Halab
Cậu quản lý bếp bảo tôi mài tay là lỗi thời, rồi cậu ấy khoá bốn con dao mẻ vào kho gọi là bằng chứng để trừ lương chị phụ bếp
Truyện

Cậu quản lý bếp bảo tôi mài tay là lỗi thời, rồi cậu ấy khoá bốn con dao mẻ vào kho gọi là bằng chứng để trừ lương chị phụ bếp

· 16 phút đọc · Halab

"Ông ơi, mài tay thời nào rồi mà ông còn đạp xe đi rao?"

"Thời nào thì dao vẫn phải sắc chú ạ."

"Bếp tôi ký hợp đồng rồi. Mài công nghiệp, tháng hai lần, người ta chở máy tới tận nơi."

"Vâng."

"Ông đứng đây ngoài cổng làm bọn nó cười."

"Tôi đứng ngoài cổng thôi, tôi có vào đâu."

"Ông vào cũng chả ai mài. Dao bếp tôi giờ sắc như dao mổ."

"Thế thì tốt."

"Ông cất cái bàn đá đi cho tôi nhờ."

Tôi tên Lượt, sáu mươi mốt tuổi, mài dao kéo dạo ba mươi lăm năm, đồ nghề là cái xe đạp buộc một cái bàn gỗ gắn hai viên đá mài.

Cậu đang đứng trước mặt tôi tên Vỹ, hai mươi chín tuổi, quản lý bếp ăn của xưởng may bên kia cầu.

"Chú Vỹ, bên kia người ta mài bằng máy gì?"

"Máy Đức. Ông biết máy Đức không?"

"Tôi không biết."

"Đấy. Ông không biết thì ông đừng hỏi."

"Ông mài một con bao nhiêu?"

"Mười lăm nghìn con dao phay."

"Bên kia bao trọn gói, rẻ hơn ông."

"Thế thì chú ký là đúng."

Chín năm, tháng nào tôi cũng vào bếp ấy hai buổi, ngồi ở góc sân sau, cạnh cái bể nước.

Chị phụ bếp hay bưng nước cho tôi tên Thoả, bốn mươi bảy tuổi, đứng khâu chặt xương, ngày chặt hơn tạ.

"Ông Lượt về thật à?"

"Chú ấy bảo bếp có người mài rồi."

"Em nói thật với ông, dao bên ấy mài về em cầm em không quen."

"Không quen chỗ nào?"

"Nó sắc lắm ông ạ. Sắc được ba hôm. Sang hôm thứ tư em chặt cái xương ống, nó trượt."

"Chị nói lại xem."

"Nó trượt ông ạ. Em phải bổ hai nhát mới đứt."

Tôi dựng chân chống, quay lại nhìn chị ấy.

"Chị cho tôi xem con dao ấy."

"Ông xem làm gì, ông có mài nữa đâu."

"Tôi xem thôi."

Chị Thoả cầm ra con dao phay bản to, cán gỗ quấn dây vải.

Con dao ấy tôi mài chín năm, tôi nhớ nó như nhớ mặt người.

Tôi cầm nghiêng ra ánh nắng, nhìn dọc lưỡi.

Chỗ sát lưỡi có một vệt hơi xanh, kéo dài chừng gang tay.

"Chị Thoả."

"Dạ."

"Con dao này người ta mài bằng đá hay bằng máy?"

"Em không biết. Họ mang đi, hôm sau họ mang về."

"Vệt xanh này là thép cháy."

"Cháy là sao ạ?"

"Là mài máy nhanh quá, đá quay ăn vào thép, nóng lên, thép mất độ cứng."

"Mất độ cứng thì sao hả ông?"

"Thì nó vẫn sắc, nhưng sắc được ba hôm."

Chị Thoả đứng im, hai tay vẫn dính bột.

"Đúng ba hôm thật đấy ông."

"Tôi biết."

"Sao ông biết?"

"Vì thép đã cháy thì lần nào cũng ba hôm."

