
Cậu chủ vựa bảo tôi ngồi vá cái đống rẻ rách ấy cả đời cũng không bằng một tấm lưới mới, và tối đó tôi trải tấm lưới ra sân thêm một lần nữa
"Cô ngồi vá cái đống rẻ rách này cả đời cũng không bằng người ta bỏ tiền mua tấm mới."
"Ừ, cậu nói đúng."
"Cháu nói thật chứ không phải nói cho cô buồn."
"Tôi biết. Cậu để tấm ấy xuống đây cho tôi."
Cậu ném cuộn lưới xuống nền xi măng của bến, nghe một tiếng bịch nặng như quăng bao cát.
Tôi tên Thoan, năm mươi tư tuổi, vá lưới thuê ở bến này hai mươi chín năm.
Công của tôi là hai trăm nghìn một ngày, ngồi từ lúc mặt trời chưa gắt tới lúc muỗi ra.
Cậu vừa quăng lưới xuống tên Khiêm, ba mươi mốt tuổi, con trai bà Lãnh chủ vựa.
Bà Lãnh có hai chiếc tàu và một cái vựa thu mua ngay đầu bến, cả xóm gần như ai cũng có việc dính tới bà.
"Cô vá được bao nhiêu tấm một ngày?"
"Rách ít thì bốn tấm. Rách như cái này thì một tấm cũng chưa xong."
"Chín tấm đấy cô ạ."
"Chín à?"
"Chín. Một tấm mới một triệu tám. Cô tính hộ cháu xem thành bao nhiêu."
"Mười sáu triệu hai."
"Cô tính nhanh thế."
"Nghề tôi ngày nào cũng đếm mắt lưới. Đếm quen rồi."
Cậu Khiêm cười, rồi cậu nói thêm một câu mà tôi nhớ tới tận bây giờ.
"Mười sáu triệu hai ấy trừ vào tiền công của ông nào trực đêm hôm ấy. Chứ chả lẽ mẹ cháu đền."
"Ai trực?"
"Ông Hối."
"Trừ hết một chuyến của ông ấy à?"
"Hết."
"Cậu trừ hết thì ông ấy còn gì?"
"Cô ơi, cháu mất mười sáu triệu hai thì cháu còn gì?"
"Cậu còn hai cái tàu."
"Tàu là của mẹ cháu."
"Thế thì cậu hỏi mẹ cậu đi, đừng hỏi tôi."
"Cháu không hỏi. Cháu nói cho cô biết để cô vá cho nhanh."
"Vá nhanh thì tiền ông Hối có về không?"
"Cô cứ hay lo chuyện người khác."
"Ừ, tôi hay lo thật."
Tôi kéo cuộn lưới lại gần chân mình, không nói gì nữa.
Tối ấy tôi trải tấm lưới đầu tiên ra sân, dưới bóng đèn dây kéo từ hiên ra cây bàng.
Tôi ngồi nhìn chỗ rách chừng mười lăm phút mà chưa xỏ mũi thoi nào.
Không phải vì nó rách to.
Là vì nó sạch quá.
Nghề của tôi thì phải nói cho rõ một chút, không thì đoạn sau chẳng ai hiểu tôi định nói gì.
Lưới rê ba lớp là loại lưới thả đứng dưới nước như một bức mành.
Giữa là màng cước mảnh, mắt nhỏ, mềm oặt.
Hai bên là hai màng ngoài sợi to, mắt rộng bằng bàn tay.
Cá đâm vào màng giữa thì bị màng giữa cuốn lấy, đẩy lọt qua mắt màng ngoài, thành một cái túi, càng giãy càng chặt.
Phía trên có giềng phao, phía dưới có giềng chì cho lưới đứng.
Một vàng lưới của tàu bà Lãnh có sáu mươi tấm, ghép lại thành một dải dài chạy ngoài khơi.
Tôi vá bằng ba thứ: cái thoi gỗ quấn cước, cái cữ để mắt lưới ra đều nhau, và mười đầu ngón tay.
Nút tôi thắt là nút dẹt, thắt xong phải kéo thử một cái, nghe tiếng "két" khô thì mới ăn.
Chồng tôi tên Bường, năm mươi tám tuổi, ngồi gỡ lưới cùng tôi ngoài hiên.
Ông ấy mất bốn ngón tay bàn trái năm hai nghìn không trăm mười một, dây neo cuốn, tàu giật.
Từ năm ấy ông không đi biển nữa.
"Bà ngồi thần ra đấy làm gì?"
"Tôi nhìn."
"Nhìn gì mà nhìn từ nãy."
"Ông lại đây tôi hỏi câu này."
"Hỏi gì?"
"Lưới quét phải rạn đá thì nó ra làm sao?"
"Thì nó tưa ra chứ làm sao. Đầu sợi xoè như cái chổi cùn."
"Còn gì nữa?"
"Còn dính rác. Rêu đá, vỏ hà, sạn."
"Ông lại đây sờ cái này."
Ông Bường lê cái ghế nhựa lại gần, đưa bàn tay còn nguyên ra sờ mép rách.
Ông sờ một lúc lâu hơn tôi tưởng.
"Sao nó tròn đầu thế này?"
"Ông thấy tròn thật không, hay tôi nhìn nhầm?"
"Tròn. Tròn như đầu que hàn."
"Còn rác đâu?"
"Không có tí nào."
"Chín tấm, ông ạ."
"Chín tấm mà không có lấy một cái vỏ hà?"
"Không."
"Bà xem kỹ chưa?"
"Tôi gỡ từng mắt một."
"Từng mắt?"
"Không gỡ từng mắt thì vá thế nào."
"Thế còn cát? Cát mịn nó lọt vào thớ cước, phải giũ mới ra."
"Tôi giũ ba lần trên cái nong. Ông ra mà xem cái nong."
"Thôi tôi tin bà."
"Ông tin thì ông trả lời tôi câu nữa."
"Câu gì?"
