
Nhà ruột sang vu con bé tôi nuôi ăn cắp bao gạo hai mươi cân, bắt tôi dẫn nó về trả nợ — tôi xách cái đấu gỗ sang, bảo ông tự đong lấy
Hôm ấy trời rét, nước giếng đóng váng, con bé ngồi giặt một chậu quần áo cao hơn đầu nó.
Con bé kê một viên gạch vỡ dưới chân, đứng lên đấy mới với được tới miệng chậu.
Chậu là cái chậu thau to, thứ chậu người lớn ngồi bệt xuống mới vừa tầm.
Mặt nước trong chậu đóng một lớp váng mỏng, mỏng như cái vỏ trứng luộc bóc dở.
Nó lấy mu bàn tay khoả một vòng cho váng vỡ ra, rồi mới thò cả hai tay vào.
Tôi đứng lại ở đầu hồi, chỗ khuất, và tôi nhìn hai bàn tay nó.
Mười đầu ngón nứt ra, máu rịn thành vệt nâu, nó cứ vò, không kêu.
Nó không vò bằng đầu ngón, nó vò bằng gốc bàn tay, dồn cả cổ tay xuống mà miết.
Miếng xà phòng bánh gặp nước lạnh thì không chịu tan, chỉ trơ ra trắng bệch.
Nó chà thẳng miếng xà phòng lên vải, chà đi chà lại một chỗ đến khi vải sờn ra.
Rồi nó úp miếng xà phòng vào lòng bàn tay, áp một lúc cho ấm, rồi mới chà tiếp.
Có người đi qua ngõ, nó rụt cả hai tay xuống dưới mặt nước, giấu đi.
"Nhài, mày làm gì đấy?"
"Cháu rửa tay ạ."
Người kia đi khuất thì nó mới đưa tay lên, tiếp tục.
Trên người nó là cái áo cánh nâu, cộc tay, vá ba miếng ở lưng.
Trong chậu là quần áo người lớn, có cái áo bông, có mấy cái quần dài đàn ông, ướt sũng, nặng hơn nó.
Nó không nhấc nổi cái áo bông lên, nó phải lôi lết áo ấy qua vành chậu, kéo bằng cả hai tay và một bên vai.
Cái áo bông ra khỏi nước thì nước chảy ròng ròng xuống chân nó, chân trần, trên nền gạch có rêu.
"Áo này của ai thế cháu?"
"Của bố cháu ạ."
"Nặng thế cháu giặt sao nổi?"
"Cháu giặt hai lần ạ. Lần đầu cháu giặt nửa cái, lần sau cháu giặt nửa còn lại."
Rồi có người trong nhà đi ra, tay cầm cái ca nước, hắt toẹt xuống sân, cách chỗ con bé chừng hai bước.
"Giặt xong chưa mà ngồi đấy?"
"Cháu sắp xong ạ."
"Xong thì vào, đứng ngoài rét chết bây giờ."
Người ấy nói câu ấy rồi quay vào, đóng bớt cửa lại cho đỡ gió.
Không ai quát nó, cũng không ai bảo nó nghỉ tay.
Người ta bảo nó rét chết bây giờ, rồi người ta đóng cửa lại.
Tôi đứng đó, đứng lâu hơn tôi định.
Tôi bốn mươi bảy tuổi, làm nghề đong gạo thuê, nhìn cái chậu ấy là tôi biết nó nặng bao nhiêu.
Tôi nhìn hai cổ tay con bé, tôi biết hai cổ tay ấy gánh được bao nhiêu.
Hai con số ấy nó không khớp nhau, mà không khớp thì tôi đứng đấy tôi không đi được.
Tôi bước vào sân.
"Cháu ơi."
"Dạ."
"Để bác vắt hộ cho."
"Thôi ạ, bác đừng."
"Sao lại đừng?"
"Bác vắt hộ, lát người ta biết, lại bảo cháu lười ạ."
"Cháu mấy tuổi?"
"Cháu bảy ạ."
"Bảy tuổi giặt cả chậu này à?"
"Dạ."
"Cháu giặt từ lúc nào?"
"Từ lúc gà gáy lần hai ạ."
"Sao cháu không đợi nắng lên cho ấm?"
"Nắng lên thì cháu phải đi cắt cỏ ạ."
"Tay cháu thế kia có xót không?"
