
Cậu nhân viên bảo cái que dò nước của tôi trúng được mấy phần, tôi chỉ hỏi lại một câu là khoan xuống bao nhiêu mét
"Bác cầm cái que ấy đi vòng vòng thì trúng được mấy phần hả bác? Máy bên cháu dò bằng sóng, sai số dưới một mét."
"Ừ."
"Cháu nói không phải để chê bác đâu ạ."
"Tôi biết."
"Thời buổi này rồi bác ạ."
"Ừ, thời buổi này rồi."
Hôm ấy là chiều thứ bảy, ở sân nhà ông Khiển, có mười hai người.
Tôi tên Rạm, sáu mươi mốt tuổi, làm nghề tìm mạch nước và đào giếng khơi ba mươi chín năm.
Xóm tôi là xóm Gò, nằm trên một cái thềm đất cao, ba mặt là ruộng, một mặt giáp bãi.
Cả xóm có bốn mươi bảy nóc nhà. Bốn mươi hai cái giếng trong xóm là tôi đào.
Giếng khơi thì đường kính tám tấc, xây gạch, sâu từ mười hai đến mười tám mét tuỳ chỗ.
Đào một cái mất bốn đến sáu ngày, hai người làm. Công một giếng bây giờ là chín triệu, gồm cả gạch cả vữa.
Một năm tôi làm được bảy tám cái. Có năm chỉ ba cái.
Vợ tôi mất năm hai nghìn mười chín. Tôi có hai đứa con gái, đều lấy chồng xa, năm về hai lần.
Tôi kể mấy con số đó ra vì lát nữa có người sẽ nói tới nó. Người ấy nói không sai.
Cậu ta tên Vĩ, ba mươi tuổi, mặc áo phông có in tên công ty ở ngực trái.
Công ty của cậu ấy chuyên khoan giếng bằng máy. Tuần trước họ về xóm, dựng một cái bàn ở sân kho, phát tờ rơi.
Tờ rơi in màu, có ảnh cái máy khoan màu vàng, và một dòng chữ to: khoan sâu, nước sạch, bảo hành ba năm.
"Bác Rạm ạ, cháu tính thế này."
"Chú tính đi."
"Giếng khơi của bác sâu mười mấy mét. Mùa hạn năm nay bác thấy đấy, cạn hết."
"Cạn thật."
"Máy bên cháu khoan tám mươi mét. Xuống tầng sâu, mùa nào cũng có nước."
"Ừ."
"Giá tám triệu rưỡi trọn gói. Rẻ hơn công đào của bác."
"Rẻ hơn thật."
Cậu ấy dừng lại, chờ tôi cãi.
Tôi không cãi. Công đào của tôi chín triệu thật, mà cậu ấy lấy tám triệu rưỡi thật.
"Bác không nói gì ạ?"
"Chú tính đúng thì tôi nói gì."
"Cháu tưởng bác phản đối."
"Phản đối cái đúng thì tôi phản đối bằng gì?"
Ông Khiển ngồi cạnh tôi, hắng giọng.
"Bác Rạm có ý kiến gì không?"
"Tôi có một câu hỏi thôi."
"Bác cứ hỏi."
"Chú khoan xuống bao nhiêu mét?"
"Dạ tám mươi ạ. Có nhà cháu khoan chín mươi."
"Ừ."
"Sao hả bác?"
"Không sao. Tôi hỏi cho biết."
Có tiếng cười ở góc sân. Tôi biết là ai, nhưng chuyện ấy không quan trọng.
Nghề của tôi là nghề đứng dưới hố. Đứng dưới hố thì không cãi được với người đứng trên.
Chuyện cái que thì tôi phải nói cho rõ.
Cái que của tôi là hai đoạn thép phi sáu, bẻ chữ L, dài gang tay.
Tôi cầm hai đoạn ấy đi ngang qua đất. Chỗ nào hai đầu que xoay vào nhau thì tôi đánh dấu.
Người ta bảo cái đó là mê tín. Tôi không cãi.
Tôi chỉ nói thế này: cái que ấy tôi dùng để khoanh vùng cho nhanh, còn chốt chỗ nào thì tôi chốt bằng cái khác.
"Cái khác là cái gì hả bác?" Cậu Vĩ hỏi.
"Là cái sổ."
"Sổ gì ạ?"
"Sổ tôi ghi."
"Bác ghi gì trong đấy?"
"Ghi giếng."
Chuyện cuốn sổ nó bắt đầu từ năm tám mươi chín.
Năm ấy tôi hai mươi bốn tuổi, mới ra nghề được hai năm, đi theo ông chú họ.
Tôi đào cho nhà bà Riệc ở cuối xóm. Đào tới mười ba mét thì gặp nước. Nước trong, tôi mừng.
Ba hôm sau bà Riệc ra tìm tôi ở bãi.
"Cậu Rạm."
"Bà."
"Nước nhà tôi nó chát."
"Chát là sao hả bà?"
"Là nấu canh không ăn được. Pha chè thì đục."
Tôi xuống xem. Tôi múc lên nếm. Nó chát thật, chát ở cuống lưỡi.