"Sợi đứt vì dao thì nó ra sao?"
"Phẳng. Phẳng lì như cắt ống nhựa."
"Còn đứt vì cá lớn giật?"
"Thì nó dài ra trước, mảnh đi, rồi mới đứt. Chỗ đứt có ngấn."
"Ông sờ lại xem cái này có ngấn không."
"Không có ngấn."
"Có tưa không?"
"Không tưa."
"Có phẳng không?"
"Không phẳng. Nó tròn, nó vón, nó cứng."
"Nghề mình có cái gì làm cho cước nó vón lại như thế không ông?"
"Có mỗi lửa."
"Dưới nước lấy đâu ra lửa?"
Ông Bường không đáp, ông đứng dậy đi vào nhà lấy cái đèn pin soi cho tôi.
Nghề vá lưới có một thói quen mà người ngoài thấy buồn cười.
Cái gì mắc trong mắt lưới, tôi gỡ ra thì tôi không vứt, tôi bỏ vào một cái lon sữa bò để cạnh chân.
Vá xong một vàng lưới thì cái lon đầy, tôi mới đổ.
Tôi làm thế từ hồi mới vào nghề, vì bà cụ dạy tôi bảo rằng lưới nó không biết nói, cái nằm trong lưới nó nói hộ.
Lon của một tấm lưới quét đá thì có sạn, có mảnh vỏ hà sắc như dao lam, có rong đá xoăn xoăn.
Lon của một tấm lưới đi luồng nước đục thì có bùn, có lá mục trôi từ cửa lạch ra.
Lon của một tấm lưới bị cá lớn phá thì có vảy, có khi cả cái răng.
Tối ấy tôi gỡ hết chỗ rách của ba tấm đầu tiên, cái lon vẫn rỗng.
"Bà đổ đi lúc nào đấy?"
"Tôi chưa đổ."
"Chưa đổ thật à?"
"Ông soi vào mà xem."
Ông Bường soi đèn vào lòng lon, rồi ông tắt đèn.
"Bà đem cái lon này ra bến, bà đưa cho bà Lãnh."
"Đưa làm gì?"
"Thì bảo cho người ta biết là lưới không quét đá."
"Ông nghĩ bà ấy hỏi tôi câu gì đầu tiên?"
"Câu gì?"
"Bà ấy hỏi cô có nhìn thấy tàu tôi thả ở đâu không mà cô nói."
Ông Bường không cãi được câu ấy nên ông đi rửa mặt.
Tôi ngồi lại một mình tới hai giờ sáng, vá được nửa tấm.
Và cứ mỗi lần kéo nút thắt, tôi lại nghĩ tới ông Hối.
Ông Hối sáu mươi ba tuổi, đi bạn cho tàu người ta từ năm hai mươi ba tuổi.
Bốn mươi năm ngoài biển, ông ấy được một cái nhà mái tôn và một bà vợ đau khớp.
Sáng hôm sau ông ấy ra bến sớm hơn mọi ngày, ngồi ở mép cầu tàu hút thuốc.
"Chào bà Thoan."
"Chào ông. Ông ngồi đây từ mấy giờ?"
"Từ lúc tàu chưa vào."
"Ông đợi ai?"
"Đợi cô Lãnh."
"Ông đợi để nói chuyện tiền à?"
"Tôi đợi để hỏi cho rõ thôi. Chứ tiền thì người ta trừ rồi."
"Trừ bao nhiêu?"
"Bốn triệu hai."
"Cả chuyến của ông là bốn triệu hai?"
"Vâng."
"Thế là ông đi hai mươi mốt ngày biển không công."
"Vâng."
Ông ấy nói "vâng" ba lần, giọng đều như đọc, không có tí nào là kêu ca.
Chính cái giọng đều ấy làm tôi tức.
"Bà nhà ông tháng này lấy thuốc chưa?"
"Chưa."
"Bao nhiêu một tháng?"
"Một triệu một."
"Ông định lấy đâu ra?"
"Thì tôi đi chuyến sau."
"Chuyến sau còn ba tuần nữa."
"Ba tuần thì bà ấy chịu ba tuần."
"Bà ấy chịu được à?"
"Chịu quen rồi."
"Ông nói câu ấy nhẹ nhàng quá đấy."
"Chứ tôi phải nói thế nào?"
"Ông phải kêu chứ."
"Kêu với ai hả bà?"
"Với cô Lãnh."
"Tôi kêu rồi. Cô ấy bảo ca ấy tôi trực."
"Ông kêu mấy lần?"
"Một lần."
"Sao có một lần?"
"Vì kêu lần thứ hai thì thành cãi. Mà tôi cãi thì chuyến sau tôi khỏi đi."
"Bốn mươi năm đi bạn rồi, ông còn sợ à?"
"Bà Thoan này, bốn mươi năm đi bạn thì tôi mới sợ."
"Sợ cái gì mới được?"
"Sợ đến lúc người ta không cần mình nữa mà mình vẫn cần người ta."
Tôi quay mặt đi chỗ khác, giả vờ nhìn ra cửa lạch.
Lúc quay lại thì bà Lãnh đã đứng ở đầu cầu tàu, tay cầm quyển sổ thu mua.
Bà Lãnh năm mươi bảy tuổi, người nhỏ, tiếng to, cả bến nghe rõ từng chữ.
"Ông Hối, ông ngồi đây làm gì?"
"Tôi hỏi cô một câu thôi."
"Ông hỏi đi."
"Sao cô biết là tại tôi?"
"Vì ca ấy ông trực."
"Trực thì trực chứ lưới nó ở dưới nước, tôi có cầm nó đâu."
"Ông trực là ông phải nhìn máy. Máy báo cạn thì ông phải kêu."
"Máy hôm ấy nó có báo gì đâu cô."
"Ông nói thế thì cả bến này ai làm sai nữa?"
"Tôi không biết ai. Tôi biết là không phải tôi."
"Ông cứ nói mãi cái câu ấy."
