
Cuộc họp xã đề nghị xoá cái bến tôi chở học sinh hai mươi sáu năm vì đã có cầu mới, và tôi chỉ hỏi lại một câu về mấy cái vạch trên cột buộc thuyền
"Có cầu rồi thì bác nghỉ đi cho bà con nhờ. Giờ còn ai đi đò nữa đâu ạ."
"Ừ."
"Cháu nói thật lòng. Bác chèo hai mươi mấy năm rồi, nghỉ là phải."
"Ừ."
"Bác đừng nghĩ là cháu đuổi bác."
"Tôi không nghĩ thế."
Tôi ngồi ở hàng ghế thứ ba, phía cửa. Chỗ ấy tôi hay ngồi vì gần lối ra, đứng dậy đỡ vướng ai.
Hôm ấy là họp mở rộng ở hội trường xã, sáng thứ năm, có mười chín người.
Tôi tên Đãi, năm mươi tám tuổi, chở đò ngang hai mươi sáu năm.
Bến của tôi ở khúc sông rộng chừng trăm tám mươi mét. Bờ bên này là xóm Bãi, bờ bên kia có trường cấp một cấp hai với cái chợ họp buổi sáng.
Một chuyến của tôi chở được mười tám người, có phao đủ mười tám cái, để trong khoang trước, bọc nilon chống mốc.
Sáng tôi ra bến lúc năm giờ kém. Chuyến đầu năm giờ mười. Chuyến ấy chở người đi chợ.
Từ sáu giờ mười lăm đến bảy giờ là học sinh. Tôi chạy bốn chuyến liền, không nghỉ.
Chiều bốn giờ rưỡi đến năm giờ rưỡi lại bốn chuyến nữa, ngược lại.
Học sinh tôi không lấy tiền. Cái này xã biết, và xã có hỗ trợ tôi một khoản, nhưng khoản ấy không đủ tiền dầu.
Người lớn thì bốn nghìn một lượt. Xe máy dắt xuống đò thêm bốn nghìn.
Tháng nào đông nhất tôi cầm về được hơn ba triệu. Tháng mưa thì kém hơn.
Chồng tôi mất năm hai nghìn linh chín. Tôi có một đứa con gái, nó lấy chồng trên thị trấn, tháng về một lần.
Tôi kể mấy cái đó ra không phải để ai thấy tội. Tôi kể vì lát nữa có người sẽ nhắc tới nó, và người ấy nhắc không sai.
Con gái tôi gọi về tối hôm ấy.
"Mẹ ơi con nghe nói xã định bỏ bến."
"Ừ."
"Thế mẹ tính sao?"
"Mẹ chưa tính gì."
"Hay mẹ nghỉ đi."
"Ừ."
"Mẹ đừng ừ với con."
"Thì mẹ ừ chứ mẹ nói gì."
"Mẹ nghỉ rồi lên đây với con. Nhà con có phòng."
"Rồi mẹ làm gì trên ấy?"
"Mẹ chả phải làm gì cả."
"Mẹ chả phải làm gì thì mẹ chết sớm."
"Mẹ nói gở."
"Mẹ nói thật."
Nó im.
"Con biết mẹ tiếc."
"Mẹ không tiếc."
"Thế mẹ giữ làm gì?"
"Mẹ không giữ. Mẹ chỉ chưa thấy ai hỏi cái câu cần hỏi."
"Câu gì hả mẹ?"
"Rồi con sẽ biết."
"Mẹ lại thế rồi."
"Ừ."
"Mẹ có ăn cơm chưa?"
"Ăn rồi."
"Ăn gì?"
"Cơm với cá."
"Cá gì?"
"Cá bống ông Tự cho."
Nó cười trong máy.
"Ông Tự lại cho mẹ cá à."
"Ông ấy cho cả xóm chứ riêng gì mẹ."
Một chuyến sáng của tôi nó thế này.
"Bà ơi cháu quên phao."
"Phao ở khoang trước, con lấy đi."
"Cháu lấy cái xanh được không ạ?"
"Cái xanh dây bị sờn. Con lấy cái cam."
"Cái cam nó to."
"To thì con buộc chặt vào."
"Bà ơi bạn Khôi không đeo kìa."