Tôi trả con dao cho chị ấy, rồi tôi dắt xe đi.

Đi được chừng trăm mét thì tôi quay lại.

"Chị Thoả."

"Dạ ông."

"Chị đừng nói với ai câu tôi vừa nói."

"Sao lại không nói ạ?"

"Nói ra thì thành tôi phá đám người ta để tôi giành việc."

"Nhưng mà dao nó hỏng thật."

"Hỏng thì nó tự hỏng. Chị đừng nói."

Con dao là một cục thép nung lên rồi làm nguội đột ngột cho cứng, cái đó gọi là tôi.

Tôi già thì cứng, giữ lưỡi lâu, nhưng giòn.

Tôi non thì dẻo, không mẻ, nhưng cùn nhanh.

Người thợ mài giỏi không phải người mài sắc, ai mài chả sắc.

Người thợ mài giỏi là người biết con dao ấy tôi già hay tôi non, rồi mài cho đúng cái độ ấy.

Bọn trẻ trong bếp hay hỏi tôi sao cầm con dao lên là biết nhà người ta chặt gì.

"Thái rau thì lưỡi mòn đều, không mẻ. Chặt xương thì mẻ thành từng nốt tròn, cách nhau đều."

"Sao lại đều ạ?"

"Vì người chặt quen tay, nhát nào cũng rơi vào một chỗ."

Hôm ấy tôi về, tôi cứ nghĩ chuyện đến đấy là hết.

Hai tuần sau, đứa cháu chị Thoả gọi cho tôi lúc chín giờ tối.

"Ông Lượt ơi, cô cháu bảo ông ra bếp một lúc."

"Có việc gì thế cháu?"

"Cô cháu bị đuổi việc rồi ông ạ."

"Đuổi vì cái gì?"

"Cháu không rõ. Cô cháu chỉ khóc thôi."

Sáng hôm sau tôi đạp xe ra, ngồi ngoài bể nước đợi bếp tan trưa.

Chị Thoả ra, mắt sưng, tay còn cầm cái tạp dề đã tháo.

"Chị bị gì?"

"Cậu Vỹ bảo em làm hỏng dao."

"Hỏng thế nào?"

"Cậu ấy bảo em chặt bừa, mẻ hết cả bộ dao mới mài."

"Bộ nào?"

"Bốn con dao phay của khâu chặt."

"Mẻ thật à?"

"Mẻ thật ông ạ. Mẻ to lắm, em nhìn em cũng sợ."

"Chị chặt cái gì mà mẻ?"

"Em chặt như mọi hôm thôi. Xương ống, xương sườn, thịt đông."

"Thịt đông là thịt để ngăn đá à?"

"Vâng. Tháng này bếp lấy thịt đông về nhiều, để tiết kiệm."

"Chị chặt thịt đông bằng dao nào?"

"Bằng con dao phay của em."

"Chặt lúc còn đông cứng hay chờ rã?"

"Cậu Vỹ bảo chờ rã thì không kịp giờ."

Tôi ngồi im một lúc.

"Chị Thoả này."

"Dạ."

"Cậu ấy trừ lương chị bao nhiêu?"

"Bốn con dao, mỗi con tám trăm. Với lại cho em nghỉ."

"Ba triệu hai."

"Vâng."

"Lương chị một tháng bao nhiêu?"

"Sáu triệu tư ông ạ."

"Chị có ký gì không?"

"Cậu ấy đưa em tờ giấy, bảo em ký nhận là em làm hỏng."

"Chị ký chưa?"

"Em ký rồi."

"Sao chị ký?"

"Cậu ấy bảo ký thì trừ lương, không ký thì bắt em đền cả bộ mười hai con."

Chị Thoả nói câu ấy xong thì chị ấy ngồi thụp xuống thành bể nước.

"Em làm ở đây mười hai năm ông ạ."

"Tôi biết."

"Em không biết chữ nhiều, em đọc cái giấy ấy em chả hiểu gì."

