Halab
Cậu nhân viên hỏi tôi định trèo lên bắt tổ ong bằng tay thật à, và tôi chỉ đứng dưới gốc cây thêm mười phút
Truyện

Cậu nhân viên hỏi tôi định trèo lên bắt tổ ong bằng tay thật à, và tôi chỉ đứng dưới gốc cây thêm mười phút

· 19 phút đọc · Halab

"Bác định trèo lên bắt bằng tay thật à? Bác có bảo hiểm không? Nhỡ bác ngã thì ai chịu?"

"Chú hỏi ai chịu là hỏi hộ tôi hay hỏi hộ chú?"

"Cháu hỏi cho đúng quy trình thôi ạ."

"Ừ, thế thì chú cứ hỏi."

Sân chơi khu Bốn có một cây muồng già, tán rộng, cao chừng chín mét.

Trên chạc ba của nó có một cái tổ ong vò vẽ to bằng cái nồi hai mươi.

Tôi tên Chản, năm mươi tám tuổi, làm nghề bắt ong thuê ba mươi mốt năm.

Bắt ong không phải nghề. Nghề của tôi là làm ruộng với đi phụ hồ. Bắt ong là việc người ta gọi thì tôi đi.

Một tổ vò vẽ tôi lấy chín trăm nghìn. Tổ nào cao quá, phải bắc giàn, thì một triệu hai.

Một năm tôi làm chừng ba chục tổ. Mùa hè nhiều, mùa đông gần như không có.

Tôi bị đốt cả thảy bốn lần. Lần nặng nhất là năm hai nghìn linh chín, mười bảy nốt, nằm viện hai ngày.

Vợ tôi bỏ nghề này cho tôi mấy lần rồi lại thôi. Bỏ thì lấy gì mà tiêu.

Vợ tôi tên Nhỡn, kém tôi ba tuổi, bán rau ở chợ sáng.

Năm hai nghìn linh chín tôi nằm viện, bà ấy ngồi ở đầu giường nói một câu.

"Ông bỏ đi."

"Bỏ thì lấy gì tiêu?"

"Tôi bán rau cũng được."

"Bà bán rau một ngày lãi bảy chục. Tôi một tổ chín trăm."

"Chín trăm mà ông nằm đây thì tôi cần gì chín trăm."

Tôi im. Nằm viện thì cãi làm sao được.

Ra viện được hai tháng thì có người gọi. Tổ ong trong bếp nhà người ta, có trẻ con.

Tôi đi. Bà ấy không nói gì, chỉ để sẵn cái bao tải với cuộn dây ra hiên.

"Bà để đấy làm gì?"

"Để ông khỏi phải lục."

"Bà không cản tôi à?"

"Cản mấy lần rồi. Ông cứ đi đi, nhưng ông nhớ một điều."

"Điều gì?"

"Đêm nào ông đi thì ông bảo tôi. Đừng để tôi ngủ dậy không thấy ông."

Từ đấy đêm nào đi tôi cũng nói. Mười bảy năm rồi.

Hôm ấy là chiều thứ ba, ở sân chơi khu Bốn, có bảy tám người đứng xem.

Cậu đứng nói chuyện với tôi tên Đoan, hai mươi tám tuổi, áo sơ mi có logo công ty ở tay áo.

Công ty của cậu ấy làm dịch vụ diệt côn trùng. Ban quản lý khu gọi cả hai bên đến, xem ai làm.

"Bên cháu báo giá sáu triệu hai bác ạ."

"Ừ."

"Có đầy đủ đồ bảo hộ, bình xịt áp lực, thuốc nhập."

"Ừ."

"Bảo hành ba tháng. Ong quay lại thì bên cháu xử lý miễn phí."

"Ba tháng à?"

"Vâng ạ."

"Tháng mấy đến tháng mấy?"

"Dạ từ hôm nay."

"Ừ. Từ hôm nay là tháng bảy."

Cậu Đoan nhìn tôi, chờ tôi nói tiếp. Tôi không nói tiếp.

Anh Trữ bên ban quản lý khu hắng giọng.

"Bác Chản báo bao nhiêu?"

"Chín trăm."

"Chín trăm nghìn?"

"Vâng."

"Sao rẻ thế bác?"

"Vì tôi có mỗi cái sào với cái bao tải. Tôi không có thuốc, không có bình, không có bảo hành."

Có người trong đám đông bật cười.

Tôi không thấy có gì buồn cười. Tôi nói đúng cái tôi có.