"Xót lúc đầu thôi ạ. Lát nó tê đi là hết."
Câu ấy tôi nghe xong thì tôi phải quay mặt đi một lúc.
"Trưa cháu ăn gì chưa?"
"Cháu ăn rồi ạ."
"Ăn gì?"
Nó không trả lời.
Nó liếc ra đống rơm cạnh chuồng lợn, chỗ có mấy miếng khoai sượng người ta vứt ra.
"Cháu giặt xong chậu này thì được ăn cơm à?"
"Giặt xong cháu phơi. Phơi xong cháu quét sân ạ."
"Rồi mới ăn?"
"Rồi ai còn thì cháu ăn ạ."
Ai còn thì cháu ăn.
Tôi vào nhà nó, hỏi thẳng.
"Bác Bân, con bé này bác cho tôi nuôi."
"Bà điên à? Nhà bà bốn đứa rồi."
"Bốn hay năm thì cũng chừng ấy lượt nồi."
"Bà nuôi được thì bà nuôi. Con gái, sống được là may rồi."
"Các người không cần nó thì tôi cần."
Tôi ra sân, tôi đổ cái chậu ấy đi, đổ hết.
"Cháu về với bác."
"Còn chậu quần áo ạ?"
"Kệ nó."
"Nhưng mà chưa vắt ạ."
"Kệ nó, cháu ạ."
Tôi dắt nó về, tay nó lạnh, nứt nẻ, nằm gọn trong lòng bàn tay chai của tôi.
Đi hết cái đê thì nó mới rút tay ra một tí.
"Bác ơi."
"Gì cháu?"
"Tay cháu bẩn, cháu sợ bẩn tay bác."
Về tới bếp tôi nấu một nồi cháo trắng, bỏ vào đấy một nhúm muối.
"Cháu ăn đi."
"Cháu ăn cả bát này ạ?"
"Ừ."
"Cả bát ạ?"
"Cả bát."
Nó bưng bát cháo bằng hai tay, húp một hơi, rồi nó ngẩng lên nhìn tôi.
"Bát cơm này con nhớ cả đời."
"Cháo chứ có phải cơm đâu."
"Con vẫn nhớ ạ."
Đêm ấy tôi lấy dầu hoả pha nước ấm, ngâm hai bàn tay nó, rồi bôi mỡ trăn vào từng kẽ nứt.
Nó ngồi im cho tôi bôi, không rụt tay lần nào.
"Con có đau không?"
"Con quen rồi ạ."
"Từ nay con đừng nói câu quen rồi nữa."
"Sao ạ?"
"Vì cái gì đau thì con phải kêu, người ta mới biết mà thôi."
"Ở nhà cháu kêu thì người ta bảo cháu õng ẹo ạ."
"Ở đây con kêu thì bác nghe."
Nó gật, rồi ba hôm sau nó lại nói câu quen rồi, vì có những cái người ta phải mất mấy năm mới bỏ được.
Đấy là đầu mùa rét năm ngoái.
Một năm hai tháng sau, cái câu sống được là may rồi ấy quay lại, không lệch một chữ, ngay giữa sân nhà tôi.
"Nuôi thân chưa xong còn rước con nhà người ta về, giờ nó ăn cắp gạo thì bà nuốt đi đâu?"
"Bác nói lại câu ấy cho tôi nghe."
"Tôi nói nhà tôi mất một bao gạo, và con Nhài lấy."
"Bao gạo bao nhiêu cân?"
"Hai mươi cân."
"Mất hôm nào?"
"Đêm kia."
Nhà tôi có bốn đứa con và một cái chum sành đựng gạo đặt ở góc bếp.
Con bé Nhài là đứa thứ năm, tám tuổi, tôi đón về từ đầu mùa rét năm ngoái.
Người đang đứng chống nạnh giữa sân nhà tôi tên Bân, bố đẻ nó, nhà bên xóm Trại.
Sáng hôm ấy là sáng chủ nhật, ngoài ngõ có chừng hai chục người đứng xem.
"Bà đừng có hỏi vòng vo. Con bé ấy tay đã quen rồi."
"Quen từ bao giờ hả bác?"
"Từ hồi ở nhà tôi. Nó vẫn bốc trộm cơm nguội."
"Cơm nguội bác để đâu?"
"Ngoài rổ, sau bếp."
