
Cậu chủ studio bảo tiệm tôi chỉ làm được ảnh thẻ, và tôi vẫn ngồi soi cái ảnh mốc ấy thêm ba tối nữa
"Bác ơi, cái tiệm của bác làm ảnh thẻ thôi chứ. Việc này nó khác."
"Khác chỗ nào hả cậu?"
"Cái này là gian truyền thống. Khách người ta vào là nhìn cái ảnh ấy đầu tiên."
"Ừ, thì tôi làm cái ảnh ấy."
"Cháu nói thật nhé, ảnh bác làm nhìn cũ. Nhìn quê."
"Ảnh cũ thì nó cũ chứ cậu."
Cậu ấy cười, rồi cậu ấy quay sang chỗ anh Tráng, không nói với tôi nữa.
Tôi tên Cẩn, sáu mươi mốt tuổi, làm ảnh trong cái ngõ này ba mươi tư năm.
Tiệm tôi rộng bằng hai chiếc chiếu, có một cái đèn, một tấm phông xám, và một cái tủ kính.
Việc của tôi bây giờ là ảnh thẻ, ảnh hồ sơ, ảnh cưới cho mấy nhà không thuê được thợ ngoài phố, và phục chế ảnh cũ.
Cái nghề cuối cùng ấy một tháng được vài ba cái, có tháng không có cái nào.
"Ông ngồi cả buổi được mấy đồng?"
"Hôm nay được sáu chục."
"Sáu chục?"
"Hai cái ảnh thẻ."
"Tôi bán nước một buổi được tám chục."
"Bà giỏi hơn tôi."
"Tôi không khoe. Tôi bảo ông bỏ cái tiệm đi."
"Bỏ rồi lấy gì làm?"
"Ông ra ngồi với tôi. Ông rót nước."
"Tôi rót nước thì ai phục chế ảnh cho người ta?"
"Cả năm được mấy người mà ông phục chế?"
"Năm ngoái được mười một người."
"Mười một người, ông nhớ hết à?"
"Nhớ. Tôi ghi vào phong bì."
Bà ấy im, vì cái chuyện phong bì thì bà ấy cãi tôi ba mươi năm không được.
"Bác Cẩn."
"Anh Tráng."
"Bác đừng để bụng câu thằng Nghiễm nó nói."
"Tôi có để bụng đâu."
"Cháu vẫn nhờ bác cái ảnh của ông cụ nhà cháu. Bác cứ làm."
"Ừ."
"Nhưng mà cháu nói trước, bên studio nó nhận trọn gói cả gian truyền thống rồi."
"Trọn gói là sao?"
"Là ảnh, khung, đèn, chữ trên tường, nó làm hết. Bốn mươi triệu."
"To nhỉ."
"Ba mươi năm mới có một lần bác ạ."
"Ừ. Thế còn cái ảnh của cụ?"
"Thì cháu vẫn muốn bác làm. Bác làm ảnh cho nhà cháu từ đời ông cháu."
"Anh cứ đưa ảnh đây tôi xem."
Anh Tráng bốn mươi mốt tuổi, chủ xưởng gỗ ngoài đầu khu.
Xưởng ấy do bố anh dựng năm chín sáu, năm nay tròn ba mươi năm, nên anh làm lễ.
Bố anh là ông Điền, mất năm hai nghìn mười chín.
Mẹ anh là bà Thuấn, năm nay bảy mươi tư, ở với vợ chồng anh trên gác.
Hôm ấy anh đưa tôi một cái phong bì giấy, trong có tấm ảnh cỡ mười lăm nhân hai mươi, ố vàng, mốc chân chim ở góc.
Tôi cầm ra chỗ sáng, xoay nghiêng, nhìn dưới ánh đèn bàn.
"Ảnh này chụp năm nào anh?"
"Chín sáu. Hôm khai xưởng."
"Ai chụp?"
"Cháu không biết. Hồi ấy cháu mười một tuổi."
"Tôi chụp."
"Bác chụp á?"
"Ừ. Tôi đạp xe ra, chụp hai kiểu, lấy của cụ mười hai nghìn."
Anh Tráng cầm lại tấm ảnh, nhìn nó một lúc lâu hơn lúc nãy.
"Bác nhớ được cả cái giá à?"
"Nhớ chứ. Mười hai nghìn hồi ấy là ba bát phở."
"Thế thì bác làm giúp cháu. Bác cứ báo giá."
"Một triệu hai."
"Sao rẻ thế?"
"Vì tôi làm một tấm. Còn cậu kia làm cả gian."
Anh Tráng về rồi, tôi để cái phong bì lên bàn, chưa mở vội.
Nghề tôi có một luật, luật ấy tôi tự đặt ra từ năm chín tư.
Ai mang ảnh cũ tới, việc đầu tiên tôi làm không phải là sửa, mà là chụp lại một bản y nguyên.
Chụp trước, rồi mới động vào.
Vợ tôi hỏi cái ấy đúng một lần, năm đầu tiên.
"Ông chụp lại làm gì cho tốn phim?"
"Để phòng."
"Phòng cái gì?"
"Phòng lúc tôi làm hỏng."
"Ông làm hỏng bao giờ chưa?"
"Chưa. Nhưng ảnh của người ta thì chỉ có một."
Vợ tôi tên Nhuần, kém tôi hai tuổi, bán hàng nước đầu ngõ.
Từ đấy bà ấy không hỏi nữa, mà mỗi lần có ai mang ảnh tới bà ấy lại nhắc.
"Ông chụp lại chưa?"
"Rồi."
"Rồi thật hay rồi mồm?"
"Rồi thật."
Cái tủ kính trong tiệm tôi có bốn ngăn, ngăn dưới cùng đựng phong bì giấy.
Mỗi phong bì ghi tên người, ghi năm, bên trong là phim hoặc bản chụp lại.
Ba mươi tư năm thì được hơn tám trăm cái phong bì.