"Bác ơi." Cậu Đoan nói. "Cháu nói thật, cái này nguy hiểm. Vò vẽ nó không phải ong mật đâu bác."

"Tôi biết."

"Một tổ này cỡ tám trăm con."

"Ít hơn."

"Dạ?"

"Cỡ năm trăm. Phải sang tháng chín nó mới đông bằng chú nói."

"Bác đếm à?"

"Không đếm được. Nhìn cái vỏ tổ thì biết."

Chuyện cái vỏ tổ thì tôi phải nói cho rõ.

Vò vẽ nó xây tổ bằng gỗ mục nhai với nước bọt. Xây tới đâu thì thành từng vân, như vân gỗ.

Vỏ càng nhiều lớp, mặt dưới càng phình xuống, là tổ đang đông. Vỏ còn mỏng, đáy còn phẳng, là tổ mới, còn ít con.

Cái tổ trên cây muồng ấy vỏ còn mỏng, và mặt dưới chưa phình.

Tôi nói với cậu Đoan mấy câu đó. Cậu ấy nghe, rồi cậu ấy hỏi lại một câu tôi thấy được.

"Bác nhìn cái vỏ mà biết được số con thật à?"

"Không biết chính xác. Biết cỡ."

"Sai bao nhiêu ạ?"

"Sai thì tôi vẫn phải chui vào cái bao tải như nhau thôi chú."

Anh Trữ chốt hôm ấy là thuê công ty.

Anh ấy nói với tôi ngoài cổng, giọng ngại.

"Bác thông cảm. Bên trên người ta bảo phải có hợp đồng, có hoá đơn."

"Tôi hiểu."

"Bác không giận chứ?"

"Anh làm theo chỗ anh, giận gì."

"Với lại có bảo hành ba tháng bác ạ."

"Ừ, bảo hành."

Tôi đi bộ ra tới cổng khu thì tôi quay lại.

Không phải vì tôi tiếc chín trăm nghìn. Chín trăm nghìn thì tiếc thật, nhưng không phải vì thế.

Là vì lúc nãy tôi đứng dưới gốc muồng chừng mười phút, và tôi thấy một chuyện.

Tôi quay lại tìm anh Trữ.

"Anh Trữ."

"Bác quên gì à?"

"Tôi nói với anh một câu, xong tôi về."

"Bác nói đi."

"Cái cây muồng ấy có hai tổ."

Anh Trữ nhìn lên cây.

"Đâu ạ? Tôi chỉ thấy một."

"Tổ kia không ở trên cây."

"Thế ở đâu?"

"Tôi chưa biết. Nhưng có."

"Sao bác biết?"

"Vì lúc nãy tôi đứng đếm ong về."

Chuyện đếm ong về thì thế này.

Ong thợ đi kiếm ăn về tổ không bay lung tung. Nó bay theo một đường gần như thẳng, người ta gọi là đường bay.

Đứng dưới gốc, ngước lên, nhìn ngược sáng, thì thấy được đường bay ấy như những cái vạch.

Chiều hôm ấy tôi đứng nhìn, và tôi thấy ong về theo hai hướng.

Tổ ong vò vẽ trên chạc ba cây muồng, vân vỏ tổ còn thưa.
Tổ ong vò vẽ trên chạc ba cây muồng, vân vỏ tổ còn thưa.

Một hướng từ phía bãi cỏ, về đúng cái tổ trên chạc ba.

Một hướng nữa cũng cắt qua ngang cây muồng, nhưng nó không dừng ở tổ, nó đi tiếp về phía dãy nhà xe.

Đi tiếp nghĩa là nó không về cái tổ này.

"Bác nói khó hiểu quá."

"Anh cứ đứng đây mười phút, ngước lên nhìn phía có nắng, anh sẽ thấy."

"Tôi nhìn cũng chả biết con nào với con nào."

"Vâng. Cái đó thì phải quen."

"Thế bác bảo tôi phải làm gì?"

"Tôi không bảo anh làm gì. Tôi chỉ nói là có hai tổ."

Anh Trữ ghi cái gì đó vào điện thoại. Rồi anh ấy hỏi tôi câu này.

"Bác có chắc không? Tôi nói lại với bên công ty thì tôi phải chắc."

"Tôi không chắc. Tôi nói cái tôi nhìn thấy."

"Khác gì nhau hả bác?"