Tôi phải đào lại cho bà một cái khác, cách chỗ cũ mười bốn mét, sâu hơn hai mét.
Cái thứ hai thì nước ngọt. Nhưng tôi mất bốn ngày công không lấy tiền.
Tối hôm đó tôi ngồi nghĩ mãi.
Hai chỗ cách nhau có mười bốn mét. Cùng một mảnh vườn. Mà một chỗ ngọt, một chỗ chát.
Tôi không hiểu tại sao. Đến giờ tôi cũng không hiểu hết.
Nhưng tôi nghĩ ra một việc tôi làm được: tôi ghi lại.
Hôm sau tôi mua một quyển vở kẻ ngang, loại vở học trò, ba trăm đồng.
Tôi ghi cái giếng nhà bà Riệc vào trang đầu.
Ghi ngày, ghi tên chủ nhà, ghi chỗ đào cách cái gì bao nhiêu mét, ghi sâu bao nhiêu, ghi đào tới mét thứ mấy thì đổi đất.
Rồi ghi nước ngọt hay chát. Rồi cuối mùa khô năm sau ghi thêm một dòng: còn nước hay cạn.
Từ đấy đến giờ tôi ghi như thế. Bốn mươi hai cái giếng trong xóm, cộng với ngoài xóm là một trăm chín mươi sáu cái.
Bốn quyển vở. Quyển đầu giấy đã ố vàng, chữ nhoè, tôi phải chép lại một lần vào năm hai nghìn linh năm.

Tôi ghi không phải vì tôi nghĩ xa. Tôi ghi vì tôi sợ đào phải chỗ chát lần nữa.
Cái nghề này người ta trả tiền cho mình để lấy nước. Đào ra nước chát thì mình đào không công, mà chủ nhà vẫn không có nước.
"Bác ghi được bao nhiêu cái rồi ạ?"
"Một trăm chín mươi sáu."
Cậu Vĩ ngẩng lên.
"Một trăm chín mươi sáu cái giếng?"
"Ừ."
"Trong bao lâu ạ?"
"Ba mươi tư năm."
"Bác ghi hết à?"
"Hết."
"Cả cái nào hỏng?"
"Cái hỏng thì tôi ghi kỹ hơn cái tốt."
Cậu ấy im một lúc.
"Sao lại thế hả bác?"
"Cái tốt thì nhớ làm gì. Cái hỏng mới phải nhớ."
Buổi họp hôm ấy có bảy nhà đăng ký khoan.
Nhà ông Khiển, nhà cô Thoăn, nhà anh Vện, nhà bà Quản, nhà anh Chỏm, nhà bà Đắn, nhà chị Riu.
Chú Lếu không đăng ký. Chú ấy bảo giếng nhà chú ấy tôi đào rồi, chưa cạn thì chưa khoan.
Nhà anh Chỏm, nhà bà Đắn với nhà chị Riu thì ở phía trong, giáp bãi.
Tôi ngồi nghe người ta ghi tên. Tôi không nói gì thêm.
Ra khỏi sân, cô Thoăn đi cạnh tôi một đoạn.
"Bác Rạm này."
"Cô."
"Bác giận cháu không?"
"Giận gì cô?"
"Cháu đăng ký khoan máy."
"Cô đăng ký thì cô đăng ký. Việc gì tôi phải giận."
"Nhà cháu năm nay cạn từ tháng ba. Cháu gánh nước ở nhà bác Khiển suốt."
"Tôi biết."
"Cháu mệt lắm bác ạ."
"Ừ. Cô cứ khoan đi."
Cô ấy đi được mấy bước rồi quay lại.
"Bác không nói gì với cháu à?"
"Có một câu."
"Bác nói đi."
"Khoan xong thì cô nếm thử. Nếm ngay lúc mới lên, đừng để lắng."
"Nếm làm gì hả bác?"
"Cứ nếm đi cô."
Máy về xóm ngày mười bảy tháng tư.
Cái máy đúng là màu vàng như trong tờ rơi. Nó đỗ ở đầu ngõ nhà ông Khiển, kéo theo một cái xe tải nhỏ chở ống.
Tôi ra xem. Tôi không giấu, tôi ra xem thật.
Ba mươi tư năm tôi chỉ biết đào bằng tay. Cái máy ấy tôi chưa thấy bao giờ.
"Bác Rạm ra xem à?" Cậu Vĩ cười.
"Ừ, tôi ra xem."
"Bác thấy thế nào?"
"Nhanh."
"Vâng, nhanh lắm bác ạ. Một ngày một giếng."
"Một ngày thật à?"
"Vâng. Sáng khoan, chiều lắp bơm, tối là có nước."
"Tôi đào bốn ngày."
"Đấy, cháu nói mà bác."
Tôi đứng xem tới trưa.
Cái mũi khoan xuống đất, nước bùn trào lên, đục ngầu. Cứ mỗi đoạn ống họ lại nối thêm một đoạn.
Tôi đếm ống. Ống dài sáu mét một đoạn.
Đến đoạn thứ tám thì tôi đi về.
Tối hôm ấy nhà ông Khiển có nước.