"Khôi."
"Dạ."
"Đeo vào."
"Cháu ngồi trong mà bà."
"Ngồi trong ngồi ngoài gì cũng đeo."
"Vâng ạ."
"Con đeo rồi bà mới đẩy sào."
Chuyến ấy mười tám phao tôi đếm hai lần. Một lần lúc lên, một lần lúc bảo chúng nó ngồi xuống.
Có hôm gió tây, mặt sông gợn, tôi cho chúng nó ngồi hết xuống sàn, không cho ngồi mạn.
"Bà ơi ngồi sàn bẩn quần."
"Bẩn quần thì giặt."
"Mẹ cháu mắng."
"Mẹ con mắng thì bảo bà Đãi bắt ngồi."
"Bà ơi hôm nay có gió à?"
"Ừ, gió trên nguồn về."
"Sao bà biết?"
"Nghe."
"Nghe cái gì ạ?"
"Nghe nước đập vào mạn. Gió xuôi thì nó đập một tiếng, gió ngược thì nó đập hai tiếng."
Nó im một lúc rồi nó nghe thật. Nó cúi đầu xuống sát mạn mà nghe.
Tôi để nó nghe.
Cầu mới thông xe tháng trước.
Cầu đẹp. Cầu rộng, có lan can sơn xanh, hai đầu cầu có đèn.
Hôm khánh thành tôi cũng ra xem. Tôi đứng ở bến nhìn lên, thấy người ta cắt băng, thấy trẻ con chạy trên cầu, thấy vui.
Tôi vui thật. Cái này tôi không nói dối.
Vì hai mươi sáu năm tôi chở, tôi biết cái sông này nó lấy của làng bao nhiêu người rồi.
"Bác Đãi có ý kiến gì không ạ?"
Anh cán bộ hỏi tôi. Anh ấy tên Chuẩn, làm bên kinh tế hạ tầng, về xã được hai năm.
Anh ấy trẻ, tóc chải, áo sơ mi trắng, nói năng lễ phép. Anh ấy gọi tôi bằng bác.
"Chú đọc lại giúp tôi cái đoạn ở giữa."
"Đoạn nào ạ?"
"Đoạn chú vừa đọc xong ấy."
Anh ấy cúi xuống tờ giấy.
"Dạ. Đề nghị chấm dứt hoạt động bến khách ngang sông xóm Bãi kể từ ngày một tháng chín, do công trình cầu đã đưa vào khai thác, tuyến đò không còn nhu cầu."
"Ừ."
"Bác thấy sao ạ?"
"Không còn nhu cầu."
"Dạ."
"Chú viết câu ấy hay là trên viết?"
"Dạ cháu tổng hợp lại thôi ạ. Ý là bên trên người ta hướng dẫn thế."
Ông Bái chủ trì gõ bút xuống bàn.
"Thôi cứ để bác ấy nói."
Tôi không nói gì thêm. Tôi ngồi im.
Tôi không giỏi cãi. Tôi chưa cãi ai bao giờ, kể cả những hôm khách say rượu đòi tôi chở lúc mười một giờ đêm.
"Bác Đãi ơi." Anh Chuẩn quay hẳn ghế lại. "Cháu hiểu là bác gắn bó. Nhưng mà bác cứ nghĩ thoáng ra. Bây giờ người ta đi xe máy lên cầu ba phút là sang. Đi đò của bác mất mười lăm phút, còn phải chờ đủ khách."
"Mười một phút."
"Dạ?"
"Chuyến của tôi mười một phút. Chờ khách thì tuỳ, nhưng chèo là mười một phút."
"Vâng thì mười một phút. Vẫn lâu hơn ba phút mà bác."
"Đúng rồi."
"Thế nên là..."
"Chú nói đúng. Đi cầu nhanh hơn."
Anh ấy nhìn tôi. Tôi nghĩ anh ấy tưởng tôi đang mỉa.
Nhưng tôi không mỉa. Đi cầu nhanh hơn thật.
"Vậy bác đồng ý ạ?"
"Tôi có một câu hỏi thôi."
"Dạ bác cứ hỏi."
"Mặt cầu cao bao nhiêu?"
Anh ấy dừng lại.