"Khác chứ. Chắc là tôi trèo lên tôi sờ vào rồi. Còn đây tôi mới nhìn."

Công ty làm vào sáng thứ năm, lúc chín giờ.

Tôi không đến. Tôi có tổ khác phải làm ở xóm Chùa.

Sáng thứ năm ấy tôi ở xóm Chùa, nhà bà Hoẹ.

Tổ của bà ấy không phải vò vẽ. Là ong mật, làm trong hộp công tơ điện ngoài cổng.

"Bác Chản ơi bác đốt hộ tôi cái."

"Đốt gì hả bà?"

"Đốt cái tổ ong ấy."

"Ong mật thì tôi không đốt."

"Sao lại không? Nó đầy ra đấy."

"Ong mật nó không đốt người trước. Bà cứ để đấy, nó chả làm gì bà đâu."

"Nó ở ngay chỗ tôi mở cửa."

"Bà mở cửa mấy tháng nay có bị đốt lần nào chưa?"

Bà Hoẹ nghĩ một lúc.

"Chưa."

"Đấy."

"Nhưng cháu tôi nó sợ."

"Thế thì tôi chuyển. Chuyển chứ không đốt."

"Chuyển đi đâu?"

"Tôi có cái thùng. Tôi hót nó sang thùng, mang ra vườn nhà tôi."

"Bác lấy bao nhiêu?"

"Ong mật thì tôi không lấy tiền."

"Sao lại không lấy?"

"Vì tôi được cái tổ. Sang năm tôi có mật."

Bà Hoẹ cười.

"Thế ra bác lãi."

"Vâng, tôi lãi. Nhưng bà cũng đỡ mất tiền, thế là hai bên cùng lãi."

Việc ấy mất của tôi hết buổi sáng. Xong thì đã mười một giờ.

Chuyện sáng hôm ấy tôi nghe anh Trữ kể lại, kể đi kể lại ba lần trong một tuần.

Họ mặc đồ trắng, đội mũ lưới, bắc thang lên. Xịt thuốc vào tổ chừng năm phút.

Ong trong tổ chết một phần, phần còn lại bay ra.

Ong vò vẽ khi bị phá tổ ban ngày thì nó không chết theo tổ. Nó tản.

Tản là mỗi con bay một hướng, và con nào cũng dữ.

"Bác ơi, nó đốt hai người."

"Ai?"

"Cậu bảo vệ với một chị đi tập thể dục."

"Đốt mấy nốt?"

"Cậu bảo vệ bốn nốt. Chị kia hai nốt ở tay."

"Có phải đi viện không?"

"Chị kia thì không. Cậu bảo vệ phải xuống trạm xá tiêm."

"Ừ, thế là nhẹ."

"Nhẹ mà bác?"

"Bốn nốt là nhẹ anh ạ. Tôi mười bảy nốt tôi còn về được."

Chiều hôm ấy tôi có gặp cậu bảo vệ. Cậu ấy tên Rấn, hăm hai tuổi, mới vào làm được nửa năm.

Tay cậu ấy còn sưng, băng một miếng ở cổ.

"Bác là bác bắt ong à?"

"Ừ."

"Sao hôm ấy bác không làm?"

"Người ta thuê chỗ khác."

"Nếu bác làm thì cháu có bị đốt không?"

Tôi nghĩ một lúc rồi tôi nói thật.

"Nếu tôi làm thì tôi làm ban đêm. Ban đêm thì chú đang ngủ, chú không đứng đấy."

"Thế là không bị."

"Ừ."

"Cháu đứng cách cái cây có hơn chục mét thôi bác ạ."

"Vò vẽ nó đuổi được xa hơn thế. Có con đuổi ba chục mét."

"Cháu chạy vào phòng, đóng cửa, mà vẫn có hai con vào theo."

"Chú chạy thẳng à?"

"Vâng, cháu chạy thẳng ra cổng."

"Lần sau chú đừng chạy thẳng. Chú chạy vòng qua chỗ nào có bụi cây, rồi cúi xuống."

"Sao lại thế hả bác?"

"Nó bám theo cái bóng chuyển động. Chú cúi xuống, đứng im sau bụi, nó mất dấu."

"Đứng im thì nó không đốt à?"

"Đứng im thì nó vẫn đốt mấy con đang bám. Nhưng đàn phía sau nó không đuổi tiếp."

Cậu Rấn ghi vào điện thoại. Cậu ấy còn hỏi tôi bắt tôi nói lại hai lần.