Bà Nhuần bảo tôi giữ rác, tôi bảo bà ấy đấy không phải rác.
Tấm ảnh anh Tráng đưa tôi, tôi chụp lại tối hôm ấy rồi mới soi kỹ.
Ảnh chụp trước cổng xưởng, có hai người đứng, phía sau là tấm biển gỗ mới đóng.
Người đàn ông là ông Điền, mặc áo sơ mi trắng bỏ trong quần, tay phải buông xuống.
Bàn tay phải ấy thiếu một đốt ở ngón trỏ.
Người thứ hai đứng bên phải ông, là một người đàn bà, mặc áo bà ba, hai tay đan trước bụng.
Nửa bên phải của tấm ảnh bị ẩm, lớp thuốc bong từng vảy, mặt người đàn bà mờ gần hết.
Tôi ngồi nhìn cái chỗ mờ ấy hết một buổi tối.
"Ông làm được không?"
"Được."
"Mất mấy hôm?"
"Chừng mười hôm."
"Mười hôm cho một triệu hai?"
"Ừ."
"Ông tính công thế thì ăn cám."
"Bà cứ để tôi làm."
Muốn hiểu đoạn sau thì phải biết một tấm ảnh mốc nó hỏng theo kiểu gì đã.
Ảnh cũ hỏng theo mấy kiểu.
Ố vàng là lớp thuốc ăn hơi ẩm, cái này dễ, chụp lại rồi chỉnh sắc là gần như về được.
Mốc chân chim là nấm ăn vào lớp gelatin, nó để lại vết như rễ cây, chỗ ấy thuốc đã mất, không lấy lại được nữa.
Chỗ nào thuốc đã mất thì không có phép nào gọi nó về.
Người làm nghề chỉ còn hai cách.
Một là đoán, rồi vẽ lại bằng bút lông trên bản phóng.
Hai là tìm cho ra một tấm khác của đúng người ấy, đúng thời ấy, rồi lấy chỗ còn tốt mà chắp.
Cách thứ hai mới là làm thật, nhưng nó chậm, và nó đòi mình phải có cái để mà tìm.
Bà Nhuần hỏi tôi cái đó vào tối thứ hai, lúc tôi đang soi kính lúp.
"Ông vẽ đại vào có ai biết đâu."
"Biết chứ."
"Ai biết?"
"Người trong ảnh."
"Người trong ảnh chết rồi."
"Thì người nhà người ta."
"Người nhà nhìn ra à?"
"Bà thử nhớ cái nốt ruồi ở cằm mẹ bà xem."
"Bên phải."
"Bà nhớ ngay không cần nghĩ."
"Ừ."
"Đấy. Cái mặt người mình thương thì mình nhớ bằng bụng, không phải bằng mắt."
"Thế ông vẽ sai một tí thì sao?"
"Thì họ không nói ra, nhưng họ nhìn cái ảnh mà thấy lấn cấn suốt đời."
"Ông làm gì mà ghê thế."
"Không ghê đâu. Nhưng ảnh thờ mà lấn cấn thì khổ lắm bà ạ."
"Thế ông định làm sao?"
"Tôi đi tìm một tấm khác của đúng bà ấy, đúng thời ấy."
"Tìm ở đâu?"
"Trong cái tủ bà bảo là rác."
Tôi đi tìm trong tủ kính của mình ba tối.
Đến tối thứ ba thì tôi tìm được cái phong bì ghi "ông Điền — 2007".
Năm hai nghìn linh bảy, cụ Điền có mang tấm ảnh ấy tới nhờ tôi làm, lúc nó mới chớm mốc.
Cụ hỏi giá, tôi báo, cụ bảo để cụ về xoay.
Rồi cụ không quay lại nữa.
Nhưng tôi thì đã chụp lại một bản, theo cái luật của tôi.
Bản chụp lại năm hai nghìn linh bảy ấy, mặt người đàn bà còn rõ.
Tôi soi nó dưới kính lúp, rồi tôi ngồi im khá lâu.
"Ông lại ngồi thần ra rồi."
"Bà lại đây tôi hỏi."
"Hỏi gì?"
"Bà nhìn cái ảnh này. Người đàn bà đứng cạnh cụ Điền là ai?"
"Bà Thuấn chứ ai."
"Bà chắc không?"
"Chắc. Hồi ấy bà ấy để tóc thế này, tôi còn nhớ."
"Ừ. Tôi cũng nghĩ thế."
"Sao ông hỏi?"
"Vì tấm anh Tráng đưa tôi, chỗ mặt bà ấy nó mất rồi."
"Mất thì ông chắp cái này vào."
"Tôi định thế."
Tôi làm mười hai ngày, hơn dự tính hai ngày.
Chắp xong, tôi phóng thử một bản cỡ ba mươi nhân bốn mươi, để trên bàn ba hôm, sáng nào cũng nhìn một lần cho quen mắt.
Cái nghề này có một chỗ dở: nhìn lâu quá thì mình thấy cái gì cũng đúng.
Sáng thứ tư, trước lúc tôi mang sang xưởng, bà Thuấn ghé tiệm.
Bà đi bộ, chống một cái gậy tre ngắn, đứng ở cửa chứ không vào.
"Ông Cẩn có nhà không?"
"Cụ vào đi ạ. Cụ ngồi ghế này."
"Tôi đứng thôi. Tôi hỏi một câu rồi tôi về."
"Cụ hỏi đi."
"Thằng Tráng nó có đưa ông cái ảnh chín sáu không?"
"Có ạ."
"Ông làm chưa?"
"Xong rồi cụ."
"Xong rồi à."
"Cụ xem thử không?"
"Thôi."
"Sao cụ không xem?"
"Tôi xem ở nhà."
Bà đứng thêm một lúc, tay xoay cái gậy.
"Ông Cẩn này."
"Dạ."
"Cái ảnh ấy chỗ tôi nó mốc hết rồi phải không?"
"Vâng, chỗ cụ mốc nặng."