"Dạ bác hỏi cao là cao thế nào ạ?"
"Từ mặt nước lên mặt cầu. Lúc nước bình thường ấy."
"Cái đó thì... trong hồ sơ thiết kế có, nhưng cháu không nhớ số."
"Ừ."
"Nhưng mà nó cao chứ bác. Đứng dưới nhìn lên thấy cao mà."
"Ừ, nhìn thì cao."
Cả phòng có tiếng ai đó cười khẽ. Tôi không quay lại xem là ai.

Ông Bái đằng hắng.
"Cái đó để anh Chuẩn tra lại. Còn ý kiến gì nữa không?"
Cô Rớt bên hội phụ nữ giơ tay.
"Tôi thì tôi thấy thế này. Bến đò giờ nó cũng nguy hiểm. Trẻ con qua sông, lỡ có chuyện gì thì ai chịu."
"Vâng đúng rồi ạ." Anh Chuẩn gật. "Đấy cũng là một lý do ạ. Bỏ đò đi thì an toàn hơn cho các cháu."
"Bao nhiêu năm nay chưa có chuyện gì đâu chị." Ông Tự nói. Ông ấy ngồi cuối phòng, làm nghề đóng đáy, tay lúc nào cũng thâm.
"Chưa có không có nghĩa là không có."
"Vâng."
"Tôi nói thế thôi chứ tôi cũng quý bác Đãi."
"Vâng, tôi biết."
Tôi biết thật. Cô Rớt hồi bé cũng đi đò tôi. Con cô ấy giờ cũng đi đò tôi.
Cái làng này ai tôi cũng chở rồi. Có người tôi chở từ hồi họ còn phải bế, giờ họ đưa con họ xuống đò.
"Còn một cái nữa." Anh Chuẩn lật sang tờ sau. "Cái này cháu phải nói thẳng, mong bác đừng giận."
"Chú nói."
"Là có ý kiến phản ánh rằng bác không muốn bỏ bến vì bác còn thu tiền."
Phòng im.
Tôi ngồi im được một lúc.
"Ai phản ánh?"
"Dạ cái đó cháu không tiện nói."
"Ừ."
"Cháu cũng không tin đâu ạ. Nhưng đã có ý kiến thì cháu phải nêu."
"Chú nêu là đúng."
"Bác không phản đối gì ạ?"
"Tôi có thu tiền thật mà."
Anh Chuẩn hơi lúng túng.
"Vâng nhưng ý là..."
"Bốn nghìn một lượt. Xe máy thêm bốn nghìn. Học sinh không lấy."
"Vâng."
"Tháng vừa rồi tôi cầm về hai triệu tám. Trừ dầu, trừ sửa máy, còn một triệu chín."
"Vâng ạ."
"Chú ghi vào biên bản đi. Ghi đúng con số đấy."
"Dạ bác... cháu ghi làm gì ạ?"
"Ghi vào cho nó rõ. Sau này ai hỏi thì có mà đọc."
Anh ấy ghi. Tôi nhìn thấy anh ấy ghi.
Tôi không giận anh Chuẩn. Anh ấy hai mươi bảy tuổi, anh ấy làm theo hướng dẫn, và cái hướng dẫn ấy nó viết đúng cho chín mươi phần trăm những chỗ có cầu.
Chỉ có điều cái khúc sông này nó không nằm trong chín mươi phần trăm ấy.
Mà cái đó thì không ai bảo anh ấy cả.
Nghỉ giữa giờ, người ta ra sân uống nước.
Thầy Lãnh hiệu trưởng cấp hai đứng cạnh tôi ở gốc bàng.
"Bác Đãi."
"Thầy."
"Bác không nói gì thêm à?"
"Nói gì hả thầy?"
"Thì cái vụ họp sáng nay ấy."
"Tôi nói ra thì người ta bảo tôi giữ nghề."
Thầy Lãnh im một lúc.
"Bác nhớ năm hai nghìn hai mươi hai không?"
"Nhớ."
"Trường tôi cho nghỉ mấy hôm ấy nhỉ."
"Ba hôm."
"Bác nhớ kỹ thế."
"Ba hôm. Từ chiều thứ ba đến hết thứ năm. Nước lên tới cái mốc thứ hai mươi mốt."