"Vì tôi có mỗi câu ấy."
"Ông Hối, ông đi biển bốn mươi năm, ông biết luật tàu chứ?"
"Biết."
"Luật là gì?"
"Ca ai người ấy chịu."
"Đấy, ông tự nói ra đấy nhé."
"Nhưng cô Lãnh ơi, ca tôi trực là trực cái máy với cái đèn. Chứ chỗ thả lưới thì tôi có được quyết đâu."
"Ai bảo ông là ông không được quyết?"
"Cô hỏi anh Trạc ấy."
"Tôi hỏi ông chứ tôi hỏi nó làm gì."
"Thì tôi trả lời cô rồi."
Bà Lãnh nói mấy câu ấy to hơn mấy câu trước, và có bảy tám người đang khiêng đá lạnh đứng lại nghe.
Tôi biết bà ấy nói to là cố ý.
Không phải cố ý làm nhục ông Hối, mà cố ý cho mấy tàu khác nghe, để lần sau không ai dám ẩu.
Bà Lãnh là người thế: bà ấy tin rằng cứ làm cho một người sợ thì chín người kia sẽ giữ.
"Cô Lãnh."
"Gì đấy bà Thoan?"
"Tôi hỏi cô một câu về cái lưới."
"Bà cứ vá đi, tiền công tôi trả đủ, bà lo gì."
"Tôi không hỏi tiền công."
"Thế bà hỏi gì?"
"Hôm ấy tàu cô thả lưới ở đâu?"
Bà Lãnh nhìn tôi từ đầu tới chân, kiểu nhìn của người đang tính xem có đáng trả lời hay không.
"Bà hỏi thế để làm gì?"
"Để tôi vá cho đúng."
"Vá lưới thì liên quan gì tới chỗ thả?"
"Có liên quan cô ạ. Rách vì đá thì tôi phải chần thêm một đường viền, không thì vá xong nó rách tiếp."
"Thế thì bà cứ chần thêm đi, tôi trả thêm tiền."
"Cô cho tôi biết chỗ thả thì hơn."
"Bà Thoan này."
"Dạ."
"Bà vá lưới cho tôi mười mấy năm rồi, tôi quý bà. Nhưng chỗ tàu tôi thả là việc của tàu tôi."
Bà ấy nói xong thì đi vào vựa, và tôi đứng lại giữa bến với cuộn lưới trên tay.
Ông Hối vẫn ngồi ở mép cầu tàu, dụi điếu thuốc xuống nền xi măng ướt.
"Bà đừng hỏi nữa."
"Sao lại đừng?"
"Bà hỏi thì người ta lại bảo tôi xúi bà."
"Tôi hỏi cho cái lưới, không hỏi cho ông."
"Bà Thoan ơi."
"Gì ông?"
"Tôi già rồi, tôi còn đi được mấy chuyến nữa đâu. Bà đừng vì tôi mà mất mối vá."
Câu ấy ông ấy nói khẽ, và đó là câu duy nhất trong buổi sáng hôm đó làm tôi phải quay mặt đi thật.
Ba hôm sau, cậu Khiêm ra sân nhà tôi xem lưới.
Cậu ấy đi xe máy tới, dựng xe ngoài ngõ, đứng chống nạnh nhìn tấm lưới trải trên nền gạch.
"Cô vá được mấy tấm rồi?"
"Hai tấm rưỡi."
"Ba ngày hai tấm rưỡi?"
"Vâng."
"Cô biết bên ngoài thị trấn người ta có máy vá lưới không?"
"Tôi có nghe."
"Một cái máy nó chạy bằng cô ngồi cả tuần."
"Chắc thế."
"Cháu nói thật, cái nghề của cô là nghề sắp hết. Cô nên biết trước cho đỡ khổ."
"Tôi biết rồi cậu ạ."
"Cô biết mà cô vẫn ngồi?"
"Thì tôi còn biết làm gì nữa."
Cậu ấy im một lúc, rồi cậu ấy hỏi một câu tôi thấy được, giống như cậu ấy thật lòng muốn biết.
"Vá tay với vá máy khác nhau chỗ nào hả cô?"
"Máy nó vá kín cái lỗ. Tôi vá thì tôi phải trả lại cái mắt."
"Trả lại cái mắt là sao?"
"Mắt lưới nó phải đúng cỡ, đúng chiều, thì cá mới đâm vào rồi lọt qua được. Vá kín mà sai cỡ thì chỗ ấy thành cái vách, cá đụng vào là dội ra."
"Cá nó biết à?"
"Cá không biết. Nhưng nước biết."
"Nước thì biết cái gì?"
"Chỗ nào vá cứng thì nước nó đi vòng qua. Nước đi vòng thì lưới ăn nước lệch."
"Lệch thì sao ạ?"
"Thì cả tấm nó đứng nghiêng, chân lưới hở đáy."
"Hở đáy thì cá chui dưới."
"Cậu nói đúng."
"Cái đấy cháu biết chứ cô."
"Cậu biết mà cậu vẫn bảo mua tấm mới cho nhanh."
"Tấm mới thì đứng thẳng còn gì."
"Tấm mới đứng thẳng, nhưng ghép vào giữa vàng lưới cũ thì nó lại là cái chỗ cứng nhất."
"Sao lại cứng?"
"Cước mới nó chưa ngâm nước, chưa mềm. Nó còn nhớ cái cuộn."
"Nhớ cái cuộn là sao ạ?"
"Là nó còn quăn theo vòng cuộn, phải ngâm vài chuyến mới duỗi."
"Cô nói cứ như là lưới nó sống ấy."
"Nó không sống. Nhưng nó có nết."
Cậu Khiêm cười, và tôi biết là cậu ấy cười vì cậu ấy nghĩ tôi nói chữ.
"Cô cứ vá cho nhanh giúp cháu. Tàu nằm bờ ngày nào là mất tiền ngày ấy."
"Cậu Khiêm."
"Dạ."