Đến đây thì tôi phải nói một câu cho công bằng.

Công ty của cậu Đoan làm không sai quy trình. Họ có thuốc, có đồ, có người.

Cái họ thiếu là họ làm ban ngày.

Ban ngày thì hai phần ba đàn đang ở ngoài. Xịt xong, đàn ở ngoài về không thấy tổ, nó điên lên.

Ban đêm thì cả đàn ở trong. Trùm bao vào, buộc miệng, cắt cuống, xong.

Tôi làm ba mươi mốt năm, tôi chỉ làm ban đêm. Không phải vì tôi giỏi. Vì tôi sợ.

Thứ hai tuần sau anh Trữ gọi tôi.

"Bác Chản ơi bác sang khu tôi cái."

"Có việc gì?"

"Lại có người bị đốt."

"Ở đâu?"

"Chỗ nhà xe."

Tôi sang. Tôi đi vòng quanh cái nhà xe hai lượt, rồi tôi đứng ở góc, ngước lên.

Mất chừng bảy tám phút thì tôi thấy.

Đường bay đi vào khe giữa mái tôn với tường, chỗ có cái ống thoát nước cũ.

"Nó ở trong ống hả bác?"

"Không. Nó ở sau tấm tôn."

"Sao bác biết?"

"Vì con nào chui vào cũng chúi xuống. Nếu ở trong ống thì nó bay ngang."

Anh Trữ đứng nhìn theo tay tôi chỉ. Nhìn một lúc thì anh ấy à lên một tiếng.

"Đúng là nó chúi xuống thật."

"Vâng."

"Tổ này to không bác?"

"To hơn cái trên cây."

"Sao lại to hơn?"

"Vì cái này có trước. Cái trên cây tôi đoán là đàn tách ra làm sau."

Cậu Đoan đến lúc mười giờ. Cậu ấy đi xe máy, không mặc đồ công ty.

"Bác Chản."

"Chú Đoan."

"Cháu xin lỗi bác."

"Chú xin lỗi tôi cái gì?"

"Hôm nọ cháu nói bác trèo bằng tay."

"Chú nói thế thì có gì sai. Tôi trèo bằng tay thật."

"Nhưng cháu nói cái giọng ấy."

"Cái giọng thì tôi quên rồi."

Cậu ấy đứng im một lúc.

"Bác ơi cháu hỏi thật."

"Chú hỏi."

"Hôm ấy bác biết có hai tổ. Sao bác không nói to lên giữa sân?"

"Tôi có nói."

"Bác nói với anh Trữ lúc mọi người về hết rồi."

"Ừ."

"Sao bác không nói lúc đang đông?"

Tôi nghĩ đến lúc cậu ấy tưởng tôi không định trả lời.

"Vì lúc đang đông mà tôi nói, thì tôi thành thằng giành việc."

"Vâng."

"Mà tôi thì đã bị người ta chọn thua rồi. Thua rồi còn nói thì nó khó nghe lắm chú ạ."

"Cháu hiểu."

"Chú hiểu thì tốt. Nhưng cái đấy là tôi hèn, chứ không phải tôi khôn."

Cậu Đoan nhìn tôi. Tôi nghĩ cậu ấy không định nghe câu ấy.

"Bác nói nặng quá."

"Tôi nói đúng thôi. Nếu tôi nói giữa sân, có khi anh bảo vệ không bị đốt."

Chiều hôm đó ban quản lý họp trong phòng.

Đồ nghề bốn thứ: sào tre, bao tải dứa, cuộn dây gai và đèn pin bọc vải đỏ.
Đồ nghề bốn thứ: sào tre, bao tải dứa, cuộn dây gai và đèn pin bọc vải đỏ.

Anh Trữ gọi tôi vào ngồi. Tôi ngồi ở cái ghế cạnh cửa, vì quần tôi bẩn.

"Bác Chản làm được cái tổ trong nhà xe không?"

"Được."

"Bao nhiêu?"

"Một triệu hai."

Anh Trữ nhìn xuống tờ giấy một lúc.

"Cái này tôi ký chi gấp, giấy tờ tôi chịu trách nhiệm sau."

"Sao lần trước bác báo chín trăm?"

"Lần trước là tổ trên cây, có chạc để tì chân. Cái này phải cạy tôn, phải có người giữ thang."

"Bác cần mấy người?"

"Một người. Người ấy chỉ giữ thang, không phải làm gì."