"Chị đọc được tên chị chứ?"

"Tên em thì em đọc được."

"Thế thôi cũng được."

Tôi đứng dậy, phủi quần.

"Bộ dao mẻ ấy giờ nằm đâu?"

"Trong kho, cậu Vỹ khoá lại rồi."

"Khoá làm gì?"

"Cậu ấy bảo để làm bằng chứng."

Tôi nghe câu ấy thì tôi biết là tôi phải quay lại cái bếp này một lần nữa.

Không phải để giành lại mối.

Mà vì cả đời tôi chưa thấy ai khoá bốn con dao mẻ vào kho để làm bằng chứng bao giờ.

Người ta khoá vàng, khoá tiền, chứ không ai khoá dao hỏng.

Trừ khi trong bốn con dao ấy có cái gì mà người khoá không muốn ai nhìn.

Tôi về nhà, ngồi cả buổi chiều, rồi tôi lấy cái bàn mài ra lau.

"Ông lau làm gì, ông có đi đâu đâu."

"Mai tôi ra cái bếp bên kia cầu."

"Người ta đuổi ông rồi cơ mà."

"Người ta không đuổi. Người ta bảo tôi lỗi thời."

"Thế ông ra đấy làm gì? Ông có phải người của bếp ấy đâu."

"Tôi ra tôi nhìn cái dao thôi."

Sáng hôm sau tôi đạp xe ra, tới nơi lúc sáu rưỡi, lúc bếp đang nhóm lửa.

Cậu Vỹ đứng ở sân sau, tay cầm điện thoại, thấy tôi thì cậu ấy cau mặt.

"Ông lại vào đây."

"Chú cho tôi ngồi nhờ một lúc."

"Ông ngồi nhờ làm gì? Tôi nói với ông rồi, bếp này không mài tay nữa."

"Tôi biết. Tôi không mài."

"Thế ông ngồi làm gì?"

"Tôi đợi người ta ra tôi hỏi thăm."

"Hỏi thăm ai?"

"Chị Thoả."

"À."

Cậu Vỹ bỏ điện thoại vào túi.

"Bà ấy kể với ông rồi hả?"

"Chị ấy khóc thôi, kể được mấy đâu."

"Ông biết bà ấy làm hỏng mấy con dao không?"

"Bốn con."

"Bốn con dao mới mài hai tuần. Ông tính xem tôi phải giải trình thế nào."

"Chú giải trình với ai?"

"Với chủ xưởng chứ với ai. Tôi ký cái hợp đồng mài ấy, tôi bảo là tiết kiệm được mười hai triệu một năm."

"Ra thế."

"Ông đừng nói cái giọng ấy."

"Tôi có nói giọng gì đâu."

Bếp bắt đầu đông người, mấy chị phụ bếp bưng rổ đi ngang, ai cũng liếc.

"Chú Vỹ."

"Gì?"

"Chú cho tôi xem bốn con dao ấy được không?"

"Không được."

"Sao lại không?"

"Đó là bằng chứng."

"Bằng chứng thì càng phải cho người ta xem."

"Ông là ai mà tôi phải cho ông xem?"

"Tôi là người mài bốn con dao ấy chín năm."

Cậu Vỹ cười.

"Chín năm. Rồi giờ nó mẻ. Ông thấy ông mài giỏi lắm à?"

"Chín năm nó không mẻ chú ạ."

"Ông nói dối vừa thôi. Dao nào chả mẻ."

"Nó có mẻ. Mẻ nhỏ, tôi mài đi mỗi tháng."

"Thì lần này mẻ to."

"Vâng. Nên tôi mới xin xem."

Có tiếng người sau lưng tôi.

"Cho ông ấy xem đi cậu Vỹ."

Người nói là bác Ngoạn, thợ nấu chính, sáu mươi ba tuổi, đứng chảo lớn của bếp này mười tám năm.

"Bác đứng ngoài chuyện này hộ cháu."

