì hả bác?"

"Bằng que móc. Móc xong thì ổ rít, nên người ta xịt mỡ vào cho nó trơn lại như cũ."

"Sao bác biết người ta xịt sau ạ?"

"Vì mỡ ấy trộn với mạt sắt, mà mạt sắt là do que thép miết ra. Có que trước thì mới có mạt."

Cậu Nghiễm quay đi một bước, rồi cậu ấy quay lại.

"Ông nói thế thì ai cũng nói được."

"Cậu nói đúng. Nên tôi không nói. Cậu vừa dốc, cậu vừa hút, cậu vừa sờ."

"..."

"Còn cháu cậu vừa đếm hộ hai cái bi bẹt."

Cậu Vọng đứng ở cửa buồng, tay vẫn cầm năm cái lá bi.

"Chú ơi, chú nghe cháu nói một câu."

"Mày im."

"Cháu không im được ạ."

"Tao bảo mày im."

"Tháng trước chú bảo cháu thay hết ổ khoá cả toà, cháu báo giá tám mươi mốt phòng."

Trong phòng bỗng nghe rõ tiếng quạt trần nhà bên.

"Chú bảo chủ đầu tư không duyệt vì đang có ông thợ ngoài cổng cắt chìa rẻ, người ta quen rồi."

Chị Rẫm ngẩng lên.

"Cậu Nghiễm, cậu định thay khoá cả toà à?"

Cậu Nghiễm không nhìn chị ấy, cậu ấy nhìn cái ổ khoá nằm trên chiếu.

"Chị nghe nó nói nửa vời rồi chị hiểu sai."

"Thế cậu nói cho đủ đi."

"Toà này bốn năm chưa thay khoá lần nào. Tôi là người ký cam kết an ninh với chủ đầu tư."

"Rồi sao ạ?"

"Mất một phòng thì tôi đền. Mất hai phòng thì tôi mất việc."

"Thế nên sáng nay cậu ra cổng cậu nói bác Chản?"

"Tôi nói cái tôi thấy. Cửa không phá thì tôi nghĩ tới chìa."

"Cậu nghĩ tới chìa, cậu nghĩ luôn tới người nghèo nhất ngoài cổng."

Câu ấy chị Rẫm nói, và tôi không nghĩ chị ấy nói được câu ấy.

Cậu Nghiễm ngồi xuống cái ghế nhựa trong phòng, hai tay xoa lên mặt.

"Tôi không định vu cho ông ấy."

"Cậu định gì?"

"Tôi định có một cái cớ để trình lên trên rằng khoá cũ không an toàn."

"Cái cớ ấy là tôi."

"Vâng."

Cậu ấy nói đúng một tiếng ấy, rồi cậu ấy không nói thêm.

Tôi ngồi xuống cái ghế nhựa còn lại, đối diện cậu ấy, cách chừng một sải tay.

"Cậu Nghiễm, tôi hỏi cậu ba câu, cậu trả lời rồi tôi về."

"Ông hỏi."

"Sáng nay cậu nói tôi đánh thêm chìa, cậu nói ở đâu?"

"Ngoài cổng."

"Trước mặt mấy người?"

"Hàng bún có bốn năm người. Với mấy chị đi chợ."

"Vâng. Câu thứ hai. Cậu vào phòng này lúc mấy giờ?"

"Bảy giờ."

"Cậu vào một mình?"

"Tôi vào trước, chị Rẫm vào sau."

"Cậu có sờ vào ổ khoá lúc ấy không?"

"Có. Tôi vặn thử xem có kẹt không."

"Có kẹt không?"

"Không. Trơn."

"Vâng. Cậu vặn thấy trơn lúc bảy giờ, mà mỡ trong ổ đến giờ vẫn chưa khô."

Cậu Nghiễm ngẩng lên nhìn tôi.

"Ông đừng nói nữa."

"Câu thứ ba, rồi tôi thôi."

"Ông hỏi."

"Từ bảy giờ tới lúc cậu ra cổng gặp tôi, cậu có gọi cho ai không?"

"Tôi gọi cho cháu tôi."

"Cậu bảo cháu cậu cái gì?"

"Tôi bảo nó xuống xem cửa."

"Cậu Vọng, chú cậu bảo cậu thế thật à?"

Cậu Vọng nhìn xuống năm cái lá bi trong lòng bàn tay.

"Chú cháu bảo cháu chuẩn bị sẵn báo giá tám mươi mốt bộ ạ."

Cậu Nghiễm đứng bật dậy khỏi ghế, rồi cậu ấy lại ngồi xuống.

Chị Rẫm không nói gì, chị ấy chỉ kéo cái chiếu cho phẳng lại, kéo hai ba lần.

"Bác Chản ơi."

"Chị nói."

"Thế tiền của tôi thì sao hả bác?"

"Tiền của chị thì tôi không tìm lại được, chị ạ."

"Tôi biết rồi."

"Tôi chỉ tìm được cái đường người ta vào."

"Cái đường ấy có ích gì cho tôi không bác?"

"Có. Từ nay chị khoá thêm một cái chốt trong, loại chốt gạt, người ngoài móc không tới."

"Bao nhiêu hả bác?"

"Không bao nhiêu cả. Tôi lắp."

Cậu Nghiễm ngồi im một lúc lâu, rồi cậu ấy đứng lên, và cậu ấy làm một việc tôi không nghĩ cậu ấy làm.

Cậu ấy cúi người xuống ngang tầm chỗ chị Rẫm ngồi.

"Chị Rẫm, tôi xin lỗi chị."

"Cậu xin lỗi tôi làm gì."

"Tôi mở cửa phòng chị lúc bảy giờ, tôi thấy ổ trơn, mà tôi đi ra cổng tôi nói chuyện khác."

"Vâng."

"Ba chỉ vàng với hai chục triệu của chị, tôi không đền được hết. Tôi trả dần."

"Tôi không đòi cậu."

"Chị không đòi thì tôi vẫn trả."

Rồi cậu ấy quay sang tôi.

"Bác Chản, cháu xin lỗi bác."

"Câu ấy cậu nói khẽ quá, tôi nghe không rõ."

"Cháu xin lỗi bác ạ."

"Phạt cậu thì tôi không có quyền, tha cho cậu thì tôi cũng chẳng đủ tư cách. Có mỗi điều này tôi muốn gửi cậu."

"Bác cứ nói."

"Cửa không hề bị phá, đúng. Con mắt cậu hôm nay không sai chỗ ấy."

"..."

"Sai là ở chỗ dừng lại. Nhìn được đúng một nước rồi hạ án luôn, thì cậu mới trông coi được mấy bức tường, còn mấy con người trong đó cậu chưa che nổi."

"Vâng ạ."

"Năm lá bi nằm trong lòng ổ, một nhúm mạt sắt nằm dưới đáy ổ. Hai thứ ấy cậu bước qua tuốt."

"Vâng ạ."

"Bước qua được là vì cậu ngó cái ghế xếp ngoài cổng trước, tới lượt cái ổ khoá thì cậu hết muốn ngó."

Tôi cầm cái ổ khoá đặt vào tay cậu Vọng, rồi tôi ra cửa.

Chúng tôi xuống bằng cầu thang bộ, đi hàng một, không ai nói gì.

Xuống tới sảnh thì cậu Vọng đi chậm lại, đợi tôi.

"Bác cho cháu thưa một chuyện được không ạ."

"Cậu hỏi."

"Cháu cũng cầm cái ổ ấy từ sáng. Cháu soi cả nửa tiếng."

"Ừ."

"Sao cháu không thấy mạt ạ?"

"Vì cậu soi cái mặt ngoài, cậu tìm vết cạy."

"..."

"Cái mạt nó nằm trong bụng ổ, muốn thấy thì phải dốc ngược nó xuống."

"Cháu chưa dốc bao giờ ạ."

"Cậu có máy, có phần mềm, có bảo hành ba năm. Cậu không phải dốc."

"Bác nói câu ấy nghe nặng quá ạ."

"Tôi không có ý nặng. Tôi ngồi hè, tôi không có gì để tin ngoài cái tôi cầm được trong tay."

Chị Rẫm chiều ấy có xuống, đứng ngoài tấm bạt một lúc rồi mới nói.

"Bác Chản, cậu ấy đưa tôi năm triệu."

"Chị cầm chứ?"

"Tôi cầm. Con tôi phải nhập học."

"Chị cầm là đúng."

"Nhưng tôi hỏi cậu ấy một câu."

"Chị hỏi gì?"

"Tôi hỏi số còn lại cậu ấy trả tôi hay trả bác."

"Chị hỏi thế thì cậu ấy nói sao?"

"Cậu ấy im."

Tuần sau tôi mang chốt gạt sang phòng chị ấy, làm vào giữa trưa, bốn con vít vặn tới lúc thấy chặt tay thì nới ngược ra tí ti, kẻo ren nó ăn thủng thớ gỗ.

Cái chốt ấy tôi lấy trong hòm phôi ra, hàng tôi để dành từ năm ngoái, định lắp cho nhà tôi.

Riêng chỗ tôi, từ tháng ấy trở đi thưa khách trông thấy.

Cái tin lan ra ngoài chợ chỉ có nửa trên — lão thợ ngồi cổng cắt chìa dự phòng cho trộm mò vào phòng người ta — còn nửa dưới thì chẳng ai buồn nghe tới.

Bốn nhà trong ngõ, năm nào tới mùa cũng réo tôi sang thay khoá cửa buồng, riêng năm ấy im lìm.

Tiệm tạp hoá đầu ngõ vốn quen đẩy khách sang chỗ tôi cắt chìa, giờ họ ngừng.

Chỗ tôi làm ăn có mỗi tấm bạt với gốc cây, lấy đâu ra cái biển để mà treo lẽ phải lên cho thiên hạ đọc.

Chủ đầu tư có duyệt cho thay khoá cả toà thật, nhưng không thay của cậu Vọng.

Họ gọi một công ty ngoài phố lớn, tám mươi mốt bộ, có hợp đồng, có dấu đỏ.

Có hôm cậu Nghiễm đi ngang cổng, cậu ấy dừng lại bên tấm bạt của tôi.

"Bác Chản."

"Cậu Nghiễm."

"Cháu trả chị Rẫm được mười hai triệu rồi ạ."

"Cậu trả chị ấy, cậu không phải báo tôi."

"Cháu biết. Nhưng cháu muốn nói với bác một câu."

"Cậu nói."

"Hôm ấy nếu bác không bắt cháu tự dốc cái ổ, cháu vẫn tin là cháu đúng."

"Vâng."

"Sao bác không tự dốc rồi chỉ cho cháu ạ?"

"Vì tôi dốc thì nó là lời tôi. Cậu dốc thì nó là cái cậu thấy."

Cậu ấy nán lại bên tấm bạt thêm một đoạn nữa mới chịu bước đi.

Có bận ra chợ tôi chạm mặt bà bán bún, bà ấy tươi rói kéo tay tôi lại.

"Kể ra bác lãi to. Chẳng tốn một xu, mà thằng ấy phải khom lưng nhận lỗi ngay trong phòng người ta."

"Vâng."

"Thế bác không mừng hả?"

"Mừng thì tôi chưa mừng được bà ạ."

"Rõ lạ, bác thiệt cái gì đâu mà rầu?"

Tôi im, bởi câu trả lời dài, mà chỗ chúng tôi đứng thì người qua kẻ lại.

Buổi sáng ấy tôi giữ được năm lá bi với một nhúm mạt sắt.

Buổi sáng ấy bốn nhà trong ngõ với cái tiệm tạp hoá đầu ngõ rời khỏi tay tôi, những mối ấy mười bảy năm trời tôi mới góp đủ, mỗi năm thêm được một.

Tôi vẫn ngồi cái ghế xếp ấy, vẫn cắt chìa hai chục nghìn một cái, vẫn gạt cái gờ bavia bằng đầu ngón cái trước khi đưa cho khách.

Chỉ có điều bây giờ cắt xong, tôi hay đưa cả cái phôi thừa cho người ta cầm về.

Không để làm gì cả.

Để hôm nào có ai hỏi, thì người ta còn cái để cầm trong tay, chứ không phải chỉ có lời tôi nói.

Chia sẻ:FacebookXThreadsTelegram
Thấy lỗi trong bài? Báo cho ban biên tập

Đọc tiếp

Sáu năm em gửi tiền về xây nhà, nhờ anh ruột đứng tên hộ, ngày em về anh nói giữa đám giỗ: "Tin người thì tự chịu" — em xin bóc bốn viên gạch chân tường
Truyện

Sáu năm em gửi tiền về xây nhà, nhờ anh ruột đứng tên hộ, ngày em về anh nói giữa đám giỗ: "Tin người thì tự chịu" — em xin bóc bốn viên gạch chân tường

Sáu năm tôi ngủ trên hai tấm ván kê lên bốn viên gạch bờ lô trong cái lán tôn, ăn cơm hộp mười lăm nghìn để dành năm nghìn, quỳ lát nền tới mức mất gần hết vân tay. Tháng nào tôi cũng gửi tiền về cho anh chị xây cái nhà ngoài mảnh vườn nhà mình, và năm thứ tư tôi còn xin nghỉ mười tám ngày về tự tay làm phần hoàn thiện. Ngày tôi về hẳn, anh tôi nói giấy tờ đã đứng tên anh chị, và bảo tôi tin người thì tự chịu. Anh tôi có công thật, sáu năm trông nom và lo mẹ ốm, cả họ đều biết. Hôm giỗ ông nội, trước ba chục người, tôi không cãi câu nào. Tôi chỉ xin bóc bốn viên gạch chân tường, và tôi nói trước cái nằm sau nó trước khi ai cầm đục.

· 22 phút đọc
Nhà ruột sang vu con bé tôi nuôi ăn cắp bao gạo hai mươi cân, bắt tôi dẫn nó về trả nợ — tôi xách cái đấu gỗ sang, bảo ông tự đong lấy
Truyện

Nhà ruột sang vu con bé tôi nuôi ăn cắp bao gạo hai mươi cân, bắt tôi dẫn nó về trả nợ — tôi xách cái đấu gỗ sang, bảo ông tự đong lấy

Hôm ấy trời rét, nước giếng đóng váng, con bé bảy tuổi ngồi giặt một chậu quần áo cao hơn đầu nó, mười đầu ngón nứt ra rịn máu mà nó vẫn vò, không kêu. Tôi đong gạo thuê ngoài chợ xép, nhà đã bốn con, vẫn dắt nó về nuôi. Một năm hai tháng sau, bố đẻ nó sang giữa sân nhà tôi, gọi nó là con ăn cắp trước mặt hai chục người, bảo nhà ông mất một bao gạo hai mươi cân. Nhà ông mất gạo thật, và ông có lý do để nghĩ tới nó. Đêm trước con bé đã kể tôi nghe một giấc mơ, mà chính tôi cũng gạt đi. Tôi không cãi câu nào, chỉ lấy cái đấu gỗ dùng hai mươi năm, đi bộ sang xóm Trại và mở nắp cái chum sành nhà ông ấy ra.

· 22 phút đọc
Cậu chủ vựa chặn giữa chợ bảo giò nhà tôi độn bột, và tôi xin cậu ấy cho tôi cắt một khoanh trước mặt cả chợ
Truyện

Cậu chủ vựa chặn giữa chợ bảo giò nhà tôi độn bột, và tôi xin cậu ấy cho tôi cắt một khoanh trước mặt cả chợ

Tôi tên Thoà, năm mươi ba tuổi, làm giò lụa trong cái bếp sau nhà từ năm hai mươi lăm. Hai giờ sáng nhóm bếp, ba giờ thịt về còn nóng tay, năm giờ vào lá, bảy giờ vớt, hai mươi tám năm chưa đổi giờ nào. Vựa thực phẩm to nhất khu chợ lấy giò của tôi sáu năm, mỗi sáng bốn chục cây, dán nhãn giấy đỏ rồi rải đi các cửa hàng. Cho tới cái sáng cậu con bà chủ vựa chặn tôi ngay đầu sạp, nói giữa chợ đông rằng nhà tôi lấy bột pha vào giò, bắt tôi ký giấy nhận lỗi. Trước đó cậu ấy đã trừ lương hai tháng của người đàn bà làm thuê ở kho, chồng bỏ đi, nuôi con gái vừa vào lớp sáu. Tôi chỉ xin cậu ấy một việc: cho tôi cắt một khoanh. Mặt cắt của khoanh giò nó khai ra hết cách người ta làm, và hai mươi tám năm cầm dao thì nhìn một nhát là biết.

· 16 phút đọc