Sáng hôm sau ông Khiển sang nhà tôi, cầm theo một cái ca.
"Bác Rạm."
"Ông."
"Bác nếm hộ tôi cái này."
Tôi ngửa cái ca lên.
Chát. Chát ở cuống lưỡi, đúng cái vị tôi nếm ở giếng bà Riệc năm tám chín.
"Sao rồi bác?"
"Ông nếm chưa?"
"Tôi nếm rồi. Tôi hỏi bác cho chắc."
"Thế thì ông biết rồi."
Ông Khiển ngồi phịch xuống bậc thềm.
"Tôi trả tám triệu rưỡi rồi bác ạ."
"Ừ."
"Nó bảo bảo hành ba năm."
"Bảo hành cái gì?"
"Bảo hành bơm với ống."
"Còn nước thì sao?"
Ông ấy không trả lời.
Ba hôm sau đến nhà anh Vện.
Anh Vện gọi tôi lúc chín giờ tối, giọng gấp.
"Bác Rạm ơi bác sang cháu cái."
"Có việc gì?"
"Nước nhà cháu nó thế nào ấy."
Tôi sang. Tôi nếm.
Cũng chát. Nhạt hơn nhà ông Khiển một chút, nhưng chát.
"Bác ơi cháu vừa đổ hai tạ xi măng làm bể."
"Ừ."
"Giờ tính sao hả bác?"
"Chú gọi công ty."
"Cháu gọi rồi."
"Nó bảo sao?"
"Nó bảo nước tầng sâu thì có khoáng, uống quen là hết."
Tôi nghe câu đó xong thì tôi về nhà.
Tôi mở tủ, lấy bốn quyển vở ra, để lên bàn.
Rồi tôi ngồi đọc từ đầu.
Đọc tới hai giờ sáng.

Sáng hôm ấy bà Quản gọi tôi từ sớm.
Bà Quản bảy mươi tám tuổi, ở một mình, con trai đi làm trong Nam.
"Bác Rạm ơi."
"Bà."
"Bác nếm giúp tôi."
Tôi cầm cái gáo, húp một ngụm. Tôi không nói gì.
"Chát phải không bác?"
"Vâng bà ạ."
"Tôi nếm rồi. Tôi cứ mong là tại lưỡi tôi già."
"Lưỡi bà không già đâu."
Bà ngồi xuống cái chõng ngoài hiên.
"Bác Rạm này."
"Bà nói đi."
"Tám triệu rưỡi ấy tôi vay của con Nhỡ."
"Con Nhỡ nào bà?"
"Con bé bán hàng đầu ngõ. Nó cho tôi vay không lấy lãi."
"Bà định trả bằng gì?"
"Thằng con tôi tháng sau nó gửi ra."
"Vâng."
"Tôi tưởng có nước rồi thì tôi khỏi phải nhờ hàng xóm nữa."
"Bà đừng nghĩ thế."
"Tôi bảy mươi tám rồi bác ạ. Gánh một đôi nước là tôi phải nghỉ ba lần."
Tôi ngồi im. Tôi không có câu nào để nói với bà cả.
"Bác Rạm."
"Bà."
"Bác có cách nào không?"
"Bà cho tôi hai hôm."
"Bác đừng an ủi tôi."
"Tôi không an ủi bà. Tôi nói hai hôm là hai hôm."
Sáng hôm sau tôi ra sân kho, chỗ công ty vẫn kê bàn.
Cậu Vĩ đang ngồi ghi giấy tờ.
"Chào bác Rạm."
"Chú Vĩ."
"Bác có việc gì không ạ?"
"Tôi hỏi chú một câu."
"Bác hỏi."
"Chú khoan bảy nhà, mấy nhà bị chát?"
Cậu ấy đặt bút xuống.
"Dạ hai ạ."
"Ba."
"Dạ?"
"Ba. Sáng nay nhà bà Quản cũng chát. Bà ấy vừa bảo tôi."
Cậu Vĩ lật sổ ra xem.
"Nhà bà Quản khoan hôm kia ạ."
"Ừ. Hôm kia."
"Bác ơi cái này bên cháu có giải thích rồi. Nước tầng sâu thì hàm lượng khoáng nó cao hơn."
"Chú tin cái câu ấy không?"
"Dạ?"
"Tôi hỏi thật. Chú có tin không?"
Cậu ấy không trả lời ngay.
"Cháu là bên kinh doanh bác ạ. Cái đó bên kỹ thuật người ta nói."
"Ừ."
"Bác đừng khó cháu."
"Tôi không khó chú. Chú hai mươi mấy tuổi, chú làm theo cái người ta bảo, tôi có khó gì chú."
"Cháu ba mươi rồi bác."
"Ba mươi thì cũng thế."
Tôi ngồi xuống cái ghế nhựa đối diện.
"Chú Vĩ này."
"Dạ."
"Chú có biết ba nhà chát ấy nằm ở đâu không?"
"Dạ ở trong xóm."
"Tôi hỏi là nằm ở chỗ nào trong xóm."
Cậu ấy nhìn tôi.
"Cháu... cháu không để ý ạ."