"Tôi đứng trong chứ. Bốn con dao ấy là dao khâu tôi."

"Dao là của bếp."

"Ừ, của bếp. Nhưng tôi dùng."

"Bác định bênh bà Thoả à?"

"Tôi không bênh ai. Tôi cũng muốn xem."

Cậu Vỹ nhìn quanh sân.

Lúc ấy trong sân có chừng mười lăm người, ai cũng đứng lại.

"Được. Xem thì xem. Nhưng ông xem xong ông đừng có nói linh tinh."

"Tôi không nói linh tinh."

Cậu ấy vào kho, mở khoá, bưng ra một cái khay tôn.

Bốn con dao phay nằm trong khay, bản to, cán gỗ, đúng bốn con tôi mài chín năm.

Tôi cầm con thứ nhất lên.

Lưỡi nó mẻ ba chỗ, mẻ hình bán nguyệt, chỗ sâu nhất bằng hạt gạo.

"Đây, ông nhìn đi."

"Tôi nhìn rồi."

"Ông thấy chưa? Chặt kiểu gì mới ra thế này."

"Chú cho tôi hỏi một câu."

"Ông hỏi."

"Chú có biết vì sao ba vết mẻ này lại nằm cách nhau đều nhau không?"

"Tôi không biết. Mà biết để làm gì?"

"Vì nó cách đều nhau ba đốt ngón tay."

"Thì sao?"

"Là người chặt đặt nhát nào cũng đúng một chỗ. Đấy là tay quen, ba chục năm mới có."

"Ông định khen bà ấy à?"

"Tôi không khen. Tôi mới nói chỗ mẻ thôi. Còn chỗ này mới là chỗ tôi muốn hỏi chú."

Tôi lật con dao nghiêng, đưa lên chỗ có nắng.

Dọc sát lưỡi, vệt xanh ấy hiện ra, xanh như vệt dầu loang trên vũng nước.

"Chú nhìn cái vệt này."

"Vệt gì?"

"Chú nhìn đi đã."

Cậu Vỹ cúi xuống, nheo mắt.

"Vệt xanh xanh."

"Vâng."

"Nó là gì?"

"Là thép cháy."

"Ông nói tiếng Việt được không?"

"Là con dao này bị mài bằng máy quay nhanh, không tưới nước, thép nóng lên quá độ."

"Rồi sao?"

"Nóng quá thì mất tôi. Mất tôi thì lưỡi nó mềm ra."

"Ông bảo dao mềm mà nó mẻ được à?"

"Chú hỏi đúng câu tôi chờ."

Cả sân im.

"Chú Vỹ, chú nghe tôi nói chậm."

"Ông nói."

"Thép cháy thì nó không mềm đều. Nó mềm chỗ sát lưỡi, còn phía trong vẫn cứng."

"Rồi?"

"Hai lớp cứng mềm khác nhau nằm cạnh nhau thì chỗ giáp ranh nó giòn."

"Ông nói vòng vo quá."

"Là con dao này chặt cái gì nó cũng mẻ, kể cả chặt đúng cách."

"Ông bịa."

"Tôi không bịa. Chú cứ nhìn ba con còn lại."

Bác Ngoạn cầm con thứ hai lên, đưa ra nắng, rồi bác ấy đưa con thứ ba.

"Con này cũng có vệt."

"Con này cũng có."

Cậu Vỹ giằng lấy con thứ tư.

"Con này thì sao? Con này không có vệt."

"Chú nói đúng. Con thứ tư không có vệt."

"Đấy!"

"Chú đọc hộ tôi cái chữ khắc ở gốc lưỡi con thứ tư."

Cậu ấy lật lên, và cậu ấy đọc.

"Có chữ L."

"Chữ L là tôi. Tôi khắc vào con nào tôi mài lại lần cuối."

"Rồi sao?"

"Con thứ tư ấy tháng trước hỏng cán, chị Thoả để riêng, không đưa cho bên kia mài."

"Ông nói thế thì..."