"Bên tôi có người giữ thang cho bác."

"Người ấy phải mặc kín, đi ủng. Ong nó rơi xuống chân là nó đốt."

"Vâng, tôi lo."

Cậu Đoan ngồi cuối phòng, giơ tay.

"Cho cháu giữ thang được không ạ?"

Cả phòng quay lại nhìn cậu ấy.

"Chú giữ thang à?"

"Vâng ạ."

"Chú có đồ của công ty chú, chú mặc vào là được. Nhưng chú phải nghe tôi."

"Vâng."

"Tôi bảo đứng im thì đứng im. Tôi bảo chạy thì chạy, đừng ngoái lại."

"Vâng ạ."

"Chú ngoái lại là nó đốt vào mặt."

Đêm ấy chúng tôi làm lúc mười một giờ kém.

Đồ của tôi có bốn thứ: một cái sào tre dài bốn mét, một cái bao tải dứa, một cuộn dây gai, và một cái đèn pin bọc vải đỏ.

Cậu Đoan cầm cái đèn lên xem.

"Bác bọc vải đỏ làm gì ạ?"

"Ong nó không nhìn thấy ánh đỏ."

"Thật hả bác?"

"Tôi không biết là nó không nhìn thấy hay nó nhìn thấy mà nó lười. Tôi chỉ biết là soi đèn trắng thì nó bay ra, soi đèn đỏ thì nó nằm im."

"Bác học ở đâu?"

"Ông chú tôi. Ông ấy làm nghề này trước tôi."

"Ông ấy dạy bác à?"

"Ông ấy không dạy. Ông ấy chỉ cho tôi đi theo, cầm bao."

"Cầm bao bao lâu ạ?"

"Bốn năm."

"Bốn năm chỉ cầm bao thôi ạ?"

"Ừ. Năm thứ năm ông ấy mới cho tôi cầm sào."

Trước lúc trèo, tôi bắt cậu Đoan đứng nghe tôi nói ba phút.

"Chú phân biệt được ba loại không?"

"Ba loại gì ạ?"

"Ong mật, vò vẽ, ong đất."

"Cháu chỉ biết ong mật với ong vò vẽ."

"Ong mật thì bụng vàng, lông xù, bay chậm, đậu vào hoa."

"Vâng."

"Vò vẽ thì thân trơn, có khoang vàng đen, bay nhanh, hay lượn quanh chỗ có thịt cá."

"Còn ong đất?"

"Ong đất thì to hơn, tiếng bay nghe trầm hơn. Nó làm tổ dưới đất hoặc trong gốc cây mục."

"Cái nào nguy hơn ạ?"

"Ong đất. Nhưng vò vẽ nó ở gần người hơn, nên nó đốt nhiều hơn."

"Bác gặp ong đất bao giờ chưa?"

"Bốn lần. Ba lần tôi làm, một lần tôi bỏ về."

"Sao bác bỏ về?"

"Tổ nằm dưới gốc tre, ba bốn ngách, tôi không bịt hết được."

"Bác bỏ thì người ta có nói gì không?"

"Người ta chửi tôi. Người ta bảo tôi nhát."

"Bác không tự ái à?"

"Tự ái thì tôi chui vào đấy, rồi tôi nằm viện, rồi bà nhà tôi lại ngồi đầu giường."

Cậu Đoan im.

"Chú nhớ cho tôi một câu."

"Bác nói."

"Cái nghề này không có ai thưởng cho người liều. Về được là thắng rồi."

Tôi cạy tấm tôn ra chừng một gang.

Cái tổ nằm sát tường, hình quả bí dài, dính vào cả tôn lẫn gạch.

To hơn cái trên cây gấp rưỡi. Vỏ dày nhiều lớp, mặt dưới đã phình.

Tôi trùm bao vào từ dưới lên, chầm chậm, không để bao chạm vào tổ.

Chạm vào là cả đàn biết.

"Bác ơi." Cậu Đoan nói khẽ ở dưới. "Tay bác không run à?"

"Chú đừng nói chuyện lúc này."

"Vâng."

Buộc xong miệng bao, tôi mới cắt cuống tổ.

Cắt bằng dao rựa, một nhát. Cắt hai nhát là hỏng.

Cái tổ rơi vào bao, nặng hơn tôi tưởng. Trong bao có tiếng ù lên, rồi lặng dần.

Tôi xuống thang. Cậu Đoan vẫn giữ nguyên hai tay ở bậc thang, không nhúc nhích.