"Cậu cho tôi hỏi hôm ấy tàu thả ở đâu."
"Sao ai cũng hỏi cái đấy nhỉ?"
"Vì cái lưới nó lạ."
"Lạ chỗ nào?"
"Chín tấm rách mà tôi gỡ ra không được một cái vỏ hà."
"Thế thì sao?"
"Thì nghĩa là nó không quét đá."
"Không quét đá thì nó tự rách chắc?"
"Không tự rách được."
Cậu Khiêm nhìn tôi, và lần đầu tiên tôi thấy cậu ấy nhìn tôi lâu hơn một câu nói.
Rồi cậu ấy dựng lại cái nạnh tay, và cậu ấy nói câu này.
"Cô ạ, cô cứ lo cái phần cô. Đừng nói chuyện của tàu ngoài sân nhà cô."
Cậu ấy nổ xe đi, và tôi ngồi xuống vá tiếp.
Buổi tối hôm ấy ông Bường hỏi tôi có định thôi không.
"Bà thôi đi."
"Thôi cái gì?"
"Thôi cái chuyện lưới ấy. Người ta trừ tiền ông Hối chứ có trừ tiền bà đâu."
"Ông nói câu ấy ông có thấy ngượng không?"
"Tôi ngượng."
"Thế thì ông đừng nói nữa."
"Nhưng mà bà mất mối thì lấy gì ăn?"
"Ông tính đi. Một năm tôi vá cho bà Lãnh được bao nhiêu?"
"Chừng bảy tám chục ngày công."
"Mười sáu triệu."
"Ừ."
"Còn ông Hối bị trừ bốn triệu hai của hai mươi mốt ngày biển."
"Bà nói thế nghĩa là sao?"
"Nghĩa là nếu tôi im để giữ mười sáu triệu của tôi, thì tôi đắt hơn ông ấy đúng bốn lần."
Ông Bường không trả lời, ông đứng dậy đi cất cái ghế.
Khuya ấy con Diệu gọi về, nó hai mươi bảy tuổi, làm ở khu công nghiệp trên tỉnh.
"Mẹ ơi, bố kể con nghe rồi."
"Bố mày lắm mồm."
"Mẹ định làm gì?"
"Tao vá lưới."
"Con hỏi thật ấy."
"Tao trả lời thật đấy."
"Mẹ, nhà mình sống bằng cái mối của bà Lãnh."
"Tao biết."
"Mẹ mất mối ấy thì mẹ ngồi vá cho ai?"
"Bến này có mười một cái tàu."
"Mười một cái ấy đều bán cá cho bà Lãnh."
"Ừ, mày nói đúng."
"Mẹ đúng là..."
"Là gì?"
"Con không biết nói thế nào."
"Mày cứ nói."
"Mẹ có chắc là mẹ nhìn đúng không? Nhỡ mẹ nhìn nhầm thì sao?"
"Mày hỏi câu ấy được đấy."
"Con hỏi câu ấy thì mẹ giận à?"
"Không. Đấy là câu đúng nhất tối nay."
"Thế mẹ có chắc không?"
"Chắc bảy phần."
"Bảy phần thì đừng nói mẹ ạ."
"Nên tao chưa nói."
"Mẹ định đợi đến bao giờ?"
"Đợi đủ mười phần."
"Đủ bằng cách nào?"
"Tao chưa biết. Nhưng đủ thì tao biết."
Con bé thở dài trong máy, rồi nó dặn tôi ngủ sớm, rồi nó cúp.
Đêm ấy tôi làm một việc mà mấy hôm sau người ta bảo là tôi khôn, nhưng lúc làm thì tôi chỉ thấy tiếc.
Tôi tách chín cái chỗ rách của chín tấm lưới ra, cắt lấy một khoanh quanh mép rách, cuộn từng khoanh lại, buộc dây, đánh số từ một tới chín.
Cắt lưới thì phải đền, mỗi khoanh ấy đền bằng nửa ngày công của tôi.
Nhưng vá xong rồi thì chỗ rách không còn nữa, mà cái gì không còn thì không ai xem lại được.
Tôi để chín khoanh ấy vào cái thúng, úp cái rổ lên, đẩy vào gầm phản.
Rồi tôi vá tiếp, mỗi đêm một tấm rưỡi.
Sáu ngày sau thì xong cả chín tấm, và tôi mang trả ra bến vào buổi chiều.
Chiều ấy bến đông vì có hai tàu vào một lúc, đá lạnh xay ầm ầm, đàn bà ngồi phân cá thành từng rổ.
Bà Lãnh đứng ở cân, cậu Khiêm đứng ở mép cầu tàu đếm khay.
Ông Hối ngồi trên be tàu, tháo găng tay.
"Cô Lãnh, lưới đây."
"Xong cả chín tấm rồi hả bà?"
"Xong rồi."
"Bà tính công đi tôi trả luôn."
"Chín ngày rưỡi."
"Một triệu chín."
"Vâng."
Bà Lãnh đếm tiền đưa tôi, và đáng lẽ tôi cầm tiền rồi đi về là xong một mùa.
Nhưng đúng lúc ấy cậu Khiêm gọi với sang chỗ ông Hối.
"Ông Hối, chuyến tới ông khỏi đi."
"Sao lại khỏi hả cậu?"
"Tàu tôi không dùng người trực mà để rách chín tấm lưới."
"Cậu Khiêm, ca ấy tôi trực thật, nhưng lưới rách không phải tại tôi."
"Không tại ông thì tại ai? Tại tôi à?"
"Tôi không nói tại ai. Tôi nói không phải tại tôi."
"Ông nói thế thì cả bến nghe được đấy nhá."
Ông Hối đứng dậy, chân ông ấy hơi run, tôi nhìn thấy rõ.
Mà cả bến lúc ấy im, vì chuyện đuổi một người bạn thuyền bốn mươi năm nghề thì ai cũng muốn nghe.
Rồi cậu Khiêm nói câu mà về sau chính cậu ấy muốn nuốt lại nhất.