"Tôi biết. Năm nào tôi cũng lấy ra xem một lần."
"Cụ để nó trong tủ à?"
"Trong cái hộp bánh, dưới đáy tủ thờ."
"Chỗ ấy hút ẩm cụ ạ."
"Ừ. Ông ấy cũng bảo thế."
"Cụ ông bảo thế hồi nào?"
"Hồi ông ấy còn. Ông ấy bảo phải mang ra hiệu, mà rồi lần lữa."
"Cụ ông có mang ra chỗ tôi một lần."
"Ông ấy mang thật à?"
"Vâng. Năm hai nghìn linh bảy."
"Thế sao không làm?"
"Cụ hỏi giá, tôi báo hai trăm nghìn, cụ bảo để cụ về xoay."
Bà Thuấn im một lúc, rồi bà cười, cái cười của người nhớ ra một chuyện cũ.
"Hai trăm nghìn hồi ấy là tiền gạo nửa tháng."
"Vâng."
"Ông ấy về không nói với tôi câu nào."
"Chắc cụ ông ngại."
"Ngại gì. Nói ra thì tôi bán con lợn."
Bà quay ra, đi được ba bước thì bà quay lại.
"Ông Cẩn."
"Dạ."
"Nếu cái mặt tôi trong ảnh mà hỏng hẳn thì ông cứ để trống, đừng vẽ."
"Sao cụ lại dặn thế?"
"Vì tôi không muốn treo lên tường một cái mặt không phải mặt tôi."
"Vâng ạ. Tôi nhớ."
Bà đi rồi, tôi ngồi xuống, và tôi nhìn cái bản phóng thử trên bàn thêm một lần nữa.
Hôm ấy tôi mang sang xưởng.
Xưởng đang dựng rạp, thợ khiêng gỗ, mùi vecni, tiếng máy chà.
Cậu Nghiễm đứng giữa sân, chỉ tay cho hai người thợ treo pano.
Cậu ấy ba mươi ba tuổi, chủ một studio ngoài phố, áo sơ mi xanh, đeo kính.
"Bác Cẩn mang ảnh sang đấy à?"
"Ừ."
"Bác đưa cháu xem với."
"Cậu xem đi."
Cậu ấy cầm bản phóng của tôi, lật nghiêng ra ánh sáng, rồi cậu ấy trả lại.
"Bác làm cẩn thận đấy. Nhưng mà nó vẫn cũ bác ạ."
"Ảnh chụp ba mươi năm trước thì nó cũ."
"Ý cháu là cái nước ảnh nó cũ. Bên cháu làm nó trong, nó nét."
"Ừ."
"Với lại bác để hai người thì bố cục nó lệch."
"Lệch thế nào?"
"Cụ ông đứng lệch trái, bên phải thừa ra. Treo lên tường nó không cân."
"Bên phải là bà cụ chứ có thừa đâu."
"Thì cháu nói về bố cục thôi bác."
Anh Tráng ở trong nhà đi ra, tay cầm điện thoại, vẻ vội.
"Bác Cẩn sang rồi à. Bác để đấy cháu xem sau nhé, giờ cháu phải chạy ra chỗ đặt bàn."
"Ừ, anh cứ đi."
"Bác uống nước đã."
"Tôi về, bà nhà tôi trông hàng một mình."
Tôi về, và cái bản phóng ấy tôi để lại trên bàn trong nhà anh Tráng.
Chiều hôm sau cậu Nghiễm tới tiệm tôi.
Cậu ấy dựng xe ngoài ngõ, đứng ở cửa, nhìn quanh cái tiệm hai chiếu của tôi.
"Bác Cẩn ngồi đây một mình à?"
"Ừ."
"Tiệm bác đèn gì thế này?"
"Đèn huỳnh quang."
"Bác chụp ảnh thẻ bằng đèn này?"
"Ừ."
"Bảo sao ảnh bác nó bệt."
"Ảnh thẻ thì cần rõ mặt, cậu ạ."
"Bác biết bên cháu một cái đèn bao nhiêu không?"
"Không."
"Mười tám triệu. Một cái thôi. Cháu có bốn cái."
"Cậu giàu."
"Cháu không khoe. Cháu nói để bác thấy cái mình đang làm nó ở đâu."
"Ừ, tôi thấy rồi."
"Bác này, cháu nói thẳng nhé."
"Cậu nói đi."
"Cái gian truyền thống ấy bác nhường cháu."
"Tôi có giành đâu mà nhường."
"Anh Tráng vẫn giữ cái ảnh bác làm trên bàn."
"Thì để đấy."
"Để đấy thì lúc treo nó thành hai kiểu, khách nhìn nó lệch."
"Cậu cứ làm phần cậu."
"Ý cháu là bác bảo anh ấy một câu."
"Bảo câu gì?"
"Bảo là bác bận, bác không làm nữa."
"Tôi có bận đâu."
"Bác Cẩn."
"Gì cậu?"
"Cháu trả bác một triệu hai. Bác khỏi làm, cháu vẫn trả."
"Cậu trả tôi tiền để tôi đừng làm?"
"Cháu trả cho đỡ mất công bác."
"Cậu cầm tiền về đi."
"Bác chê ít à?"
"Không. Nhưng tôi nhận tiền của người ta thì tôi phải đưa cho người ta một cái ảnh."
Cậu Nghiễm đứng đó, tay vẫn cầm cái phong bì tiền, mặt hơi đỏ.
"Bác cổ quá."
"Ừ, tôi cổ."
"Bây giờ người ta làm bằng máy hết rồi bác ạ. Một buổi ra ba chục cái ảnh."
"Ba chục cái à?"
"Vâng."
"Thế cậu có nhớ mặt cái nào không?"
"Nhớ mặt làm gì ạ?"
"Không, tôi hỏi thế thôi."
Cậu ấy về, và tôi biết là cái câu cuối ấy nghe thì nhẹ mà nó xóc.