"Xong rồi chú."

"Xong rồi ạ?"

"Ừ."

"Cháu tưởng phải lâu hơn."

"Trèo lên trèo xuống là hai mươi phút. Làm thì bốn phút."

"Bốn phút thôi ạ?"

"Ừ. Cái nghề này nó chỉ có bốn phút. Còn lại là đứng nhìn."

Sáng hôm sau tôi ra lấy tiền.

Anh Trữ đưa tôi một triệu hai, đếm hai lần.

"Bác Chản này."

"Anh."

"Bên công ty người ta gọi cho tôi hôm qua."

"Người ta nói gì?"

"Người ta bảo cái tổ thứ hai thì hợp đồng cũ không tính, phải ký phụ lục."

"Ừ."

"Tôi bảo tôi thuê bác rồi."

"Anh nói thế người ta có khó chịu không?"

"Có. Nhưng tôi kệ."

Tôi cầm tiền, gấp lại, cho vào túi ngực.

"Anh Trữ ơi."

"Bác nói."

"Cái hợp đồng bảo hành ba tháng của người ta ấy."

"Sao ạ?"

"Anh đừng bỏ. Anh cứ giữ."

"Bác bảo tôi giữ làm gì? Người ta làm hỏng rồi."

"Người ta làm hỏng cái tổ trên cây, chứ người ta không làm hỏng cái giấy."

"Tôi vẫn không hiểu bác."

"Sang tháng chín, nếu ong quay lại chỗ cây muồng, thì anh có cái giấy ấy anh gọi người ta. Còn tôi thì tôi không có giấy nào cả."

Anh Trữ nhìn tôi khá lâu.

"Bác nói cho họ à?"

"Tôi nói cho anh. Anh là người trả tiền."

Tuần sau anh Trữ có kể tôi nghe một chuyện.

"Bác Chản ơi, tôi bị nhắc."

"Nhắc vì cái gì?"

"Vì thuê bác không có hoá đơn."

"Người ta nhắc thế nào?"

"Người ta bảo chi một triệu hai mà chỉ có tờ giấy viết tay là không đúng thể lệ."

"Ừ, đúng là không có hoá đơn thật."

"Tôi bảo với người ta là nếu chờ hoá đơn thì phải chờ thêm một tuần."

"Người ta nói sao?"

"Người ta bảo một tuần thì đã sao."

"Anh trả lời thế nào?"

"Tôi bảo một tuần nữa thì thêm hai người bị đốt."

Tôi nghe xong thì tôi ngồi im một lúc.

"Anh Trữ này."

"Bác nói."

"Lần sau anh đừng nói thế."

"Sao ạ? Tôi nói đúng mà."

"Đúng thì đúng, nhưng anh nói thế là anh đem người bị đốt ra để cãi. Người ta nghe là người ta nhớ cái câu ấy, chứ người ta không nhớ cái tổ."

"Thế tôi phải nói sao?"

"Anh cứ bảo tôi nhận việc gấp, giấy tờ tôi bổ sung sau. Ai hỏi thì anh đưa số điện thoại của tôi."

"Bác không ngại người ta gọi à?"

"Ngại gì. Tôi có làm sai đâu."

"Nhưng bác không có công ty, không có gì cả."

"Tôi có cái tên. Ba mươi mốt năm ở mấy xã quanh đây, hỏi bắt ong thì người ta chỉ đến tôi."

Chuyện lẽ ra hết ở đấy.

Làm ban đêm: một người trên thang cạy tấm tôn, một người giữ thang phía dưới.
Làm ban đêm: một người trên thang cạy tấm tôn, một người giữ thang phía dưới.

Nhưng hai tuần sau cậu Đoan tìm đến nhà tôi.

Nhà tôi ở cuối xóm, đi qua cái cầu ao. Cậu ấy phải hỏi ba người mới tìm ra.

"Bác Chản có nhà không ạ?"

"Có. Chú vào."

Tôi rót nước chè. Cậu ấy ngồi xuống cái ghế nhựa ngoài hiên.

"Cháu nghỉ bên ấy rồi bác."

"Nghỉ hẳn à?"

"Vâng."

"Vì cái vụ ong à?"

"Không phải. Cháu nghỉ vì cháu nghĩ mấy hôm."

"Chú nghĩ gì?"

"Cháu bán dịch vụ ba năm. Cháu thuộc bảng giá, thuộc tên thuốc, thuộc câu chào."