"Chú lật lưỡi nó lên xem có mẻ không."

Cậu Vỹ lật.

Con dao thứ tư sáng đều, lưỡi liền một đường, không một vết bán nguyệt nào.

"Cùng một người chặt, cùng một cái thớt, cùng cái thịt đông ấy, chú ạ."

"..."

"Ba con bên kia mài thì mẻ. Một con tôi mài thì không."

Cậu Vỹ đứng cầm con dao, tay cậu ấy hạ dần xuống.

"Ông... ông chắc không?"

"Chú đừng tin tôi. Tôi là ông già lỗi thời."

"Thế tôi tin ai?"

"Chú lấy cái giũa, giũa thử vào lưỡi ba con kia rồi giũa vào con thứ tư."

"Giũa thì biết gì?"

"Thép còn tôi thì giũa trượt đi, không ăn. Thép cháy thì giũa ăn vào như ăn vào gỗ."

Bác Ngoạn đi lấy cái giũa trong hòm đồ.

Cả sân đứng xem cậu Vỹ giũa.

Ba con dao kia, cái giũa ăn vào, ra bột thép trắng.

Con thứ tư, cái giũa trượt đi, kêu ken két.

Bác Ngoạn để cái giũa xuống khay.

"Cậu Vỹ, thế thì cậu trừ lương bà Thoả vì cái gì?"

"..."

"Cậu bắt bà ấy ký nhận cái gì?"

"Cháu... cháu tưởng."

"Cậu tưởng thì cậu hỏi tôi một câu. Tôi đứng chảo mười tám năm, cậu chưa hỏi tôi câu nào."

"Bác đừng nói to."

"Tôi nói vừa đủ. Cả sân nghe rồi thì tôi nói to hay nhỏ có khác gì."

Cậu Vỹ quay sang tôi.

"Ông Lượt."

"Vâng."

"Ông biết cái này từ bao giờ?"

"Từ hôm chị Thoả đưa tôi xem con dao ngoài bể nước."

"Là hai tuần trước?"

"Vâng."

"Ông biết mà ông không nói với tôi?"

"Tôi có nói. Chú bảo tôi cất cái bàn đá đi cho chú nhờ."

"Đấy là lúc trước cơ."

"Vâng, lúc trước."

"Sau đó ông không nói."

"Đúng. Sau đó tôi không nói."

"Sao ông không nói?"

"Vì tôi nói ra thì chú nghĩ tôi phá người ta để tôi lấy lại mối."

"..."

"Chú tự nghĩ mà xem. Nếu hôm ấy tôi bảo dao bên kia mài là dao hỏng, chú có tin tôi không?"

Cậu Vỹ không trả lời.

"Chú không tin. Mà chú không tin thì chị Thoả vẫn bị đuổi."

"Thế thì ông chờ đến khi bà ấy bị đuổi à?"

Câu ấy cậu ta nói to, và nó đúng.

Tôi đứng im mất mấy giây.

"Vâng. Cái đó tôi sai."

"Ông công nhận?"

"Công nhận. Tôi im hai tuần, hai tuần ấy chị ấy chặt thịt đông bằng dao hỏng."

"Đấy."

"Nhưng chú Vỹ ạ, chú với tôi khác nhau một chỗ."

"Khác chỗ nào?"

"Tôi im vì tôi hèn. Còn chú thì chú khoá bốn con dao vào kho."

"Tôi khoá để giữ bằng chứng."

"Chú giữ bằng chứng mà chú không cho ai xem thì chú giữ cho ai?"

Cậu Vỹ không nói được câu nào.

Bác Ngoạn nói thay.

"Cậu khoá là cậu đã ngờ rồi. Ngờ mà vẫn bắt bà ấy ký."

Chị Thoả lúc ấy đứng ở cửa bếp, chị ấy ra từ lúc nào không ai để ý.

Chị ấy vẫn cầm cái tạp dề trên tay, không dám bước vào sân.

"Chị Thoả."