"Ừ! Hôm ấy tôi bảo tài công chạy ra ngoài phao đèn thả! Tôi là người quyết chuyến ấy, tôi nhận! Nhưng thả ở đâu là việc của tôi, còn trực để hỏng lưới là việc của thằng trực! Cả bến nghe rõ chưa?"
Cậu ấy nói xong thì quăng cái bút xuống khay.
Và tôi đặt cuộn tiền công vừa cầm xuống mặt cân.
"Cậu Khiêm."
"Gì nữa cô?"
"Cậu nhắc lại giúp tôi một câu."
"Câu gì?"
"Cậu bảo tài công chạy ra đâu?"
"Ra ngoài phao đèn. Sao?"
"Ngoài phao đèn là ngoài luồng tàu hàng đi vào cảng."
"Thì ngoài ấy chưa ai thả, cá còn."
"Vâng. Cá còn."
Bà Lãnh quay sang nhìn con trai, tay bà ấy vẫn để trên quyển sổ.
"Khiêm, mày bảo tàu ra tận ngoài ấy à?"
"Con bảo ra rìa thôi."
"Rìa là rìa thế nào?"
"Rìa là rìa chứ rìa thế nào."
Tôi cởi cái bao tải tôi mang theo, và tôi đổ chín khoanh lưới ra nền xi măng.
Chín cuộn nhỏ, mỗi cuộn buộc một sợi dây, mỗi sợi có một mẩu giấy ghi số.
"Bà mang cái gì ra đây thế?"
"Chỗ rách của chín tấm, tôi cắt lại trước khi vá."
"Bà cắt lưới của tôi?"
"Tôi cắt, và tôi đền. Cô trừ vào tiền công tôi vừa để trên cân ấy."
"Bà cắt để làm gì mới được chứ?"
"Để cô sờ."
Tôi mở khoanh số một ra, cầm lấy tay bà Lãnh, đặt ngón tay bà ấy lên đầu sợi cước đứt.
"Cô sờ đi. Đầu nó thế nào?"
"Nó... nó tròn."
"Tròn như cái gì?"
"Như nó bị đốt."
"Vâng. Cước nó chảy rồi vón lại thì mới tròn thế."
"Sao nó chảy được ở dưới nước?"
"Cái gì quay nhanh, miết vào sợi cước, thì chỗ ấy nóng. Nóng trước, đứt sau."
"Bà nói cái gì quay?"
"Chân vịt."
Cả bến im, chỉ còn tiếng máy xay đá bên trong vựa.
Rồi bà Lãnh rút tay lại, và bà ấy làm cái việc mà người buôn bán hay làm khi bị dồn.
Bà ấy đổi câu hỏi.
"Bà làm nghề vá lưới, bà lấy đâu ra chân vịt với máy móc mà bà nói?"
"Tôi không nói máy. Tôi nói cái sợi."
"Sợi thì sợi, đá cào cũng đứt chứ sao."
"Cô mở khoanh số bốn ra."
Bà Lãnh không mở, nên ông Bường ngồi xuống mở giúp.
"Cô nhìn chỗ này. Mắt lưới nó xoắn lại thành thừng, xoắn đều một chiều."
"Thì lưới nó rối."
"Rối thì rối lung tung. Cái này nó xoắn một chiều, từ đầu tới cuối, như người ta vặn cái khăn."
"Bà bảo ai vặn?"
"Không ai vặn được chín tấm cho đều thế đâu cô."
"Thế thì cái gì vặn?"
"Cái gì quay tròn thì nó vặn."
Bà Lãnh đứng thẳng lên, và tôi biết bà ấy đang tính đường lùi.
Nên tôi đưa nốt cái thứ ba ra, cái mà tôi tin nhất.
Tôi lấy trong túi áo cái lon sữa bò, dốc ngược xuống nền.
Không có gì rơi ra cả.
"Cái lon này là cái tôi đựng đồ gỡ ra khỏi lưới. Hai mươi chín năm nay tôi vẫn để cạnh chân."
"Rồi sao?"
"Chín tấm, tôi gỡ hết, cái lon rỗng."
"Rỗng thì sao?"
"Cô Lãnh, cô đi biển với ông nhà cô mười mấy năm. Cô nói cho cả bến nghe: lưới quét rạn thì trong mắt nó có gì?"
Bà Lãnh không trả lời.
Ông Hối trả lời hộ, giọng vẫn đều như hôm ngồi mép cầu tàu.
"Có vỏ hà. Có rong đá. Có sạn."
"Có cá tạp nữa," một chị ngồi phân cá nói với lên. "Quét rạn thì dính cá mó, cá bã trầu, đầy."
"Vâng. Còn đây thì không có gì hết."
Ông Miện chủ tàu bên cạnh chen vào, ông ấy vốn hay bắt bẻ.
"Bà Thoan, tôi hỏi bà một câu cho ra nhẽ."
"Bác hỏi."
"Nhỡ nó quét phải chỗ đáy cát thì sao? Đáy cát thì làm gì có vỏ hà."
"Đáy cát thì lưới không rách bác ạ."
"Sao lại không?"
"Cát nó mài chứ nó không cắt. Lưới quét cát thì bạc màu, xơ mặt, chứ không thủng chín tấm."
"Nhỡ có cái mỏ neo cũ nằm dưới ấy?"
"Neo cũ thì móc, mà móc thì nó xé một đường dọc theo hướng kéo, rách một chỗ thôi."
"Đây rách mấy chỗ?"
"Chín tấm liền nhau, mỗi tấm một vệt cong."
"Cong à?"
"Bác xem khoanh số hai với số ba, hai vệt nó nối được vào nhau thành một đường vòng."
Ông Miện cầm hai khoanh lưới lên, ướm vào nhau trước mặt mọi người.
"Ừ. Nó cong thật."
"Bác đi biển ba mươi năm, bác nói xem cái gì dưới nước nó vẽ được một đường cong đều như thế."