"Mốc gì cơ bác?"
Tôi nhìn thầy ấy.
Tôi tưởng cả làng ai cũng biết. Hoá ra không phải.
"Thầy ra bến bao giờ chưa?"
"Ra chứ. Ngày nào chả đi qua."
"Thầy có nhìn cái cột buộc dây ở đầu bến không?"
"Cái cột bê tông ấy à?"
"Ừ."
"Có. Nó cũ rồi. Rêu bám xanh cả."
"Thầy có nhìn kỹ bao giờ chưa?"
Thầy Lãnh nghĩ.
"Chưa. Tôi chưa nhìn kỹ bao giờ."
"Vâng."
"Trên cột có gì hả bác?"
"Có vạch."
"Vạch gì?"
"Vạch nước."
Chuyện cái cột nó thế này.
Năm chín mươi chín tôi nhận bến. Năm ấy tôi ba mươi mốt tuổi, chồng tôi còn sống, ông ấy đóng cho tôi cái cột bê tông ở đầu bến để buộc dây mũi.
Mùa lũ năm ấy nước lên. Tôi lấy viên gạch non vạch một vạch ngang cột, chỗ nước dừng lại, rồi khắc bên cạnh hai chữ số cuối của năm.
Tôi vạch không phải vì tôi nghĩ xa. Tôi vạch vì đàn bà chèo đò thì phải biết nước năm nào cao hơn năm nào, để còn liệu mà buộc thuyền.
Năm sau tôi vạch tiếp. Năm sau nữa vạch tiếp.
Gạch non thì mưa nó trôi, nên từ năm hai nghìn linh ba tôi đổi sang khắc. Lấy đinh mười với búa, khắc lõm vào.
Hai mươi sáu năm, hai mươi sáu vạch.
Có năm nước thấp, vạch nằm gần chân cột. Có năm nước cao, tôi phải bắc ghế mà khắc.
Vạch cao nhất là năm hai nghìn không trăm ba. Vạch thứ hai là năm mười một. Thứ ba là năm mười bảy. Thứ tư là năm hai hai.
Bốn cái vạch ấy nằm cao hơn hẳn hai mươi hai vạch còn lại. Đứng xa nhìn cũng thấy.
Tôi biết mấy con số đó như biết tuổi con tôi.
Chiều hôm họp, tôi ra bến sớm hơn mọi ngày.
Tôi không có việc gì. Tôi chỉ ngồi.
Đến khoảng năm giờ thì thầy Lãnh xuống. Thầy ấy đi bộ, không đi xe.
"Bác cho tôi xem cái cột."
"Thầy xem đi."
Thầy Lãnh ngồi xổm xuống, lấy tay gạt rêu.
"Đây là năm bao nhiêu?"
"Chín chín. Cái đầu tiên."
"Còn cái này?"
"Không ba."
Thầy ấy đứng lên, lùi lại nửa bước, ngước nhìn.
"Cái vạch trên cùng kia là..."
"Hai hai."
"Cao thật."
"Vâng."
"Cao hơn đầu tôi."
"Cao hơn đầu thầy hai gang."
Thầy Lãnh đứng im khá lâu.
Tôi để thầy ấy đứng.
"Bác Đãi."
"Vâng."
"Mặt cầu nó ở đâu so với cái vạch này?"
"Thầy ra giữa bến mà nhìn."
Thầy ấy đi ra mép nước, quay người, ngẩng lên phía cầu.
Chỗ đó nhìn được cả hai. Cái cột ở bên trái, cái cầu ở bên phải, và mắt người ta tự bắc một đường ngang giữa hai cái.
"Nó thấp hơn."
"Vâng."
"Nó thấp hơn thật."
"Vâng thầy."
"Thấp hơn bao nhiêu?"
"Bốn vạch."
"Bốn vạch là mấy năm?"
"Không ba. Mười một. Mười bảy. Hai hai."
Thầy Lãnh quay lại nhìn tôi.
"Hai hai là năm trường tôi nghỉ ba hôm."
"Vâng."
"Mười bảy thì tôi chưa về đây."
"Năm mười bảy nghỉ hai hôm. Hôm thứ hai nước còn tràn qua đường xóm Bãi."