"Nhà ông Khiển ở đầu xóm. Nhà anh Vện cách đấy sáu chục mét. Nhà bà Quản cách nhà anh Vện bốn chục mét."
"Vâng."
"Ba nhà ấy nằm trên một đường thẳng, chạy dọc theo cái mương cũ."
"Mương nào ạ?"
"Cái mương lấp năm chín tám. Giờ là đường bê tông rồi, chú đi qua không biết."
Cậu Vĩ ngồi thẳng lên.
"Bác nói tiếp đi ạ."
"Bốn nhà kia thì nằm phía trong, cách cái đường ấy hơn trăm mét."
"Bốn nhà kia nước ngọt ạ?"
"Ngọt. Chú đi hỏi lại mà xem."
Cậu ấy cầm bút lên rồi lại đặt xuống.
"Bác Rạm ơi."
"Ừ."
"Sao bác biết?"
"Vì tôi đào ở đây ba mươi chín năm."
"Bác đào chỗ ấy rồi à?"
"Chỗ nhà ông Khiển tôi đào năm chín tư. Sâu mười lăm mét, nước ngọt, đến giờ vẫn ngọt, chỉ mùa hạn thì cạn."
"Thế sao khoan sâu lại chát?"
Tôi mở quyển vở thứ hai ra, lật đến trang có gấp mép.
"Chú đọc cái này."
Cậu ấy cúi xuống đọc.
Đó là trang tôi ghi năm hai nghìn linh hai, nhà chú Lếu, cách nhà ông Khiển ba chục mét.
Hôm ấy tôi đào tới mười sáu mét thì gặp nước, nhưng nước ít, chủ nhà bảo đào cố thêm.
Tôi đào thêm hai mét nữa. Đến mét thứ mười tám thì gặp một lớp đất khác, xám, dẻo, có mùi.
Cái gì nằm dưới lớp ấy thì chát. Tôi đào tới đâu nước rỉ ra tới đấy, nếm là biết.
Tôi phải lấp ngược lại hai mét, đổ đá hộc, xây bịt.
"Bác lấp ngược lại ạ?"
"Ừ."
"Lấp thế thì mất công không?"
"Mất một ngày rưỡi."
"Bác lấy thêm tiền chú Lếu không?"
"Không."
"Sao ạ?"
"Vì tôi đào quá tay. Tôi làm hỏng thì tôi chịu."
Cậu Vĩ đọc lại trang ấy lần nữa.
"Bác ơi, lớp đất xám ấy nó ở mét thứ mười tám."
"Ừ."
"Máy bên cháu khoan tám mươi mét."
"Ừ."
"Tức là bên cháu lấy nước ở dưới nó."
"Chú tự nói ra đấy nhé. Tôi không nói."
Cậu ấy ngồi im khá lâu.
Nắng lên tới giữa sân kho. Có con gà đi qua chân bàn.
"Bác Rạm."
"Ừ."
"Bác biết chuyện này từ bao giờ?"
"Từ hôm chú đứng ở sân nhà ông Khiển."
"Từ hôm ấy cơ ạ?"
"Ừ."
"Sao hôm ấy bác không nói?"
"Tôi có nói. Tôi hỏi chú khoan bao nhiêu mét."
"Cháu tưởng bác hỏi cho biết."
"Tôi hỏi cho biết thật. Biết rồi thì tôi im."
"Sao bác lại im hả bác?"
Tôi nghĩ một lúc rồi tôi trả lời thật.
"Vì hôm ấy tôi nói ra thì cả xóm bảo tôi giữ nghề."
Cậu Vĩ nhìn xuống mặt bàn.
"Cháu hiểu rồi ạ."
"Chú hiểu thì tốt."
"Nhưng mà bác ơi."
"Ừ."
"Ba nhà kia họ mất tiền rồi."
"Tôi biết."
"Bác không thấy tiếc à?"
"Tiếc chứ. Nhưng tôi tiếc thì cũng chả ra nước."
Chiều hôm ấy có một người nữa xuống xóm.
Anh ta tên Trạc, ba mươi bảy tuổi, kỹ thuật của công ty, đi xe máy từ ngoài thị trấn vào.
Anh ấy tìm đến nhà tôi lúc bốn giờ.
"Bác là bác Rạm ạ?"
"Tôi đây."
"Cậu Vĩ gọi tôi. Cậu ấy bảo bác có mấy quyển sổ."
"Có."
"Bác cho tôi xem được không ạ?"
"Anh vào."
Tôi rót nước. Anh ấy ngồi xuống, mở cặp lấy ra một tập giấy.
"Đây là bản mặt cắt địa chất khu này bác ạ. Bên tôi có."
"Anh cho tôi xem với."
Anh ấy trải ra bàn. Tôi nhìn. Tôi không hiểu.
"Anh Trạc."
"Dạ bác."
"Tôi không đọc được cái này."
"Bác cứ nhìn mấy cái vạch ngang thôi. Mỗi vạch là một tầng."
"Ừ."
"Tầng này là cát pha, tầng này là sét, tầng dưới cùng là cát cuội chứa nước."
"Cái tầng sét ấy nó dày bao nhiêu?"