"Chỉ có cái quay."
"Vâng."
"Mà cái quay to bằng này thì không phải tàu mình."
Tôi ngồi xuống, cuốn lại từng khoanh một, buộc dây như cũ.
Vì tôi biết từ lúc ấy trở đi thì không cần nói thêm nữa.
Bà Lãnh quay sang cậu Khiêm, và bà ấy hỏi con trai một câu rất khẽ, khẽ tới mức người đứng xa không nghe được.
Nhưng tôi đứng gần nên tôi nghe.
"Mày bảo nó chạy ra ngoài phao lúc mấy giờ?"
"Chín giờ tối."
"Đêm ấy có tàu hàng vào không?"
"Con... con không biết."
"Mày không biết thật hay mày không hỏi?"
"Con không hỏi."
Bà Lãnh cầm quyển sổ thu mua lên, rồi bà ấy đặt xuống, rồi bà ấy lại cầm lên.
Đó là lần đầu tiên trong mười mấy năm tôi thấy bà ấy không biết để tay vào đâu.
"Anh Trạc đâu?"
Anh Trạc là tài công tàu bà, bốn mươi lăm tuổi, đang ngồi trong ca bin.
Anh ấy bước xuống, đi chậm, và mọi người dạt ra cho anh ấy đi.
"Trạc, đêm ấy mày thả ở đâu?"
"Ngoài rìa luồng, cô ạ."
"Rìa hay trong?"
"Lúc thả thì ngoài rìa. Nhưng thả xong nước nó đẩy, sáng ra kéo thì đầu vàng lưới nó nằm trong luồng rồi."
"Sao mày không kéo sớm?"
"Cháu định kéo sớm. Cậu Khiêm gọi máy bảo cứ để tới sáng cho đủ con nước."
"Mày có nói với nó là lưới trôi vào luồng không?"
"Cháu có nói."
"Nó bảo sao?"
Anh Trạc nhìn cậu Khiêm, rồi anh ấy nhìn xuống chân mình.
"Cậu ấy bảo trong ấy càng nhiều cá."
Cậu Khiêm bước tới một bước, và bà Lãnh giơ tay ra chặn con trai lại, không nhìn mặt nó.
"Đứng im đấy."
"Mẹ, con..."
"Tao bảo mày đứng im."
Lúc tôi xách thúng lưới về thì ông Hối đi theo tôi ra tới đầu đường.
"Bà Thoan."
"Gì ông?"
"Bà không phải làm thế."
"Tôi làm cho cái lưới."
"Bà đừng nói câu ấy với tôi nữa."
"Sao lại đừng?"
"Vì tôi biết bà nói dối."
"Ông biết thì thôi vậy."
"Tôi hỏi bà một câu được không?"
"Ông hỏi."
"Nếu hôm nay cậu ấy không quát cái câu ấy thì bà tính sao?"
"Thì tôi vẫn cắt chín khoanh lưới để trong thúng."
"Để đến bao giờ?"
"Để đến lúc có người hỏi."
"Nhỡ không ai hỏi?"
"Thì tôi giữ. Giữ có mất gì đâu."
"Bà giữ được bao lâu?"
"Cái thúng ấy nhà tôi có mấy thứ từ hồi con Diệu chưa đẻ."
Ông Hối cười, lần đầu tiên trong mấy tuần tôi thấy ông ấy cười.
"Bà này gan."
"Tôi không gan. Tôi chỉ tiếc."
"Tiếc gì?"
"Tiếc cái công tôi ngồi ba đêm nhìn chín cái vệt rách ấy."
Chiều ấy tan bến muộn hơn mọi chiều, mà không ai nói gì to.
Cái tin nó đi vòng quanh xóm nhanh hơn tôi đi bộ về nhà.
Tối, ông Bường nấu cơm, và ông ấy hỏi tôi một câu tôi không trả lời được ngay.
"Bà thấy thế nào?"
"Tôi thấy mệt."
"Chứ không hả hê à?"
"Hả hê cái gì. Chín tấm lưới vẫn rách, tiền vẫn mất, ông Hối vẫn hai mươi mốt ngày không công."
"Nhưng người ta biết là không phải tại ông ấy."
"Ừ. Được mỗi cái ấy."
"Được cái ấy là được nhiều đấy bà ạ."
Tôi không nói gì, tôi ăn hết bát cơm rồi tôi ra hiên ngồi.
Ngoài kia bến vẫn sáng đèn, tàu vào tàu ra, biển thì chả biết chuyện gì vừa xảy ra trên bờ.
Ba hôm sau bà Lãnh sang nhà tôi.
Bà ấy đi bộ, không dắt xe, tay xách một túi cam.
"Bà Thoan có nhà không?"
"Cô vào đi. Ông nhà tôi ra chợ rồi."
"Tôi ngồi đây một tí."
"Cô ngồi."
Bà ấy ngồi xuống cái ghế nhựa, để túi cam xuống nền, và bà ấy nhìn cái thúng lưới của tôi hồi lâu.
"Tôi trả ông Hối rồi."
"Bao nhiêu?"
"Bốn triệu hai. Với cả chuyến tới ông ấy vẫn đi."
"Vâng."
"Bà không hỏi gì tôi à?"
"Tôi hỏi cô câu gì bây giờ."
"Bà hỏi sao tôi trừ tiền ông ấy đi."
"Tôi biết vì sao rồi."
"Bà biết thế nào?"
"Vì cô sợ."
Bà Lãnh cười một cái rất ngắn, kiểu cười của người bị nói trúng mà không muốn cãi.
"Bà nói xem tôi sợ gì."
"Cô sợ cái vàng lưới thứ hai."
"Sao bà biết tôi còn vàng nữa?"
"Tôi vá cho cô mười mấy năm. Cô có hai tàu, mỗi tàu hai vàng, tôi vá hết cả bốn."
"Ừ. Tôi còn nợ tiền một vàng."
"Nợ ai?"