Nên hôm sau tôi gọi cho anh Tráng, một cuộc, đúng một cuộc.
"Anh Tráng."
"Bác Cẩn."
"Tôi hỏi anh một câu về cái ảnh gốc."
"Bác hỏi."
"Anh còn giữ nó chứ?"
"Cháu đưa bên studio quét rồi bác."
"Anh đưa nguyên tấm gốc?"
"Vâng."
"Anh bảo họ trả anh ngay trong ngày."
"Sao lại phải gấp thế bác?"
"Vì ảnh mốc mà để lẫn trong đống giấy thì nó gãy. Gãy một lần là mất luôn cái mảng ấy."
"Chắc không sao đâu bác, nó cất cẩn thận."
"Anh Tráng ạ."
"Dạ."
"Tôi không bảo họ ẩu. Tôi bảo là cái tấm ấy nhà anh chỉ có một."
"Vâng, để cháu nhắn nó."
"Anh nhắn hôm nay nhé."
"Vâng."
Tôi nói đúng một lần, và tôi không nhắc lại lần thứ hai.
Người ta không nghe mình lần thứ nhất thì lần thứ hai thành ra mình cằn nhằn.
Ba hôm sau anh gọi tôi, giọng ngại.
"Bác Cẩn ạ, cái ảnh ấy... bên studio nó làm lại rồi bác."
"Làm lại là sao?"
"Nó bảo nó có máy, nó làm ra bản to hơn, treo pano ba mét."
"Ba mét à?"
"Vâng. Nó bảo bản của bác phóng to lên thì vỡ."
"Bản của tôi phóng hai mét vẫn ăn."
"Cháu không rành cái đó bác ạ."
"Thế cái ảnh gốc anh đưa tôi, giờ nó ở đâu?"
"Cháu đưa nó rồi."
"Đưa cả tấm gốc?"
"Vâng. Nó bảo phải có gốc nó mới quét được."
"Ừ."
"Bác đừng giận. Cháu vẫn trả bác một triệu hai."
"Anh Tráng."
"Dạ."
"Anh cho tôi hỏi cái này, hỏi xong tôi thôi."
"Bác hỏi."
"Cậu ấy bảo bản của tôi phóng to lên thì vỡ, đúng không?"
"Vâng, nó bảo thế."
"Anh có hỏi lại nó là vỡ ở đâu không?"
"Cháu không rành nên cháu không hỏi."
"Anh làm gỗ."
"Vâng."
"Có người bảo anh là tấm gỗ này không đóng được, anh có hỏi lại không?"
"Cháu hỏi chứ. Cháu hỏi vân nó chạy thế nào, khô mấy phần."
"Đấy."
"Bác nói cháu hiểu rồi. Nhưng mà bác ơi, cháu bận quá."
"Ừ, anh bận."
"Cháu có bốn mươi mâm, cháu có khách trên tỉnh về."
"Tôi biết."
"Bác đừng nghĩ là cháu coi thường bác."
"Tôi không nghĩ thế."
"Thật không bác?"
"Thật. Tôi chỉ nghĩ là anh tin cái đắt hơn cái rẻ."
"Bác nói nặng quá."
"Tôi nói nhẹ đấy chứ."
"Tiền thì anh cứ giữ, khi nào xong việc hẵng hay."
Tôi đặt máy xuống, và tôi nói với bà Nhuần đúng một câu.
"Bà cất cái phong bì hai nghìn linh bảy vào ngăn trong hộ tôi."
"Cất làm gì?"
"Cất đấy đã."
Lễ ba mươi năm xưởng làm vào chiều thứ bảy, ngoài sân xưởng, kê bốn mươi mâm.
Tôi được mời, ngồi mâm thứ ba tính từ cuối, cạnh mấy bác thợ mộc cũ.
Bà Thuấn ngồi mâm đầu, mặc áo dài nâu, tóc chải sát, tay cầm cái quạt giấy.
Gian truyền thống dựng ngay đầu sân, tường sơn trắng, đèn hắt, chữ vàng.
Chính giữa là tấm pano ba mét, phủ vải đỏ.
Ông Trắc ngồi cạnh tôi, rót cho tôi chén rượu rồi hỏi.
"Ông Cẩn làm cái ảnh trên kia à?"
"Không."
"Ơ, tôi tưởng thằng Tráng nhờ ông."
"Nhờ rồi thôi."
"Sao lại thôi?"
"Người ta có chỗ làm to hơn."
"To hơn thì làm đẹp hơn à?"
"Chưa biết."
"Ông nói kiểu ấy là ông không tin rồi."
"Tôi chưa nhìn thì tôi chưa nói."
"Ông cẩn thận thế."
"Bác Trắc ạ, tôi làm nghề này thì tôi biết một điều."
"Điều gì?"
"Ảnh nó không nói dối được. Ai làm gì với nó, nó ghi lại hết ở trên mặt nó."
"Ông nói tôi chả hiểu."
"Lát bác nhìn thì bác hiểu."
Ông Trắc rót thêm chén nữa, không hỏi tiếp.
Đúng năm giờ, anh Tráng cầm micro.
"Kính thưa các bác, các cô chú, anh em thợ."
"Ba mươi năm trước, bố cháu dựng cái xưởng này bằng hai bàn tay."
"Hôm nay cháu xin phép được kéo tấm vải này xuống."
Người ta vỗ tay, hai cậu thợ kéo dây, tấm vải đỏ tuột xuống sàn.
Trên pano là ông Điền, một mình, đứng chính giữa, sau lưng là tấm biển gỗ.
Ảnh trong, nét, sáng, không còn một vết mốc nào.
Cả sân vỗ tay to hơn lúc nãy.
Tôi không vỗ tay.
Tôi đang nhìn bàn tay phải của cụ Điền trong ảnh.
Bàn tay ấy đủ năm ngón.
Rồi tôi nhìn sang bàn tay trái, và bàn tay trái thiếu một đốt ở ngón trỏ.