"Ừ."

"Nhưng hôm ấy bác đứng dưới gốc cây mười phút rồi bác biết có hai tổ. Còn cháu đứng đấy cả buổi, cháu chỉ biết cái tổ nào to thì báo giá cao."

"Chú nói nặng lời với chú quá."

"Cháu nói thật ạ."

Tôi ngồi im một lúc.

"Chú Đoan này."

"Dạ."

"Chú đừng nghĩ tôi giỏi hơn chú."

"Bác giỏi hơn cháu thật mà."

"Tôi có mỗi cái nghề này. Chú có bằng cấp, chú có công ty, chú đi được nhiều đường."

"Nhưng cháu không nhìn ra con ong."

"Chú nhìn ra chứ. Chú chỉ chưa đứng đủ lâu thôi."

"Đứng bao lâu hả bác?"

"Tôi cầm bao bốn năm mới được cầm sào."

Cậu ấy cười. Cười xong thì mặt lại xịu.

"Bác ơi, giờ cháu học có muộn không?"

"Chú bao nhiêu?"

"Hai mươi tám."

"Tôi hai mươi bảy mới bắt tổ đầu tiên."

Bây giờ thỉnh thoảng cậu Đoan vẫn đi với tôi.

Cậu ấy không lấy tiền công. Tôi trả thì cậu ấy không cầm, bảo cháu đi cho biết.

Tôi vẫn để cậu ấy giữ thang. Cậu ấy giữ chắc, và cậu ấy không ngoái lại nữa.

Cậu Rấn thì vẫn làm bảo vệ ở khu Bốn. Gặp tôi cậu ấy vẫn chào, vẫn gọi bác.

Có lần tôi hỏi cậu ấy còn sợ không. Cậu ấy bảo cháu không sợ, cháu chỉ hay ngước lên nhìn cây.

Có hôm đứng chờ trời tối, cậu ấy hỏi tôi.

"Bác ơi, sao bác không mở công ty?"

"Mở làm gì?"

"Có hoá đơn thì người ta thuê bác nhiều hơn."

"Ừ, đúng."

"Thế sao bác không mở?"

"Tôi năm mươi tám rồi chú. Với lại mở ra thì tôi phải nhận nhiều tổ."

"Nhận nhiều thì tốt chứ bác."

"Nhận nhiều thì có hôm tôi phải làm ban ngày."

Cậu Đoan không hỏi nữa.

Cái tổ ở khu Bốn, sang tháng chín ong không quay lại.

Anh Trữ có gọi báo cho tôi biết. Anh ấy vẫn giữ cái giấy bảo hành, không dùng đến.

Còn cái cây muồng thì họ tỉa bớt cành, cho nắng vào nhiều hơn.

Tỉa cành thì đúng. Chỗ nào rợp quá, kín gió, thì vò vẽ hay làm tổ.

Tôi có dặn anh Trữ một câu, dặn xong tôi về.

"Anh Trữ."

"Vâng bác."

"Sang năm khoảng tháng năm, anh ra đứng dưới gốc muồng mười phút."

"Đứng làm gì hả bác?"

"Ngước lên nhìn phía có nắng."

"Rồi sao ạ?"

"Nếu anh thấy có vạch bay qua bay lại thì anh gọi tôi sớm. Gọi sớm thì tổ còn bé, tôi lấy nhanh."

"Còn nếu tôi không nhìn thấy gì?"

"Thì anh cứ gọi tôi. Tôi ra tôi nhìn."

Anh ấy cười.

"Bác cứ hay nói kiểu ấy."

"Kiểu gì?"

"Kiểu như bác lúc nào cũng rỗi."

"Tôi rỗi thật mà anh. Cái nghề của tôi mỗi năm chỉ bận có ba tháng."

Đêm hôm làm cái tổ trong nhà xe, lúc xuống thang xong, cậu Đoan có hỏi tôi một câu nữa.

"Bác ơi, bác không sợ à?"

"Sợ chứ."

"Sợ mà bác vẫn trèo?"

"Chú nhầm rồi. Tôi trèo được là vì tôi sợ."

"Cháu không hiểu."

"Đứa nào không sợ thì nó làm ban ngày cho nhanh."

"Bác sợ nhất cái gì ạ?"

"Sợ nhất là lúc mình tưởng mình xong rồi."

"Sao lại thế hả bác?"

"Vì lúc ấy mình bỏ khăn ra, mình thở. Mà trong tổ vẫn còn mấy con nó chưa chịu."