"Trong bản này ghi trung bình bốn mét."
"Ở chỗ nào?"
Anh Trạc dừng lại.
"Bác hỏi gì cơ ạ?"
"Bản này vẽ cho cả vùng hay cho xóm tôi?"
"Cho cả vùng ạ."
"Vùng rộng bao nhiêu?"
"Khoảng... hơn hai chục cây vuông."
"Xóm tôi rộng bốn trăm mét."
Anh ấy nhìn tôi. Rồi anh ấy nhìn xuống bản vẽ.
"Vâng ạ."
"Anh Trạc này."
"Dạ."
"Tôi không nói bản của anh sai. Tôi không biết đủ để nói câu ấy."
"Vâng."
"Tôi chỉ biết là ở cái vệt dọc mương cũ, xuống quá mười tám mét là gặp lớp xám."
"Vâng."
"Và dưới cái lớp ấy thì nước chát. Sâu bao nhiêu tôi không biết, tôi chỉ đào tới đấy."
"Bác chắc không ạ?"
"Tôi mở sổ cho anh xem."
Tôi để bốn quyển lên bàn.
Anh Trạc mở quyển đầu. Anh ấy đọc rất chậm.
Đọc hết trang này sang trang khác, thỉnh thoảng lấy điện thoại chụp lại.
Được nửa quyển thì anh ấy ngẩng lên.
"Bác ơi."
"Ừ."
"Bác ghi cả mùa khô năm sau nữa à?"
"Ừ. Cuối tháng năm tôi đi một vòng."
"Đi làm gì ạ?"
"Đi hỏi xem cái giếng năm ngoái còn nước không."
"Bác đi hết một trăm chín mươi sáu nhà?"
"Nhà nào xa quá thì tôi gọi."
"Mỗi năm ạ?"
"Mỗi năm."
"Bác cho cháu hỏi thêm."
"Anh hỏi."
"Bác đo sâu bằng gì ạ?"
"Bằng dây."
"Dây gì hả bác?"
"Dây gai, buộc hòn đá. Tôi đánh dấu từng mét bằng sơn."
"Bác không dùng thước cuộn à?"
"Thước cuộn dưới hố nó ướt, nó dính, đọc sai."
"Vâng."
"Với lại thả dây thì tôi biết đáy nó cứng hay mềm."
"Biết bằng cách nào ạ?"
"Hòn đá chạm đáy, cái tay mình nó nhận ra. Đất cứng thì dây nảy, bùn thì dây lịm."
Anh Trạc ghi vào sổ tay.
"Còn cái lớp xám ấy bác phân biệt thế nào?"
"Bằng tay."
"Bác sờ ạ?"
"Tôi bóp. Đất sét thường thì bóp nó dẻo, buông ra nó giữ nguyên hình ngón tay."
"Còn lớp xám?"
"Lớp xám nó cũng dẻo, nhưng bóp xong tay tôi có mùi."
"Mùi gì hả bác?"
"Mùi như trứng để lâu. Nhạt thôi, phải đưa lên mũi."
"Bác ghi cả cái mùi vào sổ à?"
"Ghi chứ. Tôi ghi là đất có mùi."
"Sao bác biết cái mùi ấy là quan trọng?"
"Tôi không biết. Tôi chỉ ghi vì nó lạ."
"Rồi sau bác mới biết ạ?"
"Sau ba cái giếng thì tôi biết. Ba cái đều có mùi ấy, ba cái đều chát."
Anh ấy đặt điện thoại xuống.
"Bác ạ, cái lớp xám ấy nó là cái mái. Dưới nó là tầng nước mặn cũ, biển ngày xưa để lại."
"Tôi không biết biển nào. Tôi chỉ biết qua lớp ấy là chát."
"Vâng, bác không cần biết tên nó."
"Nhưng anh Trạc này."
"Dạ bác."
"Bốn nhà kia cũng tám mươi mét, sao lại ngọt?"
"Cái đó thì bác nói tôi mới nghĩ ra."
"Anh nghĩ ra gì?"
"Bốn nhà ấy bác đào, xuống mười tám mét vẫn là đất vàng phải không ạ?"
"Vẫn đất vàng. Không có lớp xám nào."
"Thế thì chỗ dọc mương cái mái nó mỏng, hoặc nó đứt. Cái mương cũ ngày xưa nó khoét."
"Khoét thì sao?"
"Khoét thủng cái mái thì mặn ở dưới nó dâng lên được."
Tôi ngồi nghĩ câu ấy một lúc lâu.
"Anh Trạc."
"Dạ."
"Thế là cái mương lấp năm chín tám nó vẫn còn."
"Vâng bác. Lấp trên mặt thôi, dưới đất nó vẫn nằm đấy."
"Bác làm cái này để làm gì hả bác?"
"Để lần sau đào cho đúng."
"Chỉ thế thôi ạ?"
"Chỉ thế thôi."
Anh Trạc ngồi thêm một lúc rồi anh ấy nói câu này.
"Bác ạ, cái bên tôi gọi là số liệu quan trắc thì nó cũng là cái này thôi. Chỉ khác là người ta làm bằng máy, mỗi điểm đo vài năm."
"Ừ."
"Còn bác thì ba mươi chín năm, một trăm chín mươi sáu điểm, trong bốn trăm mét."
"Tôi không biết mấy cái tên ấy."
"Vâng, cháu biết bác không biết."
Tối hôm ấy anh Trạc gọi điện về công ty ngay ở sân nhà tôi.
Tôi không nghe rõ. Tôi chỉ nghe anh ấy nói đi nói lại hai chữ mười tám.
Gọi xong anh ấy quay vào.
"Bác Rạm."
"Ừ."
"Ngày kia bên tôi dừng khoan ở xóm này."
"Dừng hẳn à?"
"Dừng để khảo sát lại. Ba nhà chát thì bên tôi làm lại, không lấy thêm tiền."
"Sao bên anh chịu?"
"Vì bên tôi còn khoan hai xóm nữa bác ạ. Sửa ba cái giếng rẻ hơn là để tiếng đồn đi khắp vùng."
"Làm lại thế nào?"
"Bịt tầng dưới, đặt ống lọc ở tầng nông. Cái này bên tôi làm được."
"Ở mét thứ bao nhiêu?"
"Bác bảo tôi nên đặt ở mét thứ bao nhiêu?"
Tôi bật cười. Lâu lắm rồi tôi mới cười.
"Anh hỏi tôi à?"
"Tôi hỏi bác thật đấy ạ."
"Mười lăm. Chỗ nhà ông Khiển thì mười lăm."
"Sao lại mười lăm ạ?"
"Vì năm chín tư tôi đào ở đấy mười lăm mét, và ba mươi hai năm nay nó vẫn ngọt."
"Nhưng bác ạ, đặt nông thế thì mùa hạn nó lại cạn."
"Cạn thì gánh. Chát thì đổ đi."
Anh Trạc không nói gì thêm.
Anh Trạc ghi vào sổ tay. Tôi nhìn thấy anh ấy ghi.
Trước hôm làm lại, anh Trạc gọi cho tôi.
"Bác Rạm ạ, bên tôi mang ba mẫu nước đi phân tích rồi."
"Kết quả sao hả anh?"
"Ba mẫu đều vượt ngưỡng."
"Vượt cái gì?"
"Chỉ số mặn với sunfat ạ."
"Tôi không biết mấy chữ ấy."
"Nói gọn là nước có muối và có một chất làm nó chát."
"Ừ, thế thì đúng cái tôi nếm."
Anh ấy im một nhịp.
"Bác nếm mà bác biết à?"
"Tôi không biết nó là chất gì. Tôi chỉ biết cái vị ấy tôi gặp rồi."
"Gặp mấy lần rồi ạ?"
"Ba lần trước, với ba nhà năm nay. Năm tám chín, năm không hai, năm mười một."
"Bác nhớ cả năm à?"
"Tôi không nhớ. Tôi mở sổ ra tôi đọc."
"Vâng."
"Anh Trạc này."
"Dạ bác."
"Cái chỗ anh mang mẫu đi phân tích ấy, hết bao nhiêu tiền?"
"Ba mẫu hết bốn triệu hai ạ."
"Mấy ngày thì có kết quả?"
"Sáu ngày."
"Ừ."
"Bác hỏi làm gì hả bác?"
"Tôi hỏi để biết cái nếm của tôi nó đáng mấy tiền."
Anh Trạc cười.
"Bác nói thế thì tôi biết trả lời sao."
"Anh đừng trả lời. Tôi đùa đấy."
"Nhưng mà bác ạ, cái nếm của bác nó nhanh hơn sáu ngày."
"Nhanh hơn thì nhanh, nhưng nó không có tờ giấy nào."
"Vâng."
"Mà người ta thì tin tờ giấy."
"Lần này thì người ta tin bác trước, bác ạ."
"Người ta tin cái sổ, chứ không phải tin tôi."
"Cái sổ ấy chả phải bác ghi thì ai ghi."
Tuần sau họ làm lại ba cái giếng.
Nhà ông Khiển hết chát. Nhà anh Vện hết chát.
Nhà bà Quản thì phải làm hai lần, vì lần đầu bịt chưa kín, nước dưới nó vẫn rỉ lên.
Bốn nhà còn lại họ vẫn để nguyên, vì nước vẫn ngọt.
Bà Quản thì tôi sang trước khi họ làm lại.
"Bà ơi tôi nói với người ta rồi."
"Người ta bảo sao hả bác?"
"Người ta làm lại cho bà, không lấy thêm đồng nào."
"Thật hả bác?"
"Thật."
"Bác nói thế nào mà người ta chịu?"
"Tôi không nói gì cả. Tôi cho người ta xem cái sổ."
"Sổ gì hả bác?"
"Sổ tôi ghi giếng."
"Cái sổ ấy nó nói được à?"
"Nó không nói. Nó chỉ ghi ngày với số."
"Thế mà người ta chịu?"
"Người ta là dân trong nghề. Nhìn số là người ta biết."
"Thế còn tám triệu rưỡi của tôi?"
"Cái ấy bà mất rồi bà ạ. Người ta làm lại cho bà là người ta bù cái nước thôi."
Bà Quản gật đầu. Bà ấy không kêu một tiếng nào.
Bà ngồi im, hai tay để trên đầu gối.
"Bác Rạm."
"Bà."
"Tôi hôm nọ tôi có nói với con Nhỡ là bác không thích khoan máy."
"Bà nói thế à?"
"Tôi nói thế thật. Tôi xin lỗi bác."
"Bà nói cũng có phần đúng."
"Đúng chỗ nào hả bác?"
"Đúng ở chỗ tôi mất việc thật."
"Thế bác giận tôi không?"
"Bà bảy mươi tám, bà đi gánh nước ba lần nghỉ. Tôi giận bà thì tôi là cái gì."
Cô Thoăn sang nhà tôi, mang một rổ khoai.
"Bác Rạm."
"Cô."
"Cháu xin lỗi bác."
"Cô xin lỗi tôi cái gì?"
"Hôm ở sân nhà bác Khiển, cháu là người đầu tiên giơ tay đăng ký."
"Cô đăng ký thì cô được nước. Nước nhà cô ngọt mà."
"Nhưng cháu thấy áy náy."
"Cô áy náy thì cô mệt, chứ tôi có được gì đâu."
Cô ấy đứng ở cửa, không về.
"Bác ơi cháu hỏi thật."
"Cô hỏi."
"Bác có buồn không?"
Tôi nghĩ một lúc.
"Buồn thì có. Nhưng không phải buồn vì mất việc."
"Thế bác buồn vì cái gì?"
"Vì tôi im."
"Bác im lúc nào cơ?"
"Lúc chú Vĩ nói tám mươi mét, tôi biết là hỏng rồi. Mà tôi im."
"Bác nói ra thì người ta cũng bảo bác giữ nghề thôi bác ạ."
"Ừ. Nhưng ba nhà kia thì đỡ mất tiền."
Cô Thoăn không nói gì nữa.
Tôi tiễn cô ấy ra ngõ.
Ông Khiển sang nhà tôi tối hôm giếng ông ấy có nước ngọt trở lại.
Ông ấy mang sang nửa lít rượu.
"Bác Rạm."
"Ông."
"Tôi uống với bác chén."
"Tôi bỏ rượu lâu rồi ông ạ."
"Thế bác ngồi không với tôi cũng được."
Tôi rót nước cho ông ấy.
"Bác Rạm này."
"Ông nói đi."
"Hôm ở sân nhà tôi, tôi là người mời cái công ty ấy về."
"Tôi biết."
"Tôi cũng là người bảo bác có ý kiến gì không."
"Ông hỏi thế là phải."
"Bác không trách tôi à?"
"Ông mời người ta về vì cả xóm cạn nước. Trách gì ông."
"Nhưng tôi giục bà con đăng ký."
"Ừ."
"Bảy nhà, ba nhà hỏng."
"Ba nhà làm lại rồi."
"Bác nói nhẹ thế thôi. Chứ tôi ngủ không được mấy hôm."
"Ông ngủ không được thì ông uống ít rượu lại."
Ông Khiển cười, rồi ông ấy thôi cười.
"Bác Rạm ơi, tôi hỏi câu này."
"Ông hỏi."
"Nếu hôm ấy bác nói ra, tôi có nghe bác không?"
"Ông tự trả lời đi."
"Tôi không nghe."
"Đấy."
"Nhưng bác cứ nói. Lần sau bác cứ nói."
Mấy hôm sau, cậu Vĩ đến nhà tôi một mình, không mặc áo công ty.
"Bác Rạm."
"Chú Vĩ."
"Cháu sang xin bác một việc."
"Chú nói."
"Cháu xin chép lại mấy quyển sổ của bác."
Tôi nhìn cậu ấy.
"Chú chép làm gì?"
"Bên cháu còn khoan ở mấy xóm nữa bác ạ. Xóm Trại, xóm Đầm."
"Ừ."
"Cháu muốn biết trước chỗ nào nên dừng."
"Sổ của tôi chỉ ghi xóm Gò với mấy xóm quanh đây."
"Cháu biết ạ. Nhưng cháu muốn học cái cách bác ghi."
Tôi ngồi im một lúc.
Rồi tôi đứng dậy, lấy cả bốn quyển xuống, phủi bụi mặt gáy.
"Chú cầm về mà chép."
"Bác cho cháu mang về ạ?"
"Ừ."
"Bác không sợ cháu mất à?"
"Sợ chứ."
"Thế sao bác vẫn cho?"
"Vì tôi sáu mươi mốt rồi."
Cậu Vĩ cầm bốn quyển vở bằng hai tay.
"Cháu chép xong cháu mang trả bác ngay."
"Chú chép cẩn thận vào. Chữ tôi xấu, chỗ nào không đọc được thì chú hỏi tôi, đừng đoán."
"Vâng ạ."
"Đoán là hỏng đấy."
"Vâng, cháu không đoán đâu."
Cậu ấy đi ra tới ngõ rồi quay lại.
"Bác ơi."
"Ừ."
"Cháu hỏi cái này hơi tò mò."
"Chú hỏi đi."
"Ba mươi tư năm bác ghi cái sổ ấy, bác được thêm đồng nào không?"
"Không đồng nào."
"Không ai trả bác à?"
"Người ta trả tiền cho tôi để lấy nước. Có ai trả tiền cho tôi để tôi nhớ đâu chú."
"Thế bác nhớ cho ai?"
"Nhớ cho cái giếng sau."
"Cái giếng sau của nhà nào ạ?"
"Nhà nào cũng được. Lúc ghi thì tôi có biết nó là nhà nào đâu."
Cậu Vĩ đứng im ở cửa.
"Chú Vĩ này."
"Dạ."
"Chú đừng học cái que của tôi. Cái que thì ai cầm cũng được."
"Thế cháu học cái gì hả bác?"
"Học cái chỗ tôi ghi lúc tôi làm hỏng."
Cậu Vĩ chép mất mười một ngày.
Chép xong cậu ấy mang trả, gói trong một cái túi ni lông buộc dây.
Trong túi có thêm một quyển vở mới, cùng loại vở học trò.
"Cái này là gì hả chú?"
"Cháu mua biếu bác. Quyển thứ tư của bác gần hết rồi."
Tôi cầm quyển vở mới. Giấy trắng, còn mùi.
"Chú Vĩ."
"Dạ."
"Chú còn làm ở công ty không?"
"Còn ạ. Nhưng cháu chuyển sang bên khảo sát."
"Lương có kém đi không?"
"Kém hai triệu bác ạ."
"Thế sao chú chuyển?"
"Tại cháu nghĩ mãi cái câu bác hỏi cháu hôm ở sân kho."
"Câu nào?"
"Câu bác hỏi cháu có tin cái giải thích ấy không."
"Ừ."
"Cháu về cháu nghĩ ba đêm. Cháu không tin bác ạ."
Chuyện ấy là mùa hè năm nay. Bây giờ sang thu, tôi vẫn đào giếng.
Năm nay tôi đào được hai cái, đều ở xóm trong, đều nước ngọt.
Cái thứ hai tôi phải nhờ thằng cháu họ xuống thay, vì lưng tôi không cúi lâu được nữa.
Còn cái xóm Gò này thì gần như nhà nào cũng khoan máy rồi.
Tôi không giận. Máy nó nhanh thật, một ngày một cái, tôi bốn ngày.
Tôi chỉ dặn ai hỏi tôi thì tôi dặn đúng một câu: khoan xong nếm ngay lúc mới lên, đừng để lắng.

Thằng cháu họ tôi tên Đoải, hai mươi hai tuổi, đi làm với tôi được hai năm.
Hôm đào cái giếng thứ hai năm nay, nó hỏi tôi ở dưới hố.
"Chú ơi."
"Gì?"
"Cháu hỏi thật chú đừng mắng."
"Mày hỏi đi."
"Nghề này còn được mấy năm nữa hả chú?"
"Chú không biết."
"Người ta khoan máy hết rồi."
"Ừ."
"Thế cháu học làm gì?"
Tôi ngừng tay, ngồi xuống thành hố.
"Mày học đào thì mày học được hai tháng."
"Vâng."
"Cái mày chưa học được là cái khác."
"Cái gì hả chú?"
"Là biết lúc nào phải dừng."
"Dừng là dừng thế nào ạ?"
"Là đang đào, gặp nước ít, chủ nhà bảo cố thêm một mét. Lúc ấy mày dừng hay mày cố?"
"Cháu cố ạ. Chủ nhà bảo mà chú."
"Đấy. Cái ấy mày chưa học được."
Nó im một lúc rồi nó hỏi tiếp.
"Chú dừng bao giờ chưa?"
"Có. Nhà chú Lếu năm không hai."
"Chủ nhà không nói gì ạ?"
"Nói chứ. Chú ấy bảo tôi lười."
"Rồi sao chú?"
"Rồi tôi vẫn dừng. Rồi tôi lấp ngược hai mét."
"Chú không tiếc công à?"
"Tiếc. Nhưng nước chát thì cả nhà người ta uống, chứ có phải mình tôi uống đâu."
Cuối tháng năm vừa rồi tôi vẫn đi một vòng.
Đi hỏi xem cái giếng năm ngoái còn nước không.
Có nhà người ta ngạc nhiên, bảo bác không đào cho nhà cháu nữa mà bác vẫn đi hỏi à.
Tôi bảo tôi đi cho quen chân.
Nói thế cho gọn thôi. Thật ra là vì cái cột nước nó không biết ai đào.
Nó cứ lên rồi nó xuống theo mùa, ba mươi chín năm nay vẫn thế.
Mà cái gì nó lên xuống đều đặn như vậy thì phải có người ghi.
Quyển vở cậu Vĩ biếu, tôi đã ghi được chín trang.
Trang đầu tiên tôi ghi ba cái giếng làm lại, mét thứ mười lăm, nước ngọt.
Bên cạnh tôi ghi thêm một dòng nhỏ, chữ khác màu.
Dòng ấy ghi: đây không phải giếng của mình.