"Nợ chỗ bán lưới trên tỉnh. Tôi lấy trả góp mười tháng, còn bốn tháng nữa."
"Mỗi tháng bao nhiêu?"
"Mười một triệu."
"Cô trả bằng gì?"
"Bằng tiền chênh thu mua. Mỗi ký cá tôi ăn hai nghìn."
"Một chuyến được mấy tấn?"
"Được thì bốn tấn. Không được thì tấn rưỡi."
"Tôi bảo rồi, nghề tôi ngày nào cũng đếm."
"Thế bà đếm hộ tôi xem tháng vừa rồi tôi thiếu bao nhiêu."
"Tôi không biết cô có mấy chuyến."
"Hai chuyến. Một chuyến tấn tư, một chuyến hai tấn."
"Ba tấn tư. Cô thu về sáu triệu tám."
"Rồi sao nữa?"
"Cô thiếu bốn triệu hai."
Bà Lãnh không nói gì, bà ấy nhìn ra sân.
"Cô Lãnh."
"Bà đừng nói câu tiếp theo."
"Cô biết tôi định nói câu gì à?"
"Biết."
"Thế thì tôi không nói."
"Bà cứ nói đi. Bà không nói thì tôi cũng nghĩ suốt đêm."
"Bốn triệu hai là đúng cái số cô trừ của ông Hối."
"Vâng."
"Cô có tính trước không?"
"Tôi không tính. Nhưng lúc thằng Khiêm bảo trừ hết một chuyến của ông ấy, tôi nhẩm ra là vừa đủ."
"Vừa đủ nên cô gật."
"Vừa đủ nên tôi gật."
"Nên rách chín tấm là cô cuống."
"Cuống chứ. Cuống thì tôi phải tìm ra người làm hỏng, không thì đứa nào cũng ẩu."
"Cô tìm ra thật đấy chứ."
"Bà nói kháy tôi à?"
"Không. Cô tìm ra thật mà."
Bà Lãnh im một lúc lâu, rồi bà ấy nói câu này, và tôi nghĩ đây là câu thật nhất bà ấy nói với tôi từ trước tới nay.
"Nó là con tôi, bà ạ."
"Vâng."
"Tôi biết nó sai. Nhưng cả bến nghe nó nói câu ấy, giờ tôi bảo nó xin lỗi thì nó không xin đâu."
"Cô không phải bắt cậu ấy xin lỗi tôi."
"Chứ bà muốn gì?"
"Tôi chả muốn gì cả. Tôi vá lưới thuê thôi."
"Bà nói thế là bà giận."
"Tôi không giận. Tôi chỉ hết muốn nói đỡ."
"Nói đỡ gì?"
"Trước kia ai chê cậu Khiêm còn trẻ mà hay quát, tôi đều bảo là nó vụng miệng chứ nó không ác."
"Giờ bà không bảo thế nữa à?"
"Giờ ai hỏi thì tôi im."
Bà Lãnh cầm túi cam lên rồi lại đặt xuống, y như hôm cầm quyển sổ ngoài bến.
"Bà vẫn vá cho tôi chứ?"
"Cô cứ đem lưới sang, tôi vá."
"Thật không?"
"Cô Lãnh, tôi vá lưới. Ai đem lưới rách tới thì tôi vá, tôi không chọn người."
Bà ấy đi về, để lại túi cam, tôi không giữ mà cũng không trả.
Cái tàu ấy chuyến sau không đủ bạn.
Không phải ai bảo ai, cũng chẳng ai họp hành gì.
Chỉ là hai người bạn thuyền cũ xin sang tàu khác, một người bảo bận đám giỗ, một người bảo đau lưng.
Đi biển hai mươi mốt ngày mà thiếu người thì tài công không dám ra, nên tàu nằm bờ mười hai ngày.
Mười hai ngày nằm bờ, tính ra bằng đúng hai chuyến lưới rách.
Cậu Khiêm ra bến mấy buổi, đứng đếm khay của tàu người khác, không ai nói gì cậu ấy cả.
Mà không ai nói gì mới là nặng.
Một hôm cậu ấy sang nhà tôi, đứng ngoài ngõ, không vào.
"Cô Thoan."
"Cậu vào đi."
"Cháu đứng đây được rồi."
"Cậu có việc gì?"
"Cháu hỏi cô một câu."
"Cậu hỏi."
"Hôm ấy cô biết từ lúc nào?"
"Từ tối đầu tiên."
"Sao cô không nói ngay?"
"Tôi có nói. Tôi hỏi cô Lãnh tàu thả ở đâu."
"Cô hỏi kiểu ấy thì ai hiểu."
"Cậu Khiêm ạ."
"Dạ."
"Nếu tối hôm ấy tôi ra bến chỉ vào mặt cậu mà bảo tại cậu, thì cậu tin tôi không?"
"Không."
"Cậu còn bảo tôi là con mụ vá lưới biết gì."
"Chắc là cháu bảo thế thật."
"Nên tôi đợi."
"Cô đợi cháu tự nói ra."
"Tôi đợi ai đó nói ra. Hoá ra là cậu."
Cậu ấy đứng ngoài ngõ thêm một lúc, tay vẫn để trên yên xe.
"Cháu tưởng ra ngoài rìa luồng thì được nhiều cá."
"Được nhiều thật đấy."
"Cô nói kháy à?"
"Không. Chuyến ấy tàu cậu về nhiều cá nhất bến, tôi có nghe."
"Nhiều cá mà mất mười sáu triệu tiền lưới."
"Với hai mươi mốt ngày công của một ông già."
Cậu Khiêm cúi xuống, và tôi nghĩ cậu ấy sắp nói xin lỗi.
Nhưng cậu ấy không nói.
Cậu ấy hỏi một câu khác, và thật ra tôi thích cái câu ấy hơn là câu xin lỗi.
"Cô dạy cháu xem lưới được không?"
"Xem lưới thì có gì mà dạy."