"Dạ ông."

"Chị vào đây."

Chị ấy bước vào, hai tay vặn cái tạp dề.

"Chú Vỹ, chú nói với chị ấy đi."

Cậu Vỹ nhìn xuống khay tôn.

"Cô Thoả, chuyện dao... không phải tại cô."

"Chú nói to hơn tí."

"Chuyện bốn con dao không phải tại cô Thoả."

"Còn cái giấy chị ấy ký?"

"Tôi xé."

"Chú xé ở đây."

Cậu ấy vào phòng, cầm tờ giấy ra, xé làm bốn, bỏ vào thùng rác sau bếp.

Mười lăm người trong sân đứng nhìn cậu ấy làm cái việc ấy.

Chị Thoả không nói câu nào, chị ấy chỉ đứng khóc.

"Chị Thoả, chị nín đi."

"Em không nín được ông ạ."

"Chị khóc gì?"

"Em ký cái giấy ấy em không biết em ký cái gì."

"Chị biết chữ tên chị là được rồi."

"Ông nói thế em càng tủi."

"Thôi. Chị vào rửa mặt."

Cậu Vỹ đứng lại sân sau khi mọi người tản đi.

"Ông Lượt."

"Vâng."

"Ông mài lại bốn con dao ấy được không?"

"Ba con thì không."

"Sao lại không?"

"Thép đã cháy thì phải mài lùi vào tới chỗ thép còn sống, mất một phân bản dao."

"Mất một phân thì sao?"

"Thì con dao phay thành con dao thái. Chặt xương không được nữa."

"Thế phải làm sao?"

"Bỏ. Mua con mới."

"Ông tính hộ tôi cả tiền ông nữa."

"Tôi không lấy tiền vụ này. Vì tôi im hai tuần."

Cậu Vỹ ngồi xuống thành bể nước, ngồi cùng cái chỗ chị Thoả ngồi hôm trước.

"Ông có ghét tôi không?"

"Không."

"Tôi đuổi ông ra khỏi cổng trước mặt cả bếp."

"Chú đuổi cái bàn đá, chú có đuổi tôi đâu."

"Ông nói tránh cho tôi."

"Tôi nói đúng cái tôi nghĩ."

"Ông có tiếc cái mối này không?"

"Tiếc chứ."

"Tôi ký lại với ông nhé."

Tôi đứng im khá lâu trước khi tôi trả lời.

"Chú đừng ký với tôi."

"Sao lại đừng?"

"Vì chú ký hôm nay là chú ký vì chú ngượng."

"..."

"Ngượng thì mai kia nó hết. Hết ngượng rồi thì chú lại thấy tôi lỗi thời."

"Tôi không thấy thế nữa."

"Chú thấy thế cũng chả sao. Cái máy Đức ấy nó mài nhanh gấp mười tôi, cái đó là thật."

"Nhưng nó làm hỏng dao."

"Nó không làm hỏng. Người đứng máy làm hỏng."

"Ông nói tôi không hiểu."

"Máy nào cũng phải tưới nước, cứ mười giây lại nhúng lưỡi vào nước một lần."

"Nhúng nước thì mài một con mất năm phút. Không nhúng thì mất một phút."

"Ông bảo họ ăn gian thời gian?"

"Tôi không bảo ai ăn gian. Tôi bảo chú lần sau đứng xem người ta mài."

"Đứng xem thì tôi biết gì."

"Chú nhìn cái chậu nước. Có nhúng thì nước đục, không nhúng thì nước trong."

Cậu Vỹ ngồi im nhìn cái bể, còn tôi thì dắt xe ra cổng.

Chuyện sau đó thì gọn.

Chị Thoả đi làm lại, được trả lại ba triệu hai.

Cậu Vỹ cắt hợp đồng với bên dịch vụ, bếp mua bốn con dao mới.

Còn tôi thì không quay lại bếp ấy nữa.

Không phải vì cậu Vỹ không mời.