Ông Trắc ngồi cạnh tôi là thợ cả cũ của xưởng, bảy mươi tuổi, tai hơi nặng.
"Bác Trắc."
"Gì cơ?"
"Cụ Điền cụt tay nào?"
"Tay phải. Cưa đĩa cắn, năm tám chín."
"Bác chắc chứ?"
"Chắc. Tôi đứng ngay đấy, tôi băng cho ông ấy."
"Bác nhìn cái ảnh trên kia hộ tôi."
Ông Trắc nheo mắt nhìn một lúc, rồi ông quay sang tôi.
"Sao nó lại cụt tay trái?"
"Bác nhìn tiếp cái biển gỗ đằng sau."
"Biển làm sao?"
"Bác đọc chữ trên biển đi."
Ông Trắc đọc, rồi ông không đọc được, vì chữ trên biển ngược.
Không phải mờ, không phải mất nét.
Ngược, như soi gương.
"Ơ. Chữ nó ngược kìa."
"Vâng."
"Sao lại ngược được?"
"Vì cả tấm ảnh bị lật."
"Lật là thế nào?"
"Là người ta soi gương nó, trái thành phải, phải thành trái."
"Sao lại phải làm thế?"
"Cái ấy thì bác phải hỏi người làm."
Tôi nói khẽ, nhưng bàn thứ ba tính từ cuối thì có bảy người, và bảy người ấy đều nghe.
Chuyện đi từ mâm nọ sang mâm kia nhanh hơn tôi tưởng.
Đến lúc anh Tráng mời mọi người nâng cốc thì đã có mấy bác thợ già đứng lên, đi tới trước pano, ngửa cổ nhìn.
Cậu Nghiễm thấy thế, đi tới.
"Các bác xem gì đấy ạ?"
"Xem cái tay ông Điền."
"Tay làm sao ạ?"
"Ông ấy cụt tay phải, sao trên này cụt tay trái?"
Cậu Nghiễm nhìn lên pano, và tôi nhìn mặt cậu ấy.
Cái mặt ấy lúc đầu chưa hiểu, rồi hiểu, rồi tái đi rất nhanh.
"Chắc là do khâu in ạ. Để cháu xem lại file."
"File nào? Cái ảnh nó ngược cả chữ kia kìa."
"Dạ, để cháu kiểm tra."
"Cậu kiểm tra ngay đi, chứ khách người ta đang xem."
Anh Tráng đi tới, tay vẫn cầm cốc.
"Có chuyện gì thế các bác?"
"Cậu Nghiễm làm ngược cái ảnh bố mày rồi."
Anh Tráng nhìn lên, và anh ấy nhìn lâu hơn tất cả những người vừa nhìn.
Vì anh ấy là con, và con thì nhớ tay bố mình.
"Nghiễm."
"Dạ."
"Sao lại thế này?"
"Anh ơi, cái bản gốc nó nát nửa bên phải, em phải xử lý."
"Xử lý là làm sao?"
"Em lấy nửa bên trái, lật lại, ghép sang bên phải cho nó đầy."
"Mày ghép cái nửa bên trái vào chỗ bên phải?"
"Vâng."
"Thế chỗ bên phải nó có cái gì?"
Cậu Nghiễm không trả lời.
"Tao hỏi mày chỗ bên phải nó có cái gì."
"Anh, ở đây đông người quá."
"Đông thì đông. Mày trả lời tao đi."
"Nó... nó mờ, em không nhìn ra là cái gì."
Ông Trắc thợ cả đứng ngay đấy, chống hai tay vào gậy.
"Không nhìn ra thì phải hỏi chứ cậu."
"Cháu có hỏi ạ."
"Cậu hỏi ai?"
"Cháu hỏi anh Tráng."
"Cậu hỏi nguyên văn thế nào?"
"Cháu gửi ảnh nháp, cháu hỏi anh duyệt chưa."
"Cậu có bảo với người ta là cậu định lật ngược cái ảnh lên không?"
Cậu Nghiễm im.
"Tôi hỏi thật đấy. Cậu có nói câu ấy ra không?"
"Cháu... cháu nghĩ đấy là việc kỹ thuật."
"Việc kỹ thuật."
"Vâng ạ."
"Thế cái ngón tay cụt của ông Điền cũng là việc kỹ thuật à?"
Có tiếng cười ngắn ở mâm bên, rồi tắt ngay, vì không ai thấy buồn cười thật.
Anh Tráng đặt cốc xuống bàn.
"Nghiễm."
"Dạ."
"Mày làm nghề ảnh mấy năm rồi?"
"Chín năm anh ạ."
"Chín năm mày có biết lật một cái ảnh thì chữ nó ngược không?"
"Biết ạ."
"Biết mà mày vẫn lật?"
"Em định xoá cái biển đi rồi thay chữ mới cho nét."
"Rồi mày quên?"
"Em... em làm gấp quá."
"Gấp là mấy hôm?"
"Anh giục em lấy trong hai ngày."
"Tao giục mày làm cho kịp, tao có bảo mày bịa ra một ông bố khác cho tao đâu."
Cậu Nghiễm không nói được câu nào nữa.
Cả sân im, và cái im ấy nó khác cái im lúc nãy.
Tôi đứng dậy khỏi mâm, đi lên, hai tay không cầm gì cả.
"Anh Tráng."
"Bác Cẩn."
"Anh cho tôi hỏi một câu."
"Bác hỏi."
"Cái ảnh gốc anh đưa tôi hôm trước, có mấy người đứng?"
"Hai."
"Người thứ hai là ai?"
Anh Tráng quay lại nhìn mâm đầu, chỗ mẹ anh ngồi.
Bà Thuấn vẫn ngồi im, cái quạt giấy để trên đùi, không mở.
"Là mẹ cháu."
"Vâng."
"Bác nói tiếp đi."
"Tôi không nói tiếp. Tôi để cậu Nghiễm nói."