"Còn mười một?"
"Mười một tôi chở giáo viên. Cô Điềm với thầy Nhu. Chở lúc bốn giờ sáng để kịp coi thi."
"Bác chở lúc nước cao thế à?"
"Nước cao thì mới phải chở chứ thầy. Nước thấp thì người ta tự đi."
"Bác kể tôi nghe cái đêm hai hai đi."
"Kể làm gì thầy."
"Tôi muốn nghe."
"Đêm ấy mưa từ chiều. Chín giờ tối nước lên tới bậc thứ tư."
"Bậc bến này à?"
"Vâng. Bến có bảy bậc."
"Rồi sao ạ?"
"Mười giờ có người gọi cửa. Nhà bà Thoả bên kia, chồng bà ấy đau bụng."
"Bác chở à?"
"Chở."
"Ban đêm nước lũ mà bác chở?"
"Không chở thì ông ấy nằm đấy đến sáng."
"Bác không sợ à?"
"Sợ chứ thầy."
"Thế sao bác vẫn đi?"
"Sợ với đi nó là hai việc khác nhau."
Thầy Lãnh nhìn tôi.
"Bác chở mấy chuyến đêm ấy?"
"Ba."
"Ba cơ à?"
"Chuyến hai chở bà Thoả đi theo. Chuyến ba chở thằng con bà ấy, nó về muộn."
"Rồi bác về lúc mấy giờ?"
"Tôi không về. Tôi ngồi ở bến đến sáng."
"Sao bác không về?"
"Về thì ai trông thuyền. Nước ấy mà đứt dây là mất thuyền."
"Bác ngồi đâu?"
"Ngồi trên đê, chỗ gốc bàng."
"Mưa thế bác ngồi được à?"
"Có cái áo mưa."
"Suốt đêm?"
"Suốt đêm."
Thầy Lãnh không nói gì nữa. Thầy ấy quay ra nhìn sông.

Thầy Lãnh cúi xuống, phủi tay vào ống quần.
"Sao trong họp bác không nói?"
"Tôi nói thì thành ra tôi giữ nghề."
"Bác giữ thật mà."
"Vâng, tôi giữ thật."
"Thế thì có gì sai đâu."
"Có chứ thầy."
"Sai chỗ nào?"
"Người ta không phân biệt được đâu."
Thầy Lãnh nhìn tôi.
"Phân biệt cái gì cơ?"
"Phân biệt giữa tôi nói vì tôi cần tiền, với tôi nói vì cái cột nó ghi thế."
"Bác nghĩ nhiều quá."
"Tôi nghĩ vừa đủ thôi thầy ạ. Tôi nghĩ hai mươi sáu năm rồi."
Ba hôm sau thầy Lãnh mang cái cột ra cuộc họp.
Không phải mang thật. Cột bê tông ai vác đi được.
Thầy ấy đứng lên xin phát biểu, rồi thầy ấy nói đúng một câu.
"Tôi đề nghị hoãn cái tờ trình xoá bến, và trước khi họp lại thì các anh chị ra bến nhìn cái cột buộc dây một cái."
"Cột nào cơ thầy?"
"Cột ở đầu bến. Cái cột bà Đãi buộc thuyền."
"Cột thì có gì mà nhìn?"
"Trên đấy có hai mươi sáu cái vạch. Mỗi vạch một năm nước lũ."
Phòng im.
Anh Chuẩn ngồi thẳng lên.
"Vạch đấy ai vạch ạ?"
"Bà Đãi."
"Bác Đãi vạch từ bao giờ?"
Thầy Lãnh không trả lời. Thầy ấy nhìn tôi.
Tôi nói.
"Chín chín."
"Từ chín chín đến giờ ạ?"
"Vâng."
"Năm nào cũng vạch?"
"Năm nào cũng vạch."
"Sao bác lại vạch?"
"Để biết mà buộc thuyền."
"Chỉ để buộc thuyền thôi ạ?"
"Vâng. Chỉ thế thôi."
Anh Chuẩn cầm bút lên rồi lại đặt xuống.
"Bác ơi cháu hỏi thật. Bốn cái vạch cao nhất nó cao hơn mặt cầu à?"
"Cái đó chú phải đo, tôi không dám nói thay."
"Nhưng theo bác nhìn thì sao ạ?"
"Theo tôi nhìn thì cao hơn."
"Cao hơn nhiều không ạ?"
"Cái năm không ba thì cao hơn một khoảng bằng cái ghế chú đang ngồi."
Ông Bái đặt bút xuống.
"Anh Chuẩn."
"Dạ."
"Cao trình mặt cầu trong hồ sơ là bao nhiêu?"
"Dạ để cháu tra ạ."
"Anh tra bao giờ?"
"Dạ chiều nay ạ."
"Chiều nay tra xong thì mang sang tôi."
Chiều hôm ấy anh Chuẩn xuống bến.
Anh ấy đi xe máy, để xe trên đê, đi bộ xuống.
"Bác Đãi."
"Chú."
"Cháu tra rồi ạ."
"Ừ."
"Bác không hỏi cháu tra được gì à?"
"Chú xuống tận đây thì chắc là chú tra được rồi."
Anh ấy ngồi xuống bậc bến. Áo sơ mi trắng, ngồi ngay lên xi măng, không phủi.
"Cao trình mặt cầu là năm phẩy tám."
"Ừ."
"Cái vạch năm không ba của bác, cháu vừa dẫn cao độ, nó là sáu phẩy bốn."
"Vâng."
"Chênh sáu mươi phân."
"Vâng."
Anh ấy im một lúc.
"Cầu này thiết kế theo tần suất mười phần trăm bác ạ."
"Tôi không hiểu."
"Nghĩa là tính cho mực nước mà trung bình mười năm mới gặp một lần."
"Ừ."
"Nhưng cột của bác có bốn năm vượt qua nó trong hai mươi sáu năm."
"Vâng."
"Thế là hơn mười phần trăm."
"Chú tính thì chú biết."
"Bác ơi cháu hỏi thêm một câu."
"Chú hỏi."
"Hôm nước lên tới cái vạch không ba ấy, bác có chở không?"
"Không."
"Không chở ạ?"
"Nước ấy thì tôi cũng nằm. Ai chở lúc ấy là liều mạng."
"Thế thì giữ cái bến để làm gì hả bác?"
Tôi thích cái câu ấy. Chú ấy hỏi thẳng thì tôi trả lời thẳng.
"Chú nghĩ lũ nó lên rồi rút trong một buổi à?"
"Dạ cháu không rõ."
"Nước lên ba ngày mới tới đỉnh. Rút thì bốn năm ngày. Còn cái đỉnh thì có nửa ngày."
"Vâng."
"Nửa ngày ấy không ai qua sông được, cầu cũng thế, đò cũng thế."
"Vâng ạ."
"Còn sáu bảy ngày kia thì sao?"
Anh Chuẩn không trả lời ngay.
"Chú lên cầu mấy hôm ấy chưa?"
"Dạ chưa."
"Mặt cầu nó cao thì nó khô. Nhưng cái đường hai đầu cầu nó thấp hơn mặt cầu nhiều."
"Vâng, đường dẫn ạ."
"Chú gọi là gì cũng được. Nó ngập trước mặt cầu và nó rút sau mặt cầu."
"Vâng."
"Cầu khô mà không ai lên được cầu. Bến thì nước đã êm, đò đi được."
Anh ấy ngồi thẳng lên.
"Bác ơi cháu hỏi cái này hơi ngu."
"Chú hỏi."
"Cao trình đường dẫn là bao nhiêu ạ?"
"Chú hỏi tôi à?"
"Dạ cháu hỏi cháu."
"Thế chú tra đi."
"Bác biết trước rồi phải không ạ?"
"Tôi không biết mấy cái tần suất. Tôi chỉ biết bốn cái năm ấy nước lên tới đâu."
"Cái đó nó cũng là một."
"Chú nói thế thì tôi nghe thế."
Anh Chuẩn cúi đầu xuống, hai tay để lên đầu gối.
"Cháu xin lỗi bác."
"Chú xin lỗi gì?"
"Cái câu cháu hỏi bác hôm nọ. Cái câu có người phản ánh bác thu tiền ấy."
"Chú hỏi là đúng chức trách."
"Nhưng cháu hỏi trước cả khi cháu tìm hiểu."
"Ừ, cái đó thì đúng là hơi ngược."
Anh ấy bật cười. Cười xong thì mặt lại xịu xuống.
"Bác không nhận lời xin lỗi của cháu à?"
"Chú xin lỗi tôi thì tôi được cái gì?"
"Dạ?"
"Chú xin lỗi tôi xong thì hôm cầu ngập bọn trẻ đi bằng gì?"
Anh Chuẩn không nói được.
"Chú ạ."
"Dạ."
"Tôi không cần chú xin lỗi. Tôi cần cái tờ trình của chú viết lại."
"Vâng ạ."
"Viết là bến giữ lại phục vụ những ngày đường lên cầu không qua được."
"Vâng."
"Đừng viết là để chăm lo cho bà Đãi."
"Dạ sao ạ?"
"Vì tôi năm mươi tám rồi. Tôi chở thêm được mấy năm nữa?"
"Bác còn khoẻ mà."
"Khoẻ mấy thì cũng có ngày phải nghỉ. Mà cái sông thì nó không nghỉ."
"Vâng."
"Chú viết cho cái bến, đừng viết cho tôi. Viết cho tôi thì tôi nghỉ là nó mất."
Anh Chuẩn nhìn ra sông.

"Bác."
"Ừ."
"Cháu hỏi cái này hơi vô duyên."
"Chú hỏi đi."
"Hai mươi sáu năm bác khắc cái cột, bác có nghĩ có ngày nó dùng đến không?"
"Không."
"Không thật à bác?"
"Không. Tôi khắc để buộc thuyền."
"Vâng."
"Nhưng mà chú này."
"Dạ."
"Cái gì mình làm đủ lâu thì tự nó thành cái khác."
Cuối tháng, xã họp lại.
Hôm sau chú ấy tra.
Bốn phẩy bảy. Thấp hơn mặt cầu hơn một mét.
Hai mươi sáu vạch trên cột tôi, có mười một vạch cao hơn bốn phẩy bảy.
Không phải bốn. Là mười một.
Tờ trình sửa rồi, chuyển lên huyện. Bến giữ, có kèm câu về những ngày mực nước vượt cao trình mặt cầu.
Anh Chuẩn đọc câu ấy hai lần, lần thứ hai đọc chậm hơn.
"Bác Đãi có ý kiến gì không ạ?"
"Không."
"Bác không có ý kiến gì thật ạ?"
"Có một cái nhỏ thôi."
"Dạ bác nói."
"Cái cột ấy tôi già rồi tôi không khắc nữa được."
"Sao ạ?"
"Đứng bắc ghế giữa nước lũ, chân tôi không vững như trước."
"Vậy thì..."
"Chú cho người ta gắn cái thước đo mực nước vào đấy. Thước có số. Rồi giao cho ai đó ghi."
"Giao cho ai ạ?"
"Cái đó là việc của chú."
"Vâng ạ."
"Nhưng đừng bỏ cái cột đi."
"Sao ạ bác?"
"Vì mấy cái vạch cũ nó là hai mươi sáu năm. Thước mới thì phải bắt đầu lại từ đầu."
Ông Bái ghi.
Tôi thấy ông ấy ghi.
Ra khỏi hội trường, cô Rớt đi cạnh tôi một đoạn.
"Bác Đãi."
"Cô."
"Cái hôm nọ tôi nói câu trẻ con đi đò nguy hiểm..."
"Cô nói đúng mà."
"Nhưng nghe nó cứ..."
"Đi đò nguy hiểm thật. Hai mươi sáu năm tôi không dám sơ ý một chuyến nào."
"Vâng."
"Cô cứ nói thế. Có người nói thế thì tôi mới phải đếm phao mỗi sáng."
Cô ấy im. Đi thêm mấy bước.
"Con em nó học lớp bảy rồi bác nhỉ."
"Ừ. Nó ngồi mũi. Ngồi mũi mà không bao giờ thò tay xuống nước."
"Nó thò chứ bác."
"Không. Tôi trông rồi. Đứa khác thì thò, nó không."
Cô Rớt quay mặt đi.
Tối ấy ông Tự sang, xách theo cái xô.
"Bà Đãi."
"Ông."
"Có mấy con bống."
"Ông cứ cho mãi."
"Nhiều quá ăn không hết."
"Ông nói câu ấy hai mươi năm rồi."
"Ừ thì nó cũng đúng hai mươi năm."
Ông ấy đặt xô xuống thềm, ngồi lên bậc.
"Nghe nói giữ được bến."
"Ừ."
"Nhờ cái cột à?"
"Nhờ thầy Lãnh."
"Thầy Lãnh biết cái cột là nhờ ai?"
"Nhờ tôi."
"Đấy."
"Ông Tự này."
"Gì?"
"Ông có biết cái cột không?"
"Biết chứ."
"Sao ông không nói trong họp?"
Ông ấy im một lúc.
"Tôi tưởng ai cũng biết."
"Ừ. Tôi cũng tưởng thế."
"Hoá ra không phải."
"Không phải."
Ông ấy gãi cổ.
"Cái gì mình nhìn hằng ngày thì mình tưởng người ta cũng nhìn."
"Ừ."
"Mà người ta có nhìn đâu. Người ta đi qua thôi."
"Ông nói đúng."
"Bà buộc dây vào đấy hai mươi sáu năm cơ mà."
"Vâng."
"Hai mươi sáu năm ngày hai lần."
"Bốn lần chứ ông. Sáng buộc, sáng mở, chiều buộc, chiều mở."
Ông Tự tính nhẩm.
"Thế là mấy vạn lần rồi."
"Tôi không đếm."
"Bà không đếm thật à?"
"Đếm vạch thì đếm. Đếm buộc dây thì đếm làm gì."
Sáng hôm sau tôi vẫn ra bến lúc năm giờ kém.
Chuyến năm giờ mười có bốn người đi chợ. Bà Chiêm, bà Hoạn, với hai mẹ con nhà cô Nhuần.
"Bà Đãi ơi nghe nói giữ được bến rồi hả?"
"Ừ."
"May quá."
"Ừ."
"Chứ bỏ đi thì mấy hôm lụt biết làm sao."
"Ừ."
Bà Chiêm ngồi xuống ghế giữa, ôm cái rổ vào lòng.
"Mà bà này."
"Gì?"
"Nghe nói có cái cột gì trên bến ấy."
"Ừ."
"Cột nào thế?"
Tôi chỉ tay.
"Cột kia kìa."
"Ơ, cái cột buộc dây ấy à?"
"Ừ."
"Tôi đi đò bà mười mấy năm mà tôi có để ý đâu."
"Ừ, không ai để ý cả."
"Trên đấy có gì?"
"Có vạch."
"Vạch để làm gì?"
"Để buộc thuyền."
Bà ấy gật gù, rồi quay ra nói chuyện gà qué với bà Hoạn.
Tôi đẩy sào ra khỏi bờ.
Nước tháng chín trong, nhìn thấy cả cát dưới đáy chỗ gần bờ.
Sáu giờ mười lăm học sinh xuống. Đứa nào cũng cầm phao trước khi tôi nhắc, tại tôi nhắc hai mươi sáu năm rồi.
Có đứa hỏi tôi.
"Bà ơi có phải người ta định bỏ đò không ạ?"
"Ai bảo con?"
"Mẹ con bảo."
"Người ta định thôi. Giờ không bỏ nữa."
"Vì sao ạ?"
"Vì cái cột."
"Cột nào ạ?"
"Lát nữa lên bờ con nhìn cái cột buộc dây."
"Nhìn để làm gì ạ?"
"Không để làm gì cả."
"Thế bà bảo con nhìn làm gì?"
"Để sau này con nhớ là nó có ở đấy."
Nó ngẫm một lúc rồi thôi, quay sang cãi nhau với đứa bên cạnh về một quyển truyện.
Tôi chèo. Mười một phút.
Sang tới bờ, tôi buộc dây vào cái cột như hai mươi sáu năm nay tôi vẫn buộc.
Tay tôi chạm vào cái vạch năm hai nghìn không trăm ba, cái vạch cao nhất, cái vạch mà tôi phải bắc ghế mới khắc được.
Nó vẫn ở đấy. Nó không đi đâu cả.