Cậu ấy mời hai lần, lần sau còn nhờ bác Ngoạn nói giúp.

Tôi không nhận, và cái lý do thì tôi chỉ nói với vợ tôi.

"Ông không nhận thì mỗi tháng mất một triệu tám."

"Tôi biết."

"Nhà mình mất một triệu tám là mất thật đấy ông."

"Tôi biết."

"Thế sao ông không nhận?"

"Bà ạ, chín năm tôi ngồi cái sân ấy, tôi ngồi với tư cách người ta cần tôi."

"Giờ thì sao?"

"Giờ tôi vào thì tôi ngồi với tư cách người ta có lỗi với tôi."

"Ông sĩ diện vừa thôi."

"Không phải sĩ diện. Ngồi kiểu ấy thì tôi mài không ra dao."

Vợ tôi không nói nữa, bà ấy đi dọn cơm.

Một triệu tám một tháng, tôi tính ra là hơn hai mươi triệu một năm.

Với người mài dao mười lăm nghìn một con thì hai mươi triệu là to.

Tháng ấy tôi phải đạp thêm ba xóm, mỗi ngày về muộn hơn một tiếng.

Đầu gối trái tôi có tật từ năm ngoái, đạp nhiều thì đêm nó buốt.

Đấy là cái tôi mất, và tôi không kể với chị Thoả.

Chị ấy có tìm tôi một lần, hồi giáp Tết, mang cho tôi một cân giò.

"Ông cầm cho em vui."

"Chị mang về cho các cháu."

"Ông không cầm là ông giận em."

"Tôi giận gì chị."

"Ông ơi, em hỏi ông cái này."

"Chị hỏi."

"Hôm ông ra bếp, ông có chắc là ông đúng không?"

"Tôi chắc."

"Nhỡ ông sai thì sao?"

"Thì tôi thành ông già đi phá đám người ta."

"Ông không sợ à?"

"Sợ chứ."

"Thế sao ông vẫn ra?"

"Vì cái vệt xanh ấy tôi nhìn ba mươi lăm năm rồi chị ạ."

"Ông nhìn là ông biết thật à?"

"Biết."

"Không phải ông đoán?"

"Đoán là đoán cái người ta nghĩ gì. Còn cái vệt trên thép thì nó nằm đấy, nó không nghĩ."

Chị Thoả cười, cái cười đầu tiên tôi thấy từ hôm ấy.

"Ông nói câu ấy nghe hay."

"Tôi nói câu ấy ba mươi lăm năm rồi, chỉ là chưa ai hỏi."

Bây giờ chiều nào tôi cũng đạp qua cái cầu ấy.

Qua cầu thì nhìn thấy cổng bếp, có hôm thấy chị Thoả bưng rổ đi ngang sân.

Tôi không dừng, tôi đạp thẳng.

Cái bàn mài sau yên vẫn hai viên đá, một thô một mịn, hai viên ấy tôi thay bốn năm một lần.

Người ta bảo cái nghề của tôi rồi sẽ mất, tôi nghĩ chắc là đúng.

Chỉ có điều cái máy nào cũng mài được sắc, mà chưa có cái máy nào chịu ngồi nhìn một con dao lâu như tôi.

Chia sẻ:FacebookXThreadsTelegram

Đọc tiếp

Cậu ta vứt bộ máy đồng hồ lên mặt tủ kính của tôi rồi bảo cả phố nghe rằng ông thợ vỉa hè này vừa tráo đồ của một bà cụ tám mươi mốt tuổi
Truyện

Cậu ta vứt bộ máy đồng hồ lên mặt tủ kính của tôi rồi bảo cả phố nghe rằng ông thợ vỉa hè này vừa tráo đồ của một bà cụ tám mươi mốt tuổi