"Bác để cơm nguội ngoài rổ, rồi bác gọi là bốc trộm."
"Bà xoay chữ giỏi lắm."
"Bác thấy nó lấy bao gạo à?"
"Không thấy."
"Vâng."
"Nhưng chiều hôm ấy nó có sang nhà tôi."
Chiều thứ sáu con bé có sang xóm Trại thật, tôi biết, vì chính tôi bảo nó sang.
Bà nội nó ốm, tôi bảo nó mang sang nửa cân đường.
"Nó sang nhà tôi lúc bốn giờ. Sáng hôm sau bao gạo không còn."
"Chỉ có thế thôi hả bác?"
"Thế là đủ. Máu nhà tôi tôi biết."
"Máu gì hả bác?"
"Máu tham. Con gái mà, sống được là may rồi, ai dạy được nó."
"Bà gọi nó ra đây."
"Bác gọi nó ra để làm gì?"
"Để nó nhận trước mặt bà con."
"Nó chưa làm thì nó nhận cái gì."
"Chưa làm thì càng phải ra."
Con bé ra thật, đứng nép ở bậc cửa, tay còn cầm cái rá vo gạo.
Nó nhìn tôi, và cái nhìn ấy tôi thấy trước rồi.
Vì đêm thứ bảy nó đã kể tôi nghe, mà tôi gạt đi.
Đêm ấy nó dậy lúc gần sáng, sang chỗ tôi nằm, lay vai tôi.
"Bầm ơi."
"Gì con?"
"Con vừa mơ."
"Mơ gì?"
"Con mơ bố con sang đây."
"Sang thì sang, việc gì."
"Bố con đứng giữa sân, chỉ tay vào con."
"Rồi sao?"
"Bố con bảo con lấy gạo."
"Thôi ngủ đi."
"Bầm ơi con nói thật mà."
"Mơ thì là mơ, con ạ."
"Con mơ là nó có đấy."
"Ngủ đi. Mai còn dậy sớm."
Nó nằm xuống, nhưng nó không ngủ, tôi biết vì cái chiếu cứ động khẽ.
Hồi tháng năm nó bảo con mơ thấy thằng Tí ngã xuống ao, hôm sau thằng Tí ngã xuống ao thật, may vớt kịp.
Từ bận ấy trong xóm có người gọi nó là con ma xó.
Bọn trẻ đi học về hay đứng ngoài bờ rào réo vào.
"Ma xó! Ma xó ơi!"
Nó không cãi, nó chỉ đi vòng đường khác.
"Bầm ơi, ma xó là gì ạ?"
"Là người biết trước chuyện."
"Biết trước thì xấu hả bầm?"
"Không xấu. Người ta sợ cái người ta không hiểu thôi."
"Con thà không biết gì cho giống chúng nó."
Rồi tới cái đêm nó lay vai tôi kể giấc mơ, tôi cũng gạt nó đi như mọi người.
Cho nên sáng chủ nhật ấy, khi ông Bân chỉ tay vào giữa sân đúng như nó kể, tôi là người phải cúi mặt trước.
"Con Nhài, mày vào bếp nhà tao chiều thứ sáu không?"
"Dạ có ạ."
"Đấy. Nó nhận rồi nhé."
"Nó vào bếp là tôi bảo nó vào."
"Bà bảo?"
"Tôi bảo nó mang nửa cân đường sang cho bà cụ. Đường tôi gói giấy báo, buộc dây chun đỏ, bác vào bếp bác xem."
Ông Bân đứng khựng một nhịp.
"Thì nó mang đường sang, rồi nó vác bao gạo về."
"Bao gạo bao nhiêu cân bác vừa nói?"
"Hai mươi."
"Con bé nặng mười chín cân."
"..."
"Từ bếp nhà bác về tới ngõ nhà tôi là bao xa hả bác?"
"Cây rưỡi."
"Vâng. Cây rưỡi, đường đê, tối."
"Nó vác được. Con nhà nghèo khoẻ lắm."
"Bác Bân, nhà bác mất gạo thật chứ?"
"Bà bảo tôi bịa à?"
"Không. Tôi hỏi cho chắc."
"Mất thật. Bao gạo tôi để sau cối, mất sạch."
"Vậy thì có người lấy."
"Đấy, bà cũng công nhận."
"Tôi công nhận là mất. Còn ai lấy thì tôi chưa nói."
"Bà chưa nói thì tôi nói."
"Bác nói rồi. Bác nói từ lúc bác bước vào sân nhà tôi."
Cái làng này người ta ra ngõ lúc nào tôi không để ý, mà quay lại đã thấy đông.
Bà Riu bán hàng xáo đứng ngay cổng, hai tay ôm cái thúng không.
Ông Hoạt chủ máy xay đầu làng cũng sang, đứng chỗ gốc cau, tay đút túi áo.
Ông Hoạt là người thuê tôi đong gạo, tháng mười hai buổi, một buổi trăm rưỡi.
"Chị Chắt, chị định thế nào?"
"Tôi định sang xóm Trại một chuyến bác ạ."
Ông Bân quay phắt lại.
"Bà sang nhà tôi làm gì?"
"Bác vừa bảo nhà bác mất gạo. Tôi sang xem chỗ mất."
"Bà là cái gì mà bà xem?"
"Tôi chả là cái gì cả. Tôi chỉ đong gạo thuê hai mươi năm."
Tôi vào bếp, lấy cái đấu gỗ để trên giá, cái đấu tôi dùng từ hồi con Cả nhà tôi còn bé.
Tôi cầm thêm cái chổi lông gà và một tờ giấy trắng.
"Bác Bân đi trước, tôi theo sau."
"Bà mang cái đấu đi làm gì?"
"Để đong."
"Đong cái gì?"
"Đong cái bác bảo là mất."
Cả đoàn người kéo sang xóm Trại, đi trên đê, đi thành một hàng dài.
Tới sân nhà ông Bân thì tôi đứng lại ở cửa bếp, không bước vào vội.
Cái giếng vẫn ở đấy, cái chậu thau vẫn úp bên thành giếng.
"Bác cho tôi vào chứ?"
"Bà vào thì vào. Có gì mà tôi giấu."
"Gạo nhà bác dùng thế nào?"
"Đổ vào chum, dùng dần. Bao mới mua thì để sau cối, đấy, chỗ đấy."
"Bác mở nắp chum ra hộ tôi."
Ông Bân mở nắp.
Cái chum sành cao ngang bụng tôi, miệng rộng bằng cái mâm, trong lòng còn chừng một phần tư gạo.
"Bác nhìn cái vành trong, chỗ trên mặt gạo."
"Có cái ngấn."
"Mấy cái?"
"Hai."
"Bác đọc to lên cho bà con nghe."
"Hai cái ngấn."
Chum sành đựng gạo lâu ngày thì trên vành trong bao giờ cũng in ngấn.
Cám với bụi gạo bám lại thành vòng, gạo vơi tới đâu thì bỏ lại một vòng tới đấy.
"Hai cái ngấn ấy cách nhau bao nhiêu? Bác lấy ngón tay bác đo."
Ông ấy chần chừ, rồi ông ấy thò tay vào, đặt ngang.
"Chừng ba đốt."
"Bác cầm hộ tôi cái đấu này. Bác tự đong, tôi không đụng vào."
"Bà bày trò."
"Bác cứ đong. Đong đầy đấu thì bác đổ ra cái nong, rồi bác đếm."
"Đong tới đâu?"
"Khoan. Tôi hỏi bác một câu đã."
"Bà hỏi."
"Cái ngấn dưới là mặt gạo hôm bác vét cạn nhất, phải không bác?"
"Ừ, hôm ấy gần hết, tôi phải vét."
"Còn cái ngấn trên?"
"Ngấn trên là hồi trước nữa, hồi chum còn đầy."
"Vâng. Ngấn thì nó chỉ ăn xuống, chứ nó không tự leo lên."
"Ai chả biết."
"Vậy bác đong hộ tôi từ mặt gạo bây giờ xuống tới cái ngấn dưới."
Ông Bân đong, đổ ra nong, đếm.
Cả sân im, chỉ nghe tiếng gạo chảy vào đấu gỗ, sạt sạt.
"Bốn đấu."
"Một đấu nhà bác mấy cân?"
"Cân rưỡi."
"Bác nhân hộ tôi."
"Sáu cân."
"Bác nói to lên."
"Sáu cân!"
"Nghĩa là sau cái hôm bác vét cạn, có người đổ thêm vào chum này sáu cân gạo."
"Bà nói bậy. Từ hôm ấy nhà tôi có mua thêm bao nào đâu."
"Đấy chính là chỗ tôi hỏi bác."
"Hỏi cái gì?"
"Sáu cân gạo nằm trên cái ngấn dưới ấy, nó ở đâu ra?"
Ông Bân đứng đó, một tay còn cầm cái đấu.
"Ông Bân, thế cái bao mới ông có mở ra bao giờ chưa?"
"Chưa. Mua về để đấy."
"Chưa mở mà mất, thì nó phải đi nguyên cả bao."
"Thì nó đi nguyên cả bao chứ sao."
"Cả bao hai mươi cân, con bé mười chín cân, vác cây rưỡi đường đê."
"Bà Riu, bà đứng ngoài bà đừng chõ vào."
"Tôi bán hàng xáo ba mươi năm, tôi chõ được."
Tới đó thì tôi mới nghi, mà nghi thì tôi chưa được phép nói.
"Bác Bân, cho tôi xem chỗ bác để cái bao."
"Đấy. Sau cối."
Sau cối là một khoảng nền đất nện, sát chân tường, có vết bao còn hằn xuống đất.
Tôi ngồi xuống, quét cái chổi lông gà một đường, hót lên tờ giấy trắng.
"Bác nhìn hộ tôi trên giấy có gì."
"Có chục hạt gạo rơi."
"Bác nhặt lên, bác bóp thử."
Ông Bân bóp một hạt giữa hai đầu ngón tay.
"Nó gãy đôi."
"Gãy đôi, hay nát ra bột?"
"Gãy đôi. Khô khốc."
"Bây giờ bác xúc trên mặt chum một nhúm, bác bóp thử."
Ông ấy xúc, bóp.
"Cái này nát ra bột."
"Bác nói to lên."
"Gạo trên mặt chum nát ra bột!"
"Vâng. Gạo mới xay còn nhựa thì dẻo, bóp ra bột. Gạo để ba bốn tháng thì khô, bóp nó gãy đôi."
"Rồi sao?"
"Nghĩa là chỗ rơi vãi sau cối nhà bác là gạo cũ, không phải gạo trong cái bao mới."
"Thì bao mới tôi mua có mở đâu."
"Vâng. Bác mua bao mới hôm nào?"
"Hôm hăm tám. Cách nay mười ngày."
"Bác nhìn lại tờ giấy hộ tôi. Trong đó ngoài gạo còn gì nữa?"
Ông Bân cúi sát, xoay tờ giấy ra chỗ sáng.
"Có mấy cái vỏ trấu."
"Còn gì nữa?"
"Có... có con mọt."
"Bác nhặt nó ra, bác đặt lên lòng bàn tay."
Ông ấy làm.
"Con mọt ấy sống hay chết?"
"Nó bò."
"Bác giơ lên cho bà con xem."
Ông Bân giơ tay lên.
Hai chục người xúm lại, người đứng gần thì nhìn, người đứng xa thì hỏi vọng vào.
"Bác Bân, gạo mới xay mười ngày thì trong bao có mọt bò không?"
"..."
"Bác trả lời tôi."
"Không."
"Mọt nó nở từ trứng trong thóc, ba bốn tuần mới thành con bò được. Gạo mua mười ngày thì chưa có con nào."
"Bà nói thế nghĩa là sao?"
"Nghĩa là cái bao người ta vác đi từ sau cối nhà bác không phải bao bác mua hôm hăm tám."
"Thế nó là bao nào?"
"Nó là gạo cũ, thứ gạo nằm trong chum nhà bác từ ba bốn tháng nay."
"Gạo trong chum thì nó ra sau cối làm gì?"
"Vì có người vét chum, đứng ngay sau cối mà xúc vào bao. Xúc thì rơi."
Ông Hoạt chủ máy xay đứng ở gốc cau từ nãy, lúc ấy mới bước vào một bước.
"Chị Chắt, chị nói cho rõ ra. Chị đang nghi cái gì?"
"Bác Hoạt, tôi mới nghi thôi. Tôi nghi có người vét gạo cũ trong chum ra bán, rồi lấy gạo bao mới đổ vào cho có mặt."
"Thế cái gì chị chắc?"
"Tôi chắc ba điều thôi bác ạ."
"Chị kể ra."
"Một, sau hôm vét cạn, chum này được đổ thêm sáu cân. Cái ngấn nó nói thế, ai đong lại cũng ra thế."
"Hai?"
"Hai, gạo trên mặt chum với gạo rơi sau cối không cùng một mẻ. Bác vừa bóp hai hạt bác thấy rồi."
"Ba?"
"Ba, trong chỗ rơi sau cối có mọt bò, mà gạo mua mười ngày thì chưa kịp có mọt."
"Còn ai lấy thì sao?"
"Cái đó tôi chưa chắc. Tôi không nói."
Ông Bân đặt cái đấu xuống nền.
"Bà giỏi lắm. Bà nói vòng vo cho tôi hoa mắt."
"Bác Bân."
"Gì?"
"Từ nãy tới giờ tôi có sờ vào cái gì trong bếp bác không?"
"..."
"Bác trả lời hộ tôi."
"Không."
"Đấu là bác cầm, gạo là bác đong, hạt là bác bóp, con mọt là bác nhặt."
"Thì sao?"
"Thì cái gì tôi vừa nói, bác con bà con đứng đây làm lại được hết, không cần tôi."
Bà Riu bước vào bếp, thò tay vào chum, đong lại, đổ ra nong.
"Đúng bốn đấu xuống tới ngấn dưới. Tôi đong lại rồi đấy."
Có hai người nữa vào đong, ai đong cũng ra bốn.
Tới đó tôi mới quay ra sân, và tôi hỏi một câu mà từ sáng tôi đã muốn hỏi.
"Bác Bân, tối thứ sáu, ngoài con bé nhà tôi, còn ai vào bếp nhà bác nữa không?"
"Không ai."
"Anh Quyết nhà bác đi đâu tối ấy?"
"Nó đi ăn cỗ nhà ông chú họ, dưới xóm Cầu."
"Về lúc mấy giờ, về bằng gì?"
"Nửa đêm. Xe đạp."
"Bác ra ngoài này với tôi một tí."
Ngoài sân, từ cửa bếp ra tới cổng, nền là đất nện, hôm ấy khô ráo.
Tôi cầm cái chổi lông gà, quét dọc theo lối đi, quét từng đoạn ngắn, hót vào giấy.
Sát cửa bếp: có gạo. Giữa sân: có gạo. Ra tới cổng: có gạo.
Rẽ trái, ra hướng bờ ao: không có hạt nào.
Rẽ phải, ra hướng đường cái: gạo rơi thưa, kéo dài chừng mươi bước rồi hết.
"Bác nhìn hộ tôi cái vệt này. Nó ra cổng rồi nó rẽ phải."
"Rẽ phải thì sao?"
"Rẽ phải là ra đường cái. Còn nhà tôi ở hướng nào hả bác?"
Ông Bân không đáp, bà Riu đáp thay.
"Nhà chị Chắt đi hướng trái, ra bờ ao rồi lên đê."
"Vâng. Bên trái tôi vừa quét, không có hạt nào."
"Ông Bân, ông nghe rõ chưa?"
"Bà Riu, bà im hộ tôi."
"Tôi im. Nhưng cái vệt gạo nó không im được."
Tới đó thì tôi thôi, tôi cắm cái chổi vào bờ rào.
"Bác Bân, nhà bác mất gạo là mất thật, cái đó tôi tin bác."
"Bà tin thì bà làm gì cái mặt ấy."
"Bác thấy con bé sang nhà bác lúc bốn giờ, sáng ra bao gạo không còn, nên bác nghĩ ngay ra nó."
"Chứ còn ai."
"Cái bác thấy thì đúng. Cái bác kết luận thì vội."
"Có khác gì nhau?"
"Khác nhiều lắm bác ạ."
Lúc ấy thì anh Quyết về.
Anh ấy dắt xe đạp vào sân, thấy đông người thì đứng lại.
"Có việc gì thế bố?"
"Không có việc gì."
"Anh Quyết, tối thứ sáu anh đi đường cái hay anh đi vòng bờ ao?"
"Cháu đi đường cái."
"Anh chở cái gì sau xe không?"
Anh Quyết không trả lời.
Ông Hoạt ở gốc cau bước ra thêm hai bước.
"Quyết. Sáng thứ bảy mày chở tới máy tao một bao gạo ngả vàng, có mọt, mày bảo là gạo cũ nhà mày, nhờ tao xát lại cho trắng."
"Bác..."
"Tao xát cho mày. Rồi mày bán ngay tại cổng máy tao cho bà hàng xáo dưới bến, hai trăm tám."
Ông Bân quay sang con.
"Quyết, bố hỏi mày."
"..."
"Bao gạo bố mua hôm hăm tám đâu?"
"Con bán rồi."
"Mày bán cả bao?"
"Con vét chum bán trước. Bán xong con sợ bố mở chum ra bố biết, con xúc sáu cân trong bao mới đổ vào chum cho có mặt gạo."
"Còn mười bốn cân kia?"
"Con chở nốt đi bán hôm sau."
"Rồi mày để bố đứng giữa sân nhà người ta bốn tiếng đồng hồ?"
Anh Quyết cúi đầu, hai tay còn nắm ghi đông.
Trong sân không ai nói gì một lúc.
"Bác Bân."
"Bà nói."
"Bây giờ thì tôi chắc rồi."
"Bà chắc cái gì?"
"Chắc là con bé nhà tôi không lấy gạo nhà bác."
"..."
"Còn sáu cân trong bao mới của bác thì nó nằm ngay trong chum bác, trên cái ngấn bác vừa tự đong."
Ông Bân thò tay vào chum, xúc một nắm, đưa lên mũi ngửi.
Rồi ông ấy đứng thẳng lên, và ông ấy nhìn ra cổng, chỗ con bé đứng.
Nó vẫn cầm cái rá vo gạo, từ sáng tới giờ chưa đặt xuống.
"Con Nhài."
"Dạ."
"Mày lại đây."
"Bác Bân, bác muốn nói gì với nó thì bác ra đây bác nói."
"Bà dạy tôi à?"
"Không. Nó đứng ở cổng suốt bốn tiếng nghe bác gọi nó là con ăn cắp, giờ bác gọi nó lại thì nó không đi được."
Ông Bân đi ra cổng.
Ông ấy đứng trước mặt con bé, và ông ấy im chừng năm giây.
"Tao nhầm."
Nó không nói gì.
"Mày nghe thấy không? Tao bảo tao nhầm."
"Dạ cháu nghe ạ."
"Ừ."
Rồi ông ấy quay vào, không nói thêm câu nào nữa.
Lúc quay vào, ông ấy đi ngang cái giếng, chỗ cái chậu thau úp bên thành.
Ông ấy không nhìn cái chậu ấy một cái nào, mà tôi thì tôi nhìn.
Bà Riu bảo thế là chưa được, phải xin lỗi cho tử tế, nhưng tôi gạt đi.
Vì tôi nhìn con bé, tôi biết cái nó cần lúc ấy không phải là câu xin lỗi của ông Bân.
Trên đường về, đi tới giữa đê thì nó tụt lại phía sau tôi mấy bước.
"Bầm ơi, con nói với bầm từ đêm kia rồi mà."
"Ừ. Bầm gạt con đi."
Tôi đứng lại giữa đê, quay hẳn người lại.
"Bầm sai với con. Đêm ấy con lay bầm dậy, bầm bảo mơ thì là mơ."
"..."
"Bầm không xin con tha. Bầm nói cho con biết là bầm biết bầm sai."
Nó cúi xuống, lấy chân di di vào cỏ đê.
"Bầm ơi, nhưng mà sáng nay bầm có tin con đâu."
"Đúng."
"Thế sao bầm sang tận nhà bố con?"
"Vì con nói trước, nên bầm phải sang nhìn cho kỹ."
"Nếu con không mơ thì bầm không sang à?"
"Có sang. Nhưng có lẽ bầm sang muộn hơn."
"Vậy giấc mơ của con có ích không bầm?"
"Nó làm bầm đi. Còn cái đong ra sáu cân thì là do cái đấu, không phải do con."
"Bầm ơi, con không muốn mơ nữa."
"Sao thế?"
"Mơ xong nói ra thì người ta gọi con là ma xó. Không nói ra thì người ta bảo con ăn cắp."
Tôi ngồi thụp xuống bờ đê cho ngang tầm nó.
"Cái con mơ thấy, con cứ kể bầm nghe."
"Kể xong bầm lại gạt con."
"Từ nay bầm không gạt. Bầm nghe xong bầm đi xem cái sờ được, cái đong được, cái đếm được."
"Sao lại phải xem hả bầm?"
"Vì cái con mơ thì chỉ mình con thấy. Còn cái ngấn trong chum thì cả làng thấy."
Nó gật đầu, tay vẫn ôm cái rá.
Về tới nhà tôi đong ra hai đấu gạo, vo, thổi một nồi cơm.
Bữa ấy tôi gắp cho nó miếng cháy giữa nồi, miếng vàng nhất.
"Cái này phần các anh chị ạ."
"Các anh chị con ăn rồi. Cầm đi con."
"Con... con không dám ạ."
Tôi phải đặt vào tay nó, gấp mấy ngón tay nó lại, nó mới chịu cầm.
Mấy ngón tay ấy bây giờ đã liền da, chỉ còn mấy vệt sẹo mờ ở đốt cuối.
Tối ấy tôi lấy cái áo bông cũ của con Cả nhà tôi ra, vá lại chỗ khuỷu, đưa cho nó.
Cái áo ấy vá chằng, chỉ vá còn khác màu.
Nó ôm cái áo vào ngực, ôm chặt như người ta ôm cả một mùa xuân.
"Bầm ơi cái áo này ấm lắm."
"Con mặc đi cho rét."
"Con để dành cho đỡ cũ ạ."
Sang tuần thì ông Hoạt cho người sang gọi tôi.
"Chị Chắt, từ tháng này tôi không thuê chị đong nữa."
"Vâng."
"Chị không hỏi tôi vì sao à?"
"Hôm ấy bác nhận trước hai chục người là bác xát lại bao gạo cũ cho anh Quyết, rồi anh ấy bán ngay tại cổng máy bác."
"Ừ."
"Bác xát thuê thì bác không sai. Nhưng cả làng nghe câu ấy thì cả làng nhớ."
"Có chị đứng đong ở đấy, người ta lại nhớ."
"Tôi không trách bác đâu."
Mười hai buổi một tháng, một buổi trăm rưỡi, là một triệu tám.
Nhà tôi năm đứa con, một triệu tám không phải khoản nhỏ.
Bà Riu sang chơi, ngồi ở bậc thềm, bảo tôi thế là được lắm rồi.
"Chị chả mất đồng nào, lại được ông Bân nói câu tao nhầm giữa sân."
"Vâng."
"Thế mà trông chị cứ ngẩn ra."
"Cái tiếng thì tôi giữ được cho con bé, mà cái mối thì tôi mất bà ạ."
"Ơ hay, ông Hoạt có làm gì sai đâu mà ông ấy cắt chị."
"Ông ấy không sai. Ông ấy chỉ không muốn nhìn thấy tôi thôi."
"Người ta kỳ thật."
"Không kỳ đâu bà ạ. Ai đứng bên cái ngấn chum hôm ấy thì cũng ngại nhìn lại nó."
"Rồi chị định làm gì?"
"Tôi ra chợ xép ngồi đong lẻ, ngày dăm chục. Nhưng cái đấu vẫn là cái đấu của tôi."
Con bé bây giờ đi học lớp một, học chung với thằng út nhà tôi.
Mùa rét năm nay nó vẫn giặt, nhưng nó giặt cái chậu vừa tầm nó, và tôi đun sẵn ấm nước.
Có hôm nó về, đặt cặp xuống, đứng ở cửa bếp nhìn tôi đong gạo.
"Bầm ơi, cho con đong thử."
"Con cầm hai tay vào đấu, gạt ngang bằng cái que, đừng vun."
"Vun thì sao ạ?"
"Vun thì mình được thêm một ít, mà người ta mất một ít."
"Con gạt phẳng rồi ạ."
"Được. Con đong lại lần nữa xem có ra đúng ngần ấy không."
"Sao phải đong hai lần hả bầm?"
"Vì đong một lần thì mình tin mình. Đong hai lần thì người khác mới tin mình."
Nó gật, rồi nó đong lại.
Cái đấu gỗ ấy tôi dùng hai mươi năm, lòng đấu mòn nhẵn, cạnh vẫn còn vuông.
Nhưng ai cầm nó lên, đong đúng cách, thì nó ra đúng một con số.
Và cái số ấy thì không bắt nạt được đứa trẻ nào.