Cậu Nghiễm đứng đó, tay vẫn cầm cái điều khiển đèn.
"Anh Tráng, cái này là anh duyệt mà."
"Tao duyệt cái gì?"
"Hôm em gửi bản nháp, em có nhắn hỏi anh. Anh bảo cắt bớt cho gọn."
"Tao bảo cắt bớt cái gì?"
"Anh nhắn nguyên văn: mẹ tôi mờ quá, cắt bớt cho gọn."
Anh Tráng đứng im.
Bà Thuấn ở mâm đầu vẫn không quay lại, nhưng bà mở cái quạt giấy ra, rồi bà gập lại.
Ông Trắc thợ cả nói một câu, không to, mà cả sân nghe.
"Bà ấy cũng khiêng gỗ chứ có đứng không đâu."
Rồi có tiếng một bác thợ khác.
"Năm chín sáu bà Thuấn nấu cơm cho cả xưởng, mười bảy suất."
Rồi thêm một tiếng nữa, ở mâm bên kia.
"Cái biển gỗ ấy là bà ấy đi mua sơn."
Anh Tráng vẫn đứng, cốc rượu trong tay nghiêng, rượu đổ ra sàn một ít mà anh không biết.
"Nghiễm."
"Dạ."
"Bản gốc đâu?"
"Bản gốc... em quét xong em để ở studio."
"Mày cầm về ngay bây giờ."
"Anh ơi, giờ này..."
"Tao bảo mày cầm về."
Cậu Nghiễm đi ra cổng, và tôi biết là cậu ấy không có cái gì để mang về cả.
Vì tôi làm nghề này ba mươi tư năm, tôi biết cái gì xảy ra với một tấm ảnh mốc sau khi người ta quét nó bằng máy rồi vứt vào ngăn bàn.
Anh Tráng quay sang tôi, và giọng anh ấy khác lúc chiều.
"Bác Cẩn."
"Anh nói đi."
"Bác còn bản nào của cái ảnh ấy không?"
"Anh hỏi cho anh hay hỏi cho mẹ anh?"
Câu ấy tôi hỏi hơi nặng, và tôi biết là nó nặng ngay lúc tôi vừa nói xong.
Anh Tráng cúi xuống, để cốc rượu lên bàn.
"Cháu hỏi cho mẹ cháu."
"Thế thì có."
"Bác có thật à?"
"Có. Từ năm hai nghìn linh bảy."
"Sao lại từ năm ấy?"
"Vì năm ấy cụ Điền mang ảnh tới chỗ tôi."
"Bố cháu mang tới?"
"Ừ. Cụ hỏi giá, tôi báo hai trăm nghìn. Cụ bảo để cụ về xoay."
"Rồi sao?"
"Rồi cụ không quay lại."
"Sao bác không nhắc cụ?"
"Nhắc thì thành đòi tiền."
Anh Tráng im.
"Nhưng trước khi cụ cầm ảnh về, tôi đã chụp lại một bản."
"Bác chụp lại làm gì?"
"Luật của tôi. Ai mang ảnh tới, tôi chụp lại một bản rồi mới trả."
"Bác làm thế với ai?"
"Với tất."
"Cả tám trăm cái phong bì trong tủ nhà bác?"
"Ừ."
Bà Thuấn đứng dậy khỏi mâm đầu.
Bà đi qua ba dãy bàn, chậm, một tay vịn lưng ghế.
Cả sân nhìn bà, và không ai nói gì cả.
Bà đi tới trước mặt tôi, ngẩng lên, và bà hỏi một câu ngắn.
"Ông Cẩn còn cái mặt tôi à?"
"Vâng cụ. Còn rõ."
"Rõ thật à?"
"Cụ để tóc rẽ ngôi lệch, cài một cái kẹp đen bên phải."
"Kẹp đen à?"
"Vâng, cái kẹp ba răng."
"Ông nhìn ra cả cái kẹp?"
"Tôi soi kính lúp ba tối, cụ ạ."
"Còn cái áo tôi mặc?"
"Áo bà ba nâu, cổ tròn, vạt cài bên phải."
"Tôi có đeo gì không?"
"Cụ không đeo gì. Hai tay cụ đan trước bụng."
"Tay tôi lúc ấy còn ướt."
"Vâng, cụ lau vào vạt áo trước khi tôi bấm."
"Ông nhớ cả cái đó?"
"Nhớ. Vì cụ lau xong thì cụ cười, mà tôi thì đã bấm mất rồi."
"Thế trong ảnh tôi không cười à?"
"Cụ chưa kịp cười."
"Tiếc nhỉ."
"Vâng, tôi tiếc mãi."
Bà Thuấn đưa tay lên đầu, chỗ ngôi tóc, rồi bà bỏ tay xuống.
"Ông mang sang cho tôi xem."
"Vâng."
"Bây giờ."
"Vâng, cụ. Tôi về lấy."
Tôi đi bộ về ngõ, hết mười một phút, mở tủ kính, lấy cái phong bì ghi "ông Điền — 2007".
Bà Nhuần đang dọn hàng nước, thấy tôi vào thì đứng thẳng lên.
"Có chuyện gì đấy ông?"
"Không có chuyện gì. Tôi lấy cái ảnh."
"Ông đi từ chiều, giờ về lấy ảnh?"
"Ừ."
"Mặt ông thế kia mà bảo không có chuyện gì."
"Bà đóng cửa hàng rồi sang xưởng với tôi."
"Sang làm gì?"
"Sang xem một cái ảnh."
Tôi mang sang, không phóng, chỉ là bản chụp lại cỡ mười lăm nhân hai mươi.
Bà Thuấn cầm bằng hai tay, đưa ra xa, rồi đưa lại gần.
Bà nhìn cái ảnh ấy lâu bằng đúng cái lúc tôi ngồi nhìn nó tối hôm đầu tiên.
"Ông ấy đứng bên trái tôi."
"Vâng."
"Tôi cứ nhớ là tôi đứng bên trái."
"Cụ đứng bên phải. Tôi cầm máy, tôi nhớ."
"Ông còn nhớ hôm ấy à?"
"Nhớ. Hôm ấy trời hanh, cụ ông mặc áo mới, cụ bà thì chưa kịp thay áo."
"Tôi vừa nấu cơm xong."
"Vâng. Tay cụ còn ướt, cụ lau vào vạt áo trước khi tôi bấm."
Bà Thuấn không nói gì nữa.
Bà đưa tấm ảnh cho anh Tráng, không nhìn con, rồi bà quay về mâm đầu, ngồi xuống.
Cả sân bốn mươi mâm hôm ấy không ai gắp tiếp.
Lúc về, bà Nhuần đi bên cạnh tôi, xách cái làn không.
"Ông có biết ông vừa làm gì không?"
"Tôi có làm gì đâu."
"Ông làm hỏng cái lễ của người ta."
"Cái lễ ấy hỏng từ lúc treo cái pano lên rồi bà."
"Ông nói khẽ thôi."
"Tôi nói khẽ suốt từ chiều đấy chứ."
"Từ giờ nhà ấy nó ghét ông."
"Có thể."
"Mất một mối."
"Ừ."
"Ông không tiếc à?"
"Tiếc chứ. Nhưng bà bảo tôi phải làm sao?"
"Ông cứ ngồi im ở mâm ba."
"Tôi ngồi im được. Nhưng cụ Thuấn ngồi mâm đầu, cụ nhìn lên cái pano ấy suốt buổi."
"Cụ ấy có nói gì đâu."
"Cụ ấy có nói."
"Nói lúc nào?"
"Lúc cụ mở cái quạt giấy ra rồi gập lại."
Bà Nhuần đi thêm một quãng, rồi bà ấy đổi tay xách làn.
"Ông này."
"Gì bà?"
"Cái tủ phong bì ấy, mai tôi lau lại cho."
Chuyện sau đó thì gọn.
Cậu Nghiễm về studio tìm cả đêm, không thấy tấm gốc.
Cậu ấy gọi anh Tráng lúc gần một giờ sáng, nói là chắc lẫn vào chỗ giấy loại, để cậu ấy tìm tiếp.
Hôm sau anh Tráng huỷ phần gian truyền thống, bốn mươi triệu đã ứng ba mươi, cậu Nghiễm trả lại hai mươi tư, giữ lại sáu triệu tiền khung với đèn.
Cái pano ba mét thì hạ xuống ngay tối hôm ấy, cuốn lại, dựng ở góc kho.
Ba hôm sau anh Tráng sang ngõ nhà tôi.
Anh ấy không đi ô tô, anh ấy đi bộ, tay xách một túi cam.
"Bác Cẩn."
"Anh vào đi."
"Cháu đứng đây được rồi."
"Anh cứ vào, đứng ngoài ngõ người ta nhìn."
Anh ấy vào, ngồi xuống cái ghế nhựa trước tủ kính.
"Bác làm lại cho cháu tấm ảnh ấy được không?"
"Được."
"Bác lấy bao nhiêu?"
"Một triệu hai."
"Sao vẫn là một triệu hai?"
"Vì vẫn là một tấm ảnh."
"Bác không tính thêm phần mẹ cháu à?"
"Phần cụ bà thì tôi không lấy tiền."
"Sao lại thế bác?"
"Vì phần ấy tôi làm xong từ mười chín năm trước rồi."
Anh Tráng ngồi im một lúc, rồi anh ấy hỏi câu mà tôi biết là anh ấy đến đây để hỏi.
"Bác Cẩn, hôm ấy bác nhìn ra ngay từ lúc kéo vải xuống phải không?"
"Ừ."
"Sao bác không nói ngay lúc ấy?"
"Tôi có nói."
"Bác nói với ai?"
"Với bác Trắc ngồi cạnh."
"Sao bác không cầm micro?"
"Anh Tráng ạ."
"Dạ."
"Nếu tôi cầm micro giữa bốn mươi mâm mà nói con anh làm hỏng ảnh bố anh, thì người ta nhớ cái gì?"
"Nhớ cái ảnh."
"Không. Người ta nhớ cái ông thợ ảnh già đứng lên bắt lỗi giữa đám cỗ."
Anh Tráng gật đầu, chậm.
"Thế nên bác nói khẽ."
"Tôi nói với người biết chuyện. Còn lại thì để cái ảnh nó tự nói."
"Ảnh nó nói được à?"
"Ảnh nói to hơn tôi. Nó ba mét cơ mà."
Anh ấy cười, tiếng cười ngắn, rồi tắt.
"Bác Cẩn, cháu hỏi thêm câu nữa."
"Anh hỏi."
"Hôm cháu bảo bác thôi không làm nữa, bác có giận cháu không?"
"Có."
"Bác giận thật à?"
"Giận. Tôi làm mười hai ngày."
"Thế sao lúc ấy bác nói nhẹ thế?"
"Vì tôi giận cái việc, tôi không giận anh."
"Khác nhau à bác?"
"Khác. Giận người thì mình muốn người ta hỏng. Giận việc thì mình chỉ muốn việc nó đúng lại."
"Bác nói cứ như ông giáo."
"Tôi học hết lớp bảy."
"Thế bác học đâu ra mấy câu ấy?"
"Ngồi tiệm ba mươi tư năm, ai vào tôi cũng nghe. Nghe nhiều thì nhặt được vài câu."
"Bác nhặt của ai câu vừa rồi?"
"Của bố anh."
Anh Tráng ngẩng lên.
"Bố cháu nói câu ấy à?"
"Cụ nói năm hai nghìn linh bảy, ngồi đúng cái ghế anh đang ngồi."
"Bố cháu ngồi đây?"
"Ừ. Cụ ngồi từ trưa tới lúc tôi đóng cửa."
"Bố cháu nói gì nữa không bác?"
"Cụ hỏi tôi một câu mà tôi trả lời không được."
"Câu gì?"
"Cụ hỏi cái ảnh mốc thế này thì mấy năm nữa nó mất hẳn."
"Bác trả lời sao?"
"Tôi bảo tôi không biết. Ảnh nó mất lúc nào thì nó mất, mình không hẹn được."
"Rồi cụ bảo gì?"
"Cụ ngồi im, rồi cụ bảo thế thì ông chụp hộ tôi một cái để đấy."
Anh Tráng nhìn cái tủ kính, ngăn dưới cùng.
"Bố cháu bảo bác chụp lại?"
"Cụ bảo tôi chụp. Tôi chụp rồi tôi không lấy tiền."
"Sao bác không kể chuyện này hôm ở sân?"
"Hôm ở sân đông người quá."
"Bác này."
"Gì anh?"
"Cái tin nhắn ấy... cháu nhắn thật."
"Tôi biết."
"Cháu không có ý bỏ mẹ cháu ra khỏi ảnh. Lúc ấy cháu đang họp, thằng Nghiễm gửi cái nháp, cháu nhìn cái điện thoại bé tí, cháu thấy chỗ mẹ cháu nó mờ nhoè, cháu bảo cắt cho gọn."
"Ừ."
"Cháu chỉ nghĩ là cắt cái vệt mờ."
"Tôi tin anh."
"Bác tin thật à?"
"Tin. Nhưng mà anh Tráng ạ, cái mờ ấy nó là mẹ anh."
Anh Tráng ngồi thêm một lúc, rồi anh ấy về, để lại túi cam.
Tôi làm lại tấm ảnh trong chín ngày.
Lần này tôi không chắp, tôi phóng thẳng từ bản chụp lại năm hai nghìn linh bảy, chỉnh sắc, chỉ tút mấy vết xước ở mép.
Hai người đứng như hôm chín sáu: ông Điền bên trái, bà Thuấn bên phải, tấm biển gỗ sau lưng, chữ đọc xuôi.
Bàn tay phải của ông Điền thiếu một đốt ở ngón trỏ, tôi để nguyên, không tút.
Anh Tráng có hỏi tôi câu ấy khi tới lấy.
"Bác không sửa cái ngón tay cho lành à?"
"Không."
"Sao thế bác?"
"Vì cụ nhà anh làm nghề gỗ. Cái đốt ấy là cụ trả cho cái xưởng này."
Hôm treo ảnh, bà Thuấn có ra xưởng.
Bà đứng dưới, ngửa cổ nhìn lên, tay vẫn cầm cái quạt giấy.
"Ông Cẩn."
"Dạ cụ."
"Sao ông không tút cái vạt áo tôi cho phẳng?"
"Cụ vừa nấu cơm xong, vạt áo cụ nhàu thật mà."
"Ông cứ để nguyên thế à?"
"Vâng."
"Người ta nhìn vào người ta bảo bà này luộm thuộm."
"Cụ ạ."
"Gì?"
"Người ta nhìn vào thì người ta thấy một bà vừa nấu xong mười bảy suất cơm rồi chạy ra đứng chụp."
Bà Thuấn không nói gì, bà gập cái quạt lại, kẹp vào nách.
"Ông tính tiền tôi bao nhiêu?"
"Phần cụ tôi không lấy."
"Tôi không thích nợ."
"Cụ không nợ tôi. Cụ ông trả rồi."
"Ông ấy trả bao giờ?"
"Năm hai nghìn linh bảy, cụ ông có mang cho tôi một túi cam."
"Ông ấy mang cam cho ông thật à?"
"Vâng. Cụ bảo tiền thì cụ chưa có, cụ gửi tôi túi cam."
"Rồi ông vẫn chụp lại cái ảnh cho ông ấy."
"Vâng."
"Ông không sợ ông ấy quỵt à?"
"Cụ ơi, tôi chụp lại là chụp cho tôi, chứ không phải cho cụ ông."
"Cho ông thì được cái gì?"
"Được cái hôm nay."
Bà Thuấn đứng nhìn tấm ảnh thêm một lúc lâu.
"Ông Cẩn này."
"Dạ."
"Cái tủ nhà ông còn ai nữa không?"
"Còn hơn tám trăm cái phong bì."
"Tám trăm nhà à?"
"Vâng."
"Người ta biết không?"
"Chả ai biết."
"Ông nói cho người ta biết đi."
"Nói làm gì hả cụ."
"Để lỡ có nhà nào như nhà tôi."
Bây giờ tấm ảnh ấy treo trong gian truyền thống của xưởng, cỡ tám mươi nhân một mét, khung gỗ do thợ trong xưởng đóng.
Cậu Nghiễm thì mất luôn mấy mối trong khu, không phải vì ai nói xấu, mà vì chuyện chiều thứ bảy hôm ấy có bốn mươi mâm ngồi nghe.
Có người bảo tôi thế là tôi đã cho cậu ấy một vố.
Tôi thì tôi không thấy tôi cho ai vố nào.
Cái tôi làm chỉ có một việc: mười chín năm trước, tôi chụp lại một bản trước khi trả ảnh cho cụ Điền.
Việc ấy hôm đó tốn của tôi một tấm phim và bốn phút.
Còn cái tay lật ngược tấm ảnh lên thì không phải tay tôi, và cái tin nhắn bảo cắt bớt cho gọn cũng không phải tôi nhắn.
Tôi không bắt ai phải xin lỗi ai.
Tôi cũng không đứng ra dàn xếp cho nhà người ta lành lại.
Ảnh hỏng thì tôi phục chế được.
Còn cái chỗ mẹ con người ta rách ra thì tôi không có thuốc nào chấm vào cho liền.
Tôi chỉ đặt tấm ảnh về đúng chiều của nó, rồi tôi về mở cửa tiệm, chụp ảnh thẻ cho mấy cháu học sinh, ba chục nghìn bốn kiểu.