"Cháu muốn biết chỗ nào rách vì cái gì."
"Cậu học cái ấy làm gì?"
"Để lần sau ai nói với cháu là tại thằng trực thì cháu còn biết đường mà cãi."
"Ừ. Thế thì mai cậu sang, mang theo tấm rách nào cũng được."
Cậu ấy sang thật, sáng hôm sau, mang một tấm lưới cũ của tàu bên.
Tôi trải ra sân, đưa cậu ấy cái cữ, bắt cậu ấy đo mắt lưới trước.
"Trước khi biết nó rách vì gì thì phải biết mắt nó cỡ nào."
"Sao ạ?"
"Vì mắt cỡ nào thì rách kiểu nấy. Cậu đo đi."
"Sao phải đo cả mười mắt hả cô? Đo một mắt không được à?"
"Một mắt thì nó nói được cái gì."
"Nó nói cỡ mắt."
"Cỡ mắt của một mắt thôi. Còn tôi cần cỡ mắt của cả tấm."
"Khác nhau à?"
"Khác. Một mắt có thể giãn vì cậu vừa kéo nó."
"Thế mấy mắt thì đủ?"
"Mười mắt liền nhau, đo một lượt, rồi chia."
"Chia ra làm gì?"
"Để ra cái cỡ thật. Nghề gì cũng thế cậu ạ, một cái thì nói dối được, mười cái thì không."
Cậu ấy đo mười một mắt thì sai bốn mắt, tôi bắt đo lại từ đầu.
Đến trưa thì cậu ấy phân biệt được đầu sợi tưa với đầu sợi vón.
Đến chiều thì cậu ấy tìm ra trong tấm lưới cũ ấy một chỗ rách do dao cắt, sợi phẳng lì, cắt gọn ba mắt liền.
"Cái này là dao hả cô?"
"Ừ."
"Sao lại có dao?"
"Thì có ai đó gỡ cá vội, cắt bừa."
"Thế cũng là làm hỏng lưới còn gì."
"Ừ, cũng là làm hỏng."
"Sao cô không nói với chủ tàu?"
"Tôi nói rồi. Tôi bảo là có người gỡ cá bằng dao. Tôi không bảo là người nào."
"Sao cô không bảo luôn?"
"Vì tôi không biết. Tôi chỉ biết cái tôi cầm trên tay."
"Cô không đoán được à? Chỉ có mấy người trên tàu ấy thôi mà."
"Đoán thì đoán được."
"Thế sao cô không đoán?"
"Vì đoán sai một lần thì người ta mất một mùa biển, cậu ạ."
"Cô cẩn thận quá."
"Không phải cẩn thận. Là tôi từng đoán sai rồi."
"Cô đoán sai bao giờ?"
"Năm chín tám. Tôi bảo tấm lưới nhà bác Duyện rách vì có người cắt trộm."
"Rồi sao ạ?"
"Hoá ra là con cá nhám. Nó quẫy, giềng chì quấn vào nhau, đứt một loạt."
"Rồi cô làm sao?"
"Tôi sang nhà người bị tôi nói, tôi xin lỗi. Bác ấy không nhận."
"Không nhận à?"
"Bác ấy bảo lời nói nó không có chỗ vá."
"Câu ấy nặng nhỉ."
"Ừ. Hai mươi tám năm rồi tôi vẫn nhớ."
"Nên hôm ấy cô đợi."
"Nên hôm nào tôi cũng đợi."
Cậu Khiêm ngồi bệt xuống nền gạch, chỗ mà mấy tuần trước cậu ấy đứng chống nạnh.
"Cô Thoan, cháu nói câu hôm trước là cháu sai."
"Câu nào?"
"Câu cô ngồi vá cả đời cũng không bằng tấm lưới mới."
"À. Câu ấy cậu nói cũng không sai lắm đâu."
"Sao lại không sai?"
"Vì tính ra tiền thì đúng thật. Một đời ngồi vá của tôi chắc gì bằng mấy chục vàng lưới nhà cậu."
"Nhưng mà..."
"Nhưng mà lưới thì phải có người vá, cậu ạ. Thế thôi."
Bây giờ thì tàu bà Lãnh vẫn ra vào bến, mỗi mùa vẫn có mấy tấm rách gửi sang nhà tôi.
Ông Hối vẫn đi bạn, năm nay ông ấy sáu mươi tư.
Vợ ông ấy tháng nào cũng lấy thuốc, một triệu một, không thiếu tháng nào nữa.
Ông Bường vẫn ngồi gỡ lưới với tôi ngoài hiên, và ông ấy vẫn hay nói câu "đáng đời" mỗi khi nhắc chuyện cũ.
Tôi thì tôi không thấy đáng đời gì cả.
Cái tôi nhớ nhất trong cả chuyện ấy không phải lúc bà Lãnh rút tay khỏi mép lưới.
Cũng không phải lúc cậu Khiêm quát giữa bến câu mà cậu ấy phải trả giá.
Cái tôi nhớ nhất là buổi sáng ông Hối ngồi ở mép cầu tàu, nói "vâng" ba lần, giọng đều như đọc.
Người ta chỉ nói được cái giọng ấy khi người ta đã thôi mong ai bênh mình.
Có người trong xóm bảo tôi giỏi, bảo tôi cho nhà bà Lãnh một vố nên thân.
Tôi không cho ai vố nào cả.
Tôi chỉ cắt chín khoanh lưới lại trước khi vá, vì tôi biết vá xong rồi thì cái rách nó biến mất, mà cái gì biến mất thì không cãi hộ ai được nữa.
Còn phần trả giá thì cậu Khiêm tự làm lấy hết, từ cái đêm cậu ấy bảo tài công cứ để lưới nằm trong luồng cho đủ con nước.
Tôi không đẩy cậu ấy xuống nước.
Tôi chỉ thôi không nói đỡ nữa.
Lưới rách thì tôi vá được.
Còn cái người làm rách nó thì tôi không vá được.