Tôi tên Ứng, sáu mươi tư tuổi, sửa đồng hồ ở góc phố này bốn mươi năm, cái tủ kính rộng bằng hai cánh cửa và cái kính lúp kẹp mắt phải. Tuần trước bà Lượt tám mươi mốt tuổi trong ngõ mang sang cái đồng hồ mặt trắng của chồng bà, kêu nó chạy nhanh, tôi thay cho bà một cái chân kính vỡ và lấy ba trăm nghìn. Sáng thứ năm ấy, con ông chủ tiệm đồng hồ lớn ngoài mặt phố sang, đặt bộ máy đã tháo rời lên mặt tủ kính của tôi và nói tôi đã tráo máy, đòi tôi đền bảy triệu. Bà cụ ngồi ngoài quầy tiệm người ta từ tám giờ sáng, không dám về, vì bà sợ bà về thì người ta nói tôi nặng hơn. Người vặn vít để lại vết trên đầu con vít, và cái vết ấy không xoá đi được.

· 16 phút đọc
Cả lô hàng mốc trắng, cậu chủ trẻ chỉ vào mặt tôi bảo bà tráng ẩu thì lấy đâu ra tiêu chuẩn, và tôi vác cái phên nứa cũ đi bộ ra kho
Truyện

Cả lô hàng mốc trắng, cậu chủ trẻ chỉ vào mặt tôi bảo bà tráng ẩu thì lấy đâu ra tiêu chuẩn, và tôi vác cái phên nứa cũ đi bộ ra kho

Tôi tên Hoạt, năm mươi tư tuổi, tráng bánh đa nem ở cái sân này từ năm hai mươi ba tuổi. Hai giờ sáng dậy xay bột, sáu giờ ra phên, ba giờ chiều gỡ bánh, ba mươi năm chưa đổi giờ nào. Cơ sở đóng gói ngoài thị trấn lấy hàng của tôi bốn năm, mỗi tuần hai lượt, cho tới cái hôm một nghìn tư tệp bị khách trả về vì mốc trắng. Cậu con ông chủ sang tận sân tôi, bảo tôi tráng ẩu, bắt tôi ký giấy nhận trách nhiệm, còn trước đó đã trừ lương ba tháng của người đàn bà gỡ bánh thuê goá chồng nuôi con tật chân. Tôi chỉ xin cậu ấy mở cho tôi một kiện hàng trả về. Bánh đa nem mốc có hai kiểu, và ba mươi năm mở kiện thì biết hai kiểu ấy nhìn khác nhau như hai người khác nhau.

· 14 phút đọc
Cậu quản lý bảo tôi hàng vỉa hè thì biết gì về giày, rồi cậu ấy đuổi con bé lau dọn trước mặt cả cửa hàng, và đó là lúc tôi xách cái hòm gỗ đi lên tầng một
Truyện

Cậu quản lý bảo tôi hàng vỉa hè thì biết gì về giày, rồi cậu ấy đuổi con bé lau dọn trước mặt cả cửa hàng, và đó là lúc tôi xách cái hòm gỗ đi lên tầng một

Tôi tên Cẩn, ngoài năm mươi, sửa giày dưới gốc cây ở đầu con phố này ba mươi năm, đồ nghề là cái hòm gỗ với hai cái ghế con. Da mặt trên thì thay được, nhuộm được, đánh xi cho mới thì nhìn khó biết, còn cái đế thì không: đế là chỗ duy nhất trên đôi giày mà người mang tự viết vào đấy mỗi ngày một ít, suốt mấy năm. Buổi sáng ấy, cậu quản lý cửa hàng giày trong trung tâm thương mại xuống gốc cây bảo tôi đã đánh tráo một đôi da bò hăm hai triệu của khách gửi bảo hành, và bắt tôi đền. Cậu ấy ôm khư khư cái túi vải dưới nách, không cho tôi cầm lấy một chiếc. Ba hôm sau, con bé mười chín tuổi vẫn bê giày xuống cho tôi bị đuổi việc trước mặt cả cửa hàng. Nó xuống chỗ tôi, không mang giày, chỉ mang một cái túi ni lông đựng đồ.

· 15 phút đọc