Tôi cầm cái bao tải buộc miệng, xách xuống, để vào thùng.

Trong bao vẫn còn tiếng ù, nhỏ dần.

"Chú Đoan này."

"Dạ."

"Con ong nó không biết chú là công ty."

"Dạ?"

"Nó chỉ biết chú đang đứng ở đường bay của nó thôi."

Chia sẻ:FacebookXThreadsTelegram

Đọc tiếp

Cậu nhân viên bảo cái que dò nước của tôi trúng được mấy phần, tôi chỉ hỏi lại một câu là khoan xuống bao nhiêu mét
Truyện

Cậu nhân viên bảo cái que dò nước của tôi trúng được mấy phần, tôi chỉ hỏi lại một câu là khoan xuống bao nhiêu mét

Tôi tên Rạm, sáu mươi mốt tuổi, làm nghề tìm mạch nước và đào giếng khơi ba mươi chín năm. Xóm tôi có bốn mươi bảy nóc nhà, bốn mươi hai cái giếng là tôi đào. Công một giếng bây giờ chín triệu, mất bốn đến sáu ngày. Mùa hạn năm nay cả xóm cạn nước thì có công ty về, dựng bàn ở sân kho, phát tờ rơi khoan máy tám mươi mét, giá tám triệu rưỡi, một ngày một giếng. Cậu nhân viên bảo cái que thép tôi cầm đi dò thì trúng được mấy phần. Tôi không cãi, vì cậu ấy tính đúng. Tôi chỉ hỏi lại một câu về độ sâu. Còn cái tôi không nói ra hôm ấy thì nằm trong bốn quyển vở học trò, ghi từ năm tám chín, một trăm chín mươi sáu cái giếng.

· 25 phút đọc
Buổi họp phụ huynh đề nghị bỏ cái bến tôi chở học sinh hai mươi sáu năm vì đã có cầu mới, và tôi chỉ hỏi lại một câu về mấy cái vạch trên cột buộc thuyền
Truyện

Buổi họp phụ huynh đề nghị bỏ cái bến tôi chở học sinh hai mươi sáu năm vì đã có cầu mới, và tôi chỉ hỏi lại một câu về mấy cái vạch trên cột buộc thuyền

Tôi tên Đãi, năm mươi tám tuổi, nhận bến đò ngang này từ năm chín chín. Một chuyến chở mười tám người, có đủ mười tám cái phao, sáng nào tôi cũng đếm. Học sinh tôi không lấy tiền, tôi sống bằng chuyến chợ và khách lẻ. Cầu mới thông xe được tháng trước thì có công ty xe khách về mở tuyến đưa đón học sinh, và trong bản hợp đồng họ đưa cho hội phụ huynh có một câu bắt cam kết không dùng phương tiện nào khác qua sông. Tôi ngồi nghe hết. Trên cái cột buộc thuyền ở bến, hai mươi sáu năm tôi khắc hai mươi sáu vạch, mỗi năm một vạch, để biết mà buộc thuyền. Có bốn cái vạch nằm cao hơn hẳn những vạch còn lại. Chiều hôm ấy thầy hiệu trưởng cấp hai xuống bến xin xem cái cột.

· 21 phút đọc
Đoàn từ thiện lên điểm trường bảo tôi bước ra ngoài cho gọn khung ảnh, và tôi bước ra thật, chỉ xin họ đếm lại một lần số suất quà
Truyện

Đoàn từ thiện lên điểm trường bảo tôi bước ra ngoài cho gọn khung ảnh, và tôi bước ra thật, chỉ xin họ đếm lại một lần số suất quà

Tôi tên Nhiễu, bốn mươi bảy tuổi, dạy ở điểm trường lẻ này hai mươi bốn năm. Cả điểm có sáu mươi bảy học sinh, một mình tôi dạy ghép. Hôm ấy có đoàn từ thiện lên, sáu người, áo phông in tên đoàn ở ngực, mang theo một xe quà. Người trưởng đoàn bảo tôi đứng ra ngoài giúp một tí, để các cháu với đoàn thôi cho nó gọn khung. Tôi bước ra, đứng dưới gốc mít. Từ chỗ ấy tôi nhìn xuống sân và tôi đếm. Danh sách nhà tài trợ duyệt cho đoàn có năm mươi tám tên. Sổ của tôi thì có sáu mươi bảy.

· 20 phút đọc