Halab
Đoàn xe rước dâu bị chắn tàu, bố chú rể xuống xe hỏi tôi có biết một phút của ông ấy bằng mấy tháng lương của tôi không
Truyện

Đoàn xe rước dâu bị chắn tàu, bố chú rể xuống xe hỏi tôi có biết một phút của ông ấy bằng mấy tháng lương của tôi không

· 39 phút đọc · Halab

"Bà mở ra. Bà có biết một phút của tôi bằng mấy tháng lương của bà không?"

Ông ta nói câu đó lúc bảy giờ hai mươi sáng, đứng dưới nắng, tay còn cầm điếu thuốc chưa kịp dụi.

Sau lưng ông ta là chín cái xe. Xe đầu dán chữ hỷ, buộc nơ đỏ, kính hạ xuống một nửa. Trong xe là cô dâu.

Tôi đứng bên này cần chắn.

"Cháu chào bác. Cháu không mở được ạ."

"Tôi hỏi bà biết không."

"Dạ cháu không biết."

"Sáu triệu. Bảy triệu. Đúng không? Một tháng bà ngồi đây bà được bằng đấy."

"Dạ cũng gần gần thế."

"Còn tôi, một phút đứng đây là mất tiền."

Tôi không đáp. Tôi nhìn cái cần chắn. Nó sơn đỏ trắng, chỗ mối nối tôi quấn thêm băng dính đen từ mùa mưa năm ngoái, quấn xấu nhưng chắc.

Tôi là Miện. Năm nay năm mươi hai. Tôi gác cái đường ngang này hai mươi tư năm.

Chỗ tôi ngồi là một cái nhà gác rộng bằng đúng hai chiếc chiếu. Có một cái bàn, một cái ghế nhựa, một cái điện thoại đường dây riêng nối lên ga, một quyển sổ nhật ký bọc nilon, một cái đèn tín hiệu chạy ắc quy, và một đôi dép tổ ong để ở bậc cửa.

Đôi dép đó tôi chỉ xỏ khi bước ra chắn. Trong nhà gác tôi đi chân đất. Hai mươi tư năm rồi, cứ nghe chuông reo là chân tôi tự tìm đôi dép, không cần nhìn.

Sáng nay chuông reo lúc bảy giờ mười bốn. Hai hồi. Hai hồi là tàu sắp tới.

Tôi ghi vào sổ, xách đèn, xỏ dép, ra quay cần chắn xuống. Bảy giờ mười sáu tôi khoá chắn.

Bảy giờ mười tám thì đoàn xe tới.

"Bà kia."

"Dạ."

"Tàu đâu?"

"Dạ tàu chưa tới ạ."

"Chưa tới mà bà chắn?"

"Dạ ga báo rồi thì cháu phải chắn ạ."

"Ga báo là mấy giờ?"

"Dạ bảy giờ mười bốn."

"Giờ mấy giờ rồi?"

"Dạ bảy giờ mười tám."

"Bốn phút. Bà chắn tôi bốn phút vì một cái tàu chưa nhìn thấy mặt mũi đâu."

Ông ta bước lại gần. Ông ta cao, người đậm, áo sơ mi trắng bỏ trong quần, cổ đeo một sợi dây chuyền vàng to bằng cái đũa. Tôi nhớ mặt ông ta. Ông ta hay đi qua đây, xe con màu đen, mỗi lần dừng chắn là bấm còi ba tiếng ngắn.

"Bác lùi lại sau vạch giúp cháu."

"Vạch nào?"

"Dạ cái vạch sơn trắng dưới chân bác."

Ông ta nhìn xuống. Rồi ông ta bước lên trước cái vạch một bước.

"Thế thì sao?"

Tôi không nói gì nữa. Tôi quay ra nhìn đường ray.

Đường ray sáng nay khô. Nắng mới lên, chưa gắt. Bên kia chắn là dốc, dốc thoải, xuống dốc là chợ. Bảy giờ hai mươi là giờ chợ đông nhất.

"Bà không nghe tôi nói à?"

"Dạ cháu nghe ạ."

"Nghe mà bà đứng im?"

"Dạ cháu đứng im vì cháu không mở được."

"Ai bảo bà không mở được?"

"Dạ quy trình ạ."

Ông ta cười. Cái cười của người nghe thấy một chữ mà họ không tin là có thật.

"Quy trình. Bà nói với tôi chữ quy trình."

"Dạ."

"Bà biết tôi làm gì không?"

"Dạ không ạ."

"Tôi làm xây dựng. Tôi làm mười tám năm. Tôi ký cái hợp đồng ba mươi tỷ tôi cũng chỉ mất bốn mươi phút. Bà đứng đây bà chắn tôi bốn phút vì cái quy trình của bà."

"Dạ."

"Bà biết hôm nay là ngày gì không?"

"Dạ cháu nhìn xe cháu đoán là nhà bác có việc mừng."

"Con trai tôi cưới. Giờ đón dâu là bảy rưỡi. Bảy rưỡi phải qua cổng nhà gái. Người ta xem giờ."

"Dạ cháu mừng cho bác."

"Bà mừng cho tôi thì bà mở cái chắn ra."

Tôi nhìn ông ta. Tôi nhìn thẳng, vì nếu tôi nhìn xuống là ông ta sẽ nói to hơn. Hai mươi tư năm tôi học được đúng một điều: người ta gào lên là vì người ta nghĩ mình không nghe.

"Bác ạ."

"Sao."

"Cháu mở thì cháu đi tù."

Ông ta khựng một nhịp. Rồi ông ta phẩy tay.

"Tù cái gì mà tù. Bà nói cho to."

"Dạ cháu nói thật."

"Cả cái nước này người ta lách qua chắn suốt. Có ai đi tù đâu."

"Dạ tại chưa có tàu ạ."

Câu đó tôi nói khẽ. Tôi không định nói câu đó. Nó tự bật ra.

Ông ta không nghe rõ. Hoặc nghe rõ mà không muốn nghe.

Từ xe thứ hai có một người đàn ông bước xuống. Áo vest, cà vạt đỏ, tay cầm điện thoại.

"Anh Đắc, thế nào rồi anh?"

"Bà này bà không cho qua."

"Tàu đâu mà không cho qua?"

"Đấy. Chú hỏi bà ấy đi."

Người áo vest quay sang tôi. Anh ta trẻ, tầm bốn mươi, nói năng nhẹ hơn.

"Cô ơi, cô linh động giúp bọn cháu. Nhà cháu đón dâu, có giờ giấc cả."

"Dạ cháu xin lỗi. Cháu không mở được."

"Cháu biết là cô có quy định. Nhưng nhìn kìa cô, đường ray trống trơn."

"Dạ trống là vì tàu chưa tới ạ."

"Thế bao giờ tới?"

"Dạ cháu không biết chính xác. Ga báo là cháu chắn. Tàu qua hẳn, ga báo lại, cháu mới mở."

"Cô không gọi điện hỏi được à?"

"Dạ gọi được. Nhưng hỏi xong thì cháu vẫn chắn ạ."

Anh ta cười, cái cười lịch sự mà mệt.

"Cô cứng nhắc quá."

"Dạ."

Ông Đắc quay lại xe đầu. Ông ta gõ vào kính. Kính hạ xuống hẳn.

Cô dâu ngồi trong đó. Váy trắng, tóc búi cao, tay cầm bó hoa. Cạnh cô là chú rể — thằng bé trạc ba mươi, mặt hiền, đeo kính.

"Con ngồi im. Bố xử lý."

"Bố ơi thôi bố, mấy phút mà bố."

"Mấy phút là hỏng giờ. Con biết bà nội con xem giờ mất bao lâu không?"

Rồi ông ta quay lại phía tôi, và lần này ông ta nói to. Nói to cho cả chín xe nghe. Nói to cho cả cái dốc chợ nghe.

"Bà con nhìn đi. Cả đoàn rước dâu đứng đây vì một người đàn bà ngồi cái chòi ba mét vuông."

Có tiếng người cười.

Tôi nghe rõ tiếng cười đó. Nó không ác. Nó chỉ là tiếng cười của những người đang nóng ruột và vừa có ai đó cho họ một chỗ để trút.

Bên kia đường, chỗ hàng nước, mấy người bán hàng ngẩng lên nhìn. Có người rút điện thoại ra.

"Bà ơi bà mở cho người ta đi bà."

"Dạ cháu không mở được ạ."

"Đám cưới người ta mà bà."

"Dạ."

"Bà cứng thế bà."

"Ừ mở đi bà, có tàu đâu."

"Dạ các bác chờ giúp cháu tí ạ."

"Chờ đến bao giờ?"

"Dạ đến khi ga báo."

"Ga nào? Ga ở đâu mà báo?"

"Dạ ga trên kia ạ. Cách đây bốn cây."

"Thế bà không tự nhìn được à? Bà có mắt cơ mà."

"Dạ mắt cháu nhìn được hai trăm mét thôi ạ. Tàu nó chạy nhanh hơn mắt cháu."

Có người bật cười. Có người không cười.

Một bà đội nón đứng ở hàng nước nói vọng sang:

"Kệ bà ấy đi các ông ơi. Bà ấy đứng đấy hai chục năm rồi, có ai bảo được đâu."

"Bà biết bà này à?"

"Biết chứ. Bà Miện. Ngày nào tôi chả bán nước cho bà ấy."

"Bà ấy lúc nào cũng thế à?"

"Lúc nào cũng thế. Hôm bão năm kia, cây đổ chắn đường, bà ấy đứng dưới mưa ba tiếng."

"Ba tiếng?"

"Ba tiếng. Ướt như chuột. Tôi mang áo mưa ra bà ấy không mặc, bà ấy bảo mặc vào không cầm được đèn."

"Bà tên gì?"

"Dạ cháu tên Miện."

"Miện. Bà làm ở đây bao lâu rồi?"

"Dạ hai mươi tư năm."

"Hai mươi tư năm mà vẫn ngồi cái chòi này."

"Dạ."

"Bà không thấy nhục à?"

Câu đó rơi xuống giữa nắng.

Tôi nghe nó rơi. Tôi nghe cả tiếng nó chạm đất.

Sau lưng tôi, đường ray vẫn im. Cái đèn tín hiệu trong tay tôi nặng dần lên, dù nó chỉ có hơn một cân.

"Dạ cháu không ạ."

"Không?"

"Dạ."

"Bà không biết nhục thật à?"

"Dạ cháu có biết. Nhưng không phải vì cái chòi ạ."

Ông ta nhìn tôi. Lần đầu tiên trong buổi sáng đó, ông ta nhìn tôi như nhìn một người.

Rồi ông ta bỏ đi ra chỗ cái cần chắn.

"Cái này quay tay đúng không?"

"Dạ bác đừng."

"Tôi hỏi quay tay đúng không."

"Dạ bác bỏ tay ra giúp cháu."

"Bà tránh ra."

"Bác ơi."

"Tránh ra."

Tôi bước tới chắn giữa ông ta và cái tay quay. Tôi không đẩy. Tôi chỉ đứng vào chỗ đó.

"Bác nghe cháu nói một câu thôi ạ."

"Nói."

"Cái chắn này đóng rồi thì chỉ có cháu mở. Bác mở là bác chịu."

"Tôi chịu thì đã sao."

"Dạ không sao ạ. Nếu không có tàu."

"Thì làm gì có tàu!"

Ông ta hét câu đó vào mặt tôi.

Tôi đứng im. Tôi nghe tiếng ông ta vọng lại từ mấy bức tường bên kia đường, vọng một cái rồi tắt.

"Bà im à?"

"Dạ cháu đang nghe ạ."

"Nghe cái gì?"

"Dạ cháu nghe đường ray."

Ông ta nhìn tôi như nhìn người điên.

"Bà nghe được cái gì?"

"Dạ nghe được ạ. Ray nó rung trước khi mình nhìn thấy tàu. Bác cúi xuống bác sờ thử."

"Tôi cúi xuống sờ đường ray?"

"Dạ bác không phải sờ. Cháu nói thế thôi ạ."

Người áo vest lại chạy lên.

"Cô ơi thôi, cô mở đi cô. Bọn cháu chịu trách nhiệm."

"Dạ các bác chịu trách nhiệm thế nào ạ?"

"Là bọn cháu tự chịu, không liên quan đến cô."

"Dạ nếu có chuyện thì người ta không hỏi các bác đâu ạ. Người ta hỏi cháu."

"Hỏi gì cô?"

"Dạ hỏi chắn đóng hay mở. Sổ ghi thế nào. Ai mở."

"Thì cô cứ ghi là bọn cháu mở."

"Dạ cháu ghi thế thì cháu nói dối ạ."

Ông Đắc rút điện thoại.

"Được. Bà cứng thì tôi làm cho ra chuyện."

"Dạ."

"Tôi có người quen trên ngành. Bà biết ông Trạc không?"

"Dạ cháu không biết ạ."

"Không biết thì lát nữa biết."

"Dạ."

"Tôi gọi một cú là bà mất việc."

"Dạ. Bác gọi đi ạ."

Tôi nói câu đó cũng khẽ. Không thách. Tôi nói thật lòng.

Bởi vì trong hai mươi tư năm, tôi đã nghe đúng câu này bốn lần. Một lần từ ông chở cá, một lần từ hai thanh niên đi xe phân khối lớn, một lần từ một bà đưa con đi cấp cứu — bà ấy tôi không giận, tôi nhớ mãi mặt bà ấy — và một lần từ chính người sau này thành trưởng ga.

Chưa lần nào tôi mở.

"Bà không sợ à?"

"Dạ cháu sợ ạ."

"Sợ mà bà đứng đấy?"

"Dạ cháu sợ cái khác."

"Sợ cái gì?"

Tôi không trả lời câu đó. Không phải vì tôi giấu. Vì nếu tôi nói ra, ông ta sẽ tưởng tôi đang doạ ông ta, mà tôi thì không doạ ai bao giờ.

"Bà có gia đình không?"

"Dạ có ạ."

"Chồng bà làm gì?"

"Dạ nhà cháu mất rồi ạ."

"Mất lâu chưa?"

"Dạ mười một năm."

"Mất vì gì?"

"Dạ tai nạn."

"Tai nạn gì?"

"Dạ tai nạn giao thông ạ."

Ông ta khựng lại.

"Ở đây à?"

"Dạ không. Ở đường quốc lộ, cách đây hai mươi cây."

"..."

"Bác đừng nghĩ nhiều ạ. Chuyện lâu rồi."

"Bà nói ra làm gì?"

"Dạ tại bác hỏi ạ."

"Bà nói ra để tôi thấy áy náy đúng không."

"Dạ không ạ. Cháu mà muốn bác áy náy thì cháu nói từ lúc bác vừa xuống xe."

Ông ta nhìn tôi. Rồi ông ta quay đi.

Ông ta gí điện thoại lên tai. Ông ta đi vòng vòng. Ông ta nói to trong điện thoại, cố tình to.

"Alô anh Trạc. Em Đắc đây... vâng... em đang đứng ở cái chắn km bốn bảy... vâng, có một bà gác ở đây bà ấy hành em... anh xem gọi cho ai một tiếng..."

Tôi quay vào nhà gác. Tôi mở sổ ra, ghi.

Tôi ghi: 7 giờ 14, ga báo tàu. 7 giờ 16, chắn đóng và khoá. 7 giờ 18, đoàn xe chín chiếc dừng. 7 giờ hai mươi mốt, người đi cùng đoàn yêu cầu mở chắn, đã giải thích.

Tôi ghi bằng bút bi xanh, chữ tôi xấu, viết hoa lẫn viết thường.

Có tiếng người sau lưng.

"Cô ơi."

Tôi quay lại. Chú rể đứng ở cửa nhà gác. Thằng bé đeo kính, vest hơi rộng vai, tay còn cầm cái khăn tay gấp vuông.

"Dạ."

"Cô cho cháu xin lỗi."

"Dạ không có gì đâu cháu."

"Bố cháu nóng tính. Bố cháu không có ý gì đâu ạ."

"Dạ cô biết."

"Cô đừng để bụng."

"Dạ cô không để bụng. Cháu ra xe đi kẻo cô dâu mong."

Thằng bé không đi. Nó nhìn quyển sổ trên bàn.

"Cô ghi gì thế ạ?"

"Dạ cô ghi ca trực."

"Ngày nào cũng ghi ạ?"

"Ngày nào cũng ghi. Mỗi lần tàu là một dòng."

"Nhiều nhỉ."

"Dạ hai mươi tư năm."

Nó im. Rồi nó hỏi một câu mà tôi không ngờ.

"Cô ơi, thế lỡ có ai cố tình lách qua thì cô làm gì?"

"Dạ cô chạy ra."

"Chạy ra làm gì ạ?"

"Chạy ra đứng giữa đường ray, cầm đèn đỏ, vẫy."

"Vẫy cho ai?"

"Cho lái tàu."

Nó nhìn tôi.

"Lái tàu nhìn thấy thì phanh được không cô?"

"Dạ tàu hàng nặng thì bảy tám trăm mét mới dừng được cháu ạ. Nhưng lái tàu nhìn thấy đèn đỏ thì người ta còn kịp kéo còi. Có khi cái còi cứu được người dưới đường."

"Thế cô đứng đấy thì cô..."

Nó không nói hết câu.

"Dạ cô nhảy sang bên chứ cháu. Cô có dại đâu."

Tôi cười. Nó cũng cười, nhưng cái cười của nó méo.

Ngoài kia ông Đắc gọi điện xong. Ông ta bước lại, giọng khác hẳn — cái giọng của người vừa được ai đó nói cho một câu vừa ý.

"Bà Miện."

"Dạ."

"Anh Trạc bảo tôi là chuyện này nhỏ."

"Dạ."

"Anh ấy bảo bà linh động được."

"Dạ anh Trạc bảo thế thì bác nhờ anh ấy gọi cho ga giúp cháu ạ. Ga báo cho cháu một tiếng là cháu mở ngay."

Ông ta đứng sững.

"Bà lại quy trình?"

"Dạ."

"Bà bao nhiêu tuổi rồi bà Miện?"

"Dạ năm mươi hai."

"Năm mươi hai. Con cái gì chưa?"

"Dạ cháu có hai đứa. Một đứa đi làm dưới xuôi, một đứa học năm cuối."

"Học gì?"

"Dạ sư phạm ạ."

"Bà nuôi hai đứa bằng cái lương sáu triệu?"

"Dạ thêm mấy sào ruộng nữa bác ạ."

Ông ta nhìn tôi một lúc.

Rồi ông ta nói câu mà về sau tôi nghĩ lại, tôi biết ông ta không cố ý ác. Ông ta chỉ quen dùng tiền để mở mọi thứ, và sáng hôm đó ông ta gặp một thứ không mở được bằng tiền, nên ông ta cáu.

"Tôi trả bà năm triệu. Bà quay cái cần lên."

Cả đoàn im.

"Dạ?"

"Năm triệu. Tiền mặt. Trong xe tôi có."

"Dạ bác cất đi ạ."

"Mười triệu."

"Dạ bác đừng nói nữa."

"Bà chê ít à?"

"Dạ cháu không chê. Cháu xin bác đừng nói nữa. Đông người nghe thấy thì khổ cả bác."

Ông ta cười khẩy.

"Bà lo cho tôi cơ đấy."

"Dạ."

"Thôi được. Bà không mở thì tôi mở."

Ông ta quay lại phía đoàn xe, giơ tay lên.

"Chú Hoàn đâu. Ra quay hộ anh cái này."

"Bác Đắc ơi."

"Cái gì."

"Cháu xin bác đúng một điều thôi ạ."

Ông ta dừng lại.

"Điều gì?"

"Dạ bác lùi mọi người ra sau vạch. Chỉ có thế thôi ạ. Bác muốn mở thì mở, cháu không giằng với bác được, cháu già rồi. Nhưng bác cho mọi người đứng sau vạch."

"Sau vạch thì làm sao?"

"Dạ sau vạch thì nếu có chuyện, người ta còn kịp chạy."

"Bà cứ nói như sắp có bom."

"Dạ."

Ông ta nhìn cái vạch sơn trắng. Nó bạc, chỗ đậm chỗ nhạt, tôi tự kẻ lại bằng sơn thừa hồi tháng ba.

"Đứng sau vạch! Tất cả!"

Ông ta hét. Cả đoàn lùi lại. Không phải vì tôi. Vì ông ta bảo.

Tôi cảm ơn ông ta. Tôi nói thật lòng.

"Cháu cảm ơn bác."

"Cảm ơn cái gì. Chú Hoàn, quay đi."

Người tên Hoàn — cái anh áo vest cà vạt đỏ — bước tới cái tay quay. Anh ta nhìn tôi.

"Cô tránh ra tí cô."

"Dạ."

Tôi tránh ra. Tôi không giằng.

Tôi chỉ làm một việc: tôi xách cái đèn tín hiệu, bước xuống lòng đường, đi về phía đường ray, và tôi đứng đó.

Ban ngày lẽ ra phải cầm cờ đỏ. Cờ tôi giắt ở vách trong nhà gác. Tôi không kịp quay vào lấy.

"Bà kia! Bà làm gì đấy!"

"Dạ cháu đứng đây ạ."

"Bà đứng giữa đường ray?"

"Dạ cháu đứng cạnh ray. Bác cứ mở đi ạ."

"Bà điên à?"

"Dạ cháu không điên. Bác mở chắn thì xe qua. Xe qua mà có tàu thì cháu phải cầm đèn ra vẫy. Cháu ra trước cho kịp thôi ạ."

Anh Hoàn buông tay quay.

"Anh Đắc..."

"Quay đi!"

"Anh ơi bà ấy đứng đấy..."

"BÀ ẤY DOẠ! Bà ấy doạ mình đấy!"

Tôi không doạ.

Nhưng tôi biết nói gì cũng vô ích, nên tôi không nói. Tôi đứng cách mép ray một bước chân, tay phải cầm đèn, mắt nhìn về phía cua.

Chỗ đó có một rặng tre. Tàu ra khỏi cua là chỉ còn hai mươi giây.

"Cô ơi."

Chú rể lại chạy ra. Nó đứng ở mép đường, không dám bước xuống.

"Cô vào đi cô."

"Dạ cháu đứng đây tí ạ."

"Cô vào đi, cháu xin cô. Bố cháu không mở nữa đâu."

"Dạ cháu biết. Nhưng cháu đứng đây thì bác ấy không mở thật."

"Cô đứng đấy để làm bố cháu sợ ạ?"

"Dạ không. Cháu đứng đây để nếu bác ấy mở thì cháu kịp."

"Kịp cái gì cô?"

"Dạ kịp vẫy."

Nó im. Rồi nó hỏi:

"Cô ơi, hai mươi tư năm cô có ai cảm ơn cô chưa?"

"Dạ có chứ cháu."

"Ai ạ?"

"Dạ nhiều người. Có bác đi chợ sáng nào cũng cho cô một quả chuối. Có ông chở gạch hay cho cô mượn xe khi cô ốm."

"Còn ai đi qua bằng ô tô thì sao ạ?"

Tôi nghĩ một lúc.

"Dạ ô tô thì người ta ít mở kính lắm cháu ạ."

Nó cúi mặt.

"Cô ơi, cháu xin lỗi."

"Dạ cháu xin lỗi cô cái gì?"

"Cháu ngồi trong xe. Cháu nghe bố cháu nói cô. Cháu không nói được câu nào."

"Dạ cháu là con bác ấy mà."

"Nhưng mà cháu ba mươi tuổi rồi cô."

"Dạ ba mươi thì vẫn là con ạ."

Ray rung trước.

Tôi thấy nó trong lòng bàn chân, qua đôi dép tổ ong mòn gót. Một cái rung rất nhỏ, đều, như có ai gõ tay xuống mặt bàn ở phòng bên.

"Có tàu ạ."

"Đâu?"

"Dạ sắp ra khỏi cua."

"Tôi chả thấy gì."

Rồi còi tàu rúc.

Cái còi đó ở gần thì không giống trong phim. Nó không hùng tráng. Nó chỉ to, to đến mức lấp hết mọi tiếng khác, và nó làm người ta rụt cổ lại.

Tàu khách ra khỏi rặng tre.

Nó chạy qua trước mặt chúng tôi. Đầu máy, rồi các toa, gió tạt vào mặt, sỏi dưới nền lạo xạo. Trong ô cửa toa có người đang ăn, có người ngủ gục, có một đứa bé áp mặt vào kính nhìn ra.

Đoàn rước dâu im phăng phắc.

Tàu qua hết. Tiếng bánh sắt xa dần rồi mất.

Anh Hoàn thở ra một hơi rất dài.

"Đấy!"

Ông Đắc quay lại, và lần này giọng ông ta là giọng thắng cuộc.

"Đấy! Tàu qua rồi! Mở!"

"Dạ cháu chưa mở được ạ."

Cả đoàn ồ lên.

"Bà nói cái gì?"

"Dạ ga chưa báo ạ."

"Tàu chạy qua trước mặt tôi! Tôi vừa nhìn thấy nó bằng hai con mắt tôi!"

"Dạ bác nhìn thấy một cái tàu ạ."

"Thì một cái tàu chứ mấy cái!"

"Dạ."

Tôi bước lên bậc, vào nhà gác, nhìn cái điện thoại đường dây. Nó im.

Bảy giờ hai mươi chín.

"Bà Miện!"

"Dạ."

"Bà ra đây tôi hỏi."

Tôi ra.

"Bà định giữ tôi đến bao giờ?"

"Dạ đến khi ga báo."

"Bao lâu nữa?"

"Dạ cháu không biết ạ."

"Bà không biết cái gì hết! Bà chỉ biết đứng đấy nói không biết!"

Ông ta đỏ mặt. Sợi dây chuyền lắc theo nhịp ông ta nói.

"Chín xe. Chín xe! Nhà gái người ta đợi! Bà có hiểu chữ đợi không?"

"Dạ cháu hiểu ạ."

"Hiểu thì bà quay cái cần lên!"

"Dạ cháu không quay ạ."

"Vì cái gì!"

Tôi nhìn ông ta.

Và tôi nói câu mà tôi đã định nói từ đầu, nhưng sáng nay tôi nhịn, vì nói sớm thì thành ra doạ, mà tôi ghét doạ người.

"Vì hôm nay là ngày có tàu tránh nhau ở ga trên kia, bác ạ."

"Là cái gì?"

"Dạ là hai tàu ngược chiều. Tàu khách vừa qua là tàu xuôi. Còn một tàu hàng ngược lên, nó ra sau."

Anh Hoàn quay phắt lại.

"Sau bao lâu cô?"

"Dạ hôm được hôm không. Có hôm hai phút. Có hôm bốn năm phút."

"Thế ngày thường chị chắn bao lâu?"

"Dạ ngày thường cháu chắn ba phút là mở. Quy định không cho đóng lâu hơn."

"Thế sao hôm nay chị giữ suốt?"

"Dạ hôm nay hai tàu tránh nhau. Tàu này chưa qua hẳn thì tàu kia đã vào khu gian. Chắn phải giữ liền, ga chưa cho mở là cháu chưa mở được ạ."

"Sao cô không nói từ đầu!"

"Dạ cháu nói rồi ạ. Cháu nói là ga chưa báo."

Ông Đắc vẫn chưa chịu.

"Bà bịa. Bà bịa ra cái tàu thứ hai để bà giữ tôi."

"Dạ."

"Bà thề đi. Bà thề là có tàu thứ hai đi."

"Dạ cháu không thề. Cháu chỉ chắn thôi ạ."

"BÀ NÀY!"

Ông ta lao tới cái tay quay.

Ông ta không gọi ai nữa. Ông ta tự làm. Ông ta nắm tay quay, ghì xuống, quay ngược.

Cần chắn nhích lên một nấc.

"Bác!"

"Tránh ra!"

Cần chắn lên nấc thứ hai.

Có tiếng người kêu. Có tiếng cửa xe mở. Có ai đó nói "thôi bác ơi", có ai đó nói "kệ, ông ấy làm gì thì làm".

Tôi không giằng cái tay quay.

Tôi chạy.

Tôi chạy ra giữa đường ngang, đứng vào đúng chỗ tôi vẫn đứng trong đầu suốt hai mươi tư năm mà chưa bao giờ phải đứng thật, tôi giơ cái đèn tín hiệu lên quá đầu và tôi vẫy.

Vẫy theo chiều ngang. Chậm. Rộng. Đúng như người ta dạy tôi năm hai nghìn linh hai, ở cái lớp học ba ngày trong nhà kho, ông thầy bảo: "Đừng vẫy nhanh. Vẫy nhanh lái tàu tưởng mình vẫy chào."

Cần chắn lên hết.

"Xe đi! Đi đi!"

Xe đầu nổ máy.

Và đúng lúc đó thì ray rung.

Không phải cái rung nhỏ như lần trước. Lần này nó nặng. Nó chạy dọc từ gót chân lên tới đầu gối tôi.

Tàu hàng nặng hơn tàu khách. Nó rung khác.

"CÓ TÀU!"

Tôi hét. Lần đầu tiên trong buổi sáng đó tôi hét.

"CÓ TÀU! LÙI LẠI! LÙI LẠI SAU VẠCH!"

Chú rể là người phản ứng đầu tiên. Thằng bé lao ra khỏi xe, hai tay dang ngang, chắn trước mũi xe đầu.

"DỪNG! DỪNG LẠI!"

Xe đầu phanh gấp. Bó hoa cưới trên táp lô rơi xuống sàn.

Còi tàu rúc.

Lần này cái còi rúc dài, rúc gắt, rúc kiểu người lái tàu nhìn thấy có gì đó trên đường và người ta kéo còi liên hồi.

Tàu hàng ra khỏi cua.

Nó dài. Nó đen. Nó chở than, phủ bạt, bạt rách một góc bay phần phật. Nó chạy qua chỗ mũi xe đầu, cách chừng hơn một thân người.

Gió của nó tạt bó hoa cưới lăn ra tận mép cỏ.

Không ai nói gì. Không một ai.

Cái đèn trong tay tôi vẫn giơ lên. Tôi quên hạ xuống.

Tàu hàng chạy mất chừng năm mươi giây. Năm mươi giây đó dài hơn cả buổi sáng.

Rồi nó đi khỏi. Rồi tiếng bánh sắt nhỏ dần. Rồi im.

Trong nhà gác, cái điện thoại đường dây reo hai hồi ngắn một hồi dài.

Đó là tin báo tàu đã qua.

Tôi hạ đèn. Tôi đi vào, nhấc máy.

"Vâng. Vâng anh. Chắn km bốn bảy tám năm mươi. Vâng, tàu đã qua. Vâng."

Tôi đặt máy xuống.

Tôi bước ra, cầm tay quay, hạ cần chắn xuống hẳn, rồi mở khoá, rồi quay cần chắn lên đúng cách.

"Mời các bác đi ạ."

Không ai đi.

Chín cái xe, mấy chục con người, đứng im dưới nắng.

Ông Đắc vẫn còn cầm cái tay quay. Ông ta không buông ra được. Bàn tay ông ta bám vào đó, trắng bệch ở các đốt.

Thằng con trai ông ta đi tới. Nó gỡ tay bố nó ra, từng ngón một.

"Bố."

"..."

"Bố buông ra."

"..."

"Bố ơi."

Ông Đắc buông tay. Ông ta lùi lại một bước, rồi hai bước, rồi ngồi thụp xuống mép đường, ngay trên cỏ, trong bộ sơ mi trắng bỏ trong quần.

Người đầu tiên mở miệng lại là bà bán nước bên kia đường.

"Ối giời ơi. Ối giời ơi là giời."

"Bà im đi bà ơi."

"Tôi quay được hết. Tôi quay từ đầu."

"Bà quay cái gì?"

"Tôi quay cái ông ấy nâng barie."

Anh Hoàn quay phắt sang.

"Bà xoá đi bà."

"Xoá gì mà xoá."

"Bà xoá đi. Không có gì xảy ra cả."

"Không có gì á? Cái tàu nó vừa lướt qua mũi xe kia kìa."

"Nhưng có ai sao đâu."

"Ừ. Chả ai sao. May thôi."

Chú rể quay lại tìm tôi. Nó đi tới, mặt trắng bệch, cái khăn tay gấp vuông rơi đâu mất từ bao giờ.

"Cô ơi."

"Dạ."

"Cô có sao không cô?"

"Dạ cô không sao."

"Cô đứng gần quá..."

"Dạ cô đứng cạnh ray thôi cháu. Cô đứng chỗ cô vẫn đứng."

Nó nhìn xuống chân tôi. Đôi dép tổ ong dính đầy sỏi.

"Cô ơi, lúc nãy cô bảo cô sợ cái khác. Cô sợ cái gì ạ?"

Tôi im một lúc.

"Dạ cô sợ có ngày cô phải mở sổ ra ghi một dòng mà cô không ghi được."

"Là sao ạ?"

"Là dòng ghi tai nạn ấy cháu. Cô làm hai mươi tư năm, cái chắn này chưa có dòng nào như thế. Cô muốn giữ như vậy tới lúc cô về."

Nó không nói được gì.

Cô dâu đã xuống xe từ lúc nào. Váy trắng quét xuống nền đường, một tay xách váy lên, một tay còn run.

"Cô ơi cháu xin lỗi cô."

"Dạ cháu ngồi lên xe đi, kẻo bụi váy."

"Cháu xin lỗi cô thật đấy."

"Dạ cô biết. Cháu không có lỗi gì đâu."

Ông Đắc vẫn ngồi trên cỏ.

Người ta để ông ta ngồi đấy. Không ai đỡ. Tôi nghĩ mãi về chi tiết đó, về sau. Cả một đoàn người, chín cái xe, mà không ai bước tới đỡ ông ta dậy.

Cuối cùng tôi đi tới.

"Bác ơi."

"..."

"Bác vào trong này ngồi cho mát. Nắng lắm."

Ông ta ngẩng lên nhìn tôi. Mắt ông ta đỏ.

"Bà nói cái gì?"

"Dạ cháu mời bác vào nhà gác ngồi. Trong đó có cái ghế."

"Bà mời tôi?"

"Dạ."

"Bà không chửi tôi câu nào à?"

"Dạ cháu chửi bác thì được cái gì ạ."

Ông ta đứng dậy. Ông ta cao hơn tôi cả một cái đầu, mà lúc đứng dậy ông ta phải chống tay xuống cỏ.

Ông ta vào nhà gác. Ông ta ngồi xuống cái ghế nhựa. Cái ghế kêu một tiếng.

Tôi rót cho ông ta cốc nước từ cái ấm tích.

"Bác uống ạ."

"..."

"Nước vối. Cháu nấu từ đêm."

Ông ta cầm cốc. Tay ông ta vẫn còn run, nên nước sánh ra một ít xuống quyển sổ.

Tôi lấy tay áo lau quyển sổ.

"Bà Miện."

"Dạ."

"Cái tàu thứ hai đấy... nó đi qua chỗ mũi xe con tôi bao xa?"

"Dạ cháu nhìn thì chừng một thân người ạ."

"Một thân người."

"Dạ."

"Trong cái xe đó có con dâu tôi."

"Dạ."

"Và thằng con tôi."

"Dạ."

Ông ta đặt cốc nước xuống bàn.

"Nãy tôi nói với bà câu gì bà nhớ không?"

"Dạ cháu quên rồi ạ."

"Bà không quên."

"Dạ cháu quên thật ạ."

"Bà nói dối. Tôi hỏi bà có thấy nhục không."

"..."

"Bà trả lời tôi là có, nhưng không phải vì cái chòi. Vậy vì cái gì?"

Tôi ngồi xuống bậc cửa. Tôi ngồi vì chân tôi mỏi, chứ không phải vì tôi định kể lể.

"Dạ tại vì lúc bác nói câu đó, cháu đang nghĩ tới thằng con thứ hai của cháu."

"Con bà làm sao?"

"Dạ nó học sư phạm. Năm cuối. Có lần nó về, nó bảo mẹ đừng nói với ai là mẹ làm gác chắn."

"Nó bảo thế à?"

"Dạ. Nó bảo bạn nó hỏi mẹ mày làm gì, nó không biết trả lời sao."

"Rồi bà nói gì với nó?"

"Dạ cháu không nói gì. Cháu bảo ừ, thế thì con bảo mẹ làm ở đường sắt cũng được."

Ông Đắc nhìn ra cửa. Ngoài kia đoàn xe vẫn chưa đi. Người ta đứng túm tụm, nói chuyện, có người hút thuốc.

"Bà biết vì sao tôi cáu không?"

"Dạ không ạ."

"Vì tôi sợ."

"Dạ?"

"Bà nội thằng bé — mẹ tôi — bà ấy tám mươi tư. Bà ấy nằm một chỗ hai năm nay. Bà ấy chỉ có một việc là chờ nhìn thấy thằng cháu đích tôn cưới vợ. Bà ấy đi xem giờ, bà ấy dặn tôi bảy giờ rưỡi phải qua cổng nhà gái, bà ấy dặn ba lần."

"Dạ."

"Tôi sợ về tôi phải nói với mẹ tôi là con lỡ giờ rồi mẹ ạ."

Ông ta nói câu đó rất khẽ. Khẽ hơn tất cả những câu ông ta gào lên suốt buổi sáng.

"Dạ giờ mấy giờ rồi bác?"

Ông ta nhìn đồng hồ.

"Bảy giờ ba mươi tám."

"Dạ từ đây xuống nhà gái bao xa ạ?"

"Bốn cây."

"Dạ bốn cây thì bảy phút. Bác đi bây giờ là bốn mươi lăm phút."

"Muộn mười lăm phút."

"Dạ. Nhưng mà bác ạ..."

"Sao?"

"Bà cụ dặn bác bảy rưỡi, là bà cụ dặn cháu bà cụ về đến nơi, chứ có phải dặn cái xe đâu ạ."

Ông ta quay lại nhìn tôi.

"Bà nói lại xem."

"Dạ cháu nói vụng. Ý cháu là... bà cụ chờ người, chứ bà cụ không chờ cái giờ."

Ông Đắc ngồi im rất lâu.

Rồi ông ta đứng dậy. Ông ta móc ví.

"Bác cất đi ạ."

"Bà chưa biết tôi định làm gì."

"Dạ cháu biết ạ."

"Tôi định..."

"Dạ bác cất đi. Cháu xin bác."

"Vì sao?"

"Dạ tại nếu bác đưa mà cháu cầm, thì hoá ra sáng nay cháu giữ cái chắn để chờ bác đưa. Cháu không muốn thế ạ."

Ông ta cầm cái ví trong tay một lúc lâu. Rồi ông ta cất vào túi.

"Bà tên đầy đủ là gì?"

"Dạ cháu tên Nguyễn Thị Miện."

"Bà Miện."

"Dạ."

"Tôi xin lỗi bà."

"Dạ."

"Bà không nói gì à?"

"Dạ cháu nghe rồi ạ."

"Bà không tha cho tôi à?"

"Dạ cháu có giận đâu mà tha."

Chín giờ, bà bán nước sang.

"Bà Miện ơi."

"Dạ."

"Bà có sao không?"

"Dạ tôi không sao."

"Lúc nãy tôi tưởng bà chết rồi."

"Bà nói gở."

"Thật đấy. Cái tàu nó lao ra, mà bà thì đứng đấy giơ cái đèn."

"Tôi đứng cạnh ray thôi bà ạ."

"Cạnh với chả cạnh. Tôi nhìn mà tôi tối mặt."

"Bà uống nước không, tôi rót."

"Bà rót cho tôi làm gì, bà ngồi xuống đi đã. Chân bà run kìa."

Tôi nhìn xuống chân tôi. Nó run thật. Tôi không biết nó run từ lúc nào.

"Bà ngồi xuống."

"Dạ."

"Bà Miện này."

"Dạ."

"Cái clip tôi quay, tôi có nên xoá không?"

"Tuỳ bà thôi ạ."

"Ông ấy bảo tôi xoá."

"Dạ."

"Bà bảo tôi xoá thì tôi xoá."

"Tôi không bảo bà xoá, mà cũng không bảo bà giữ."

"Sao bà cứ nửa vời thế."

"Tại cái clip đó là của bà, không phải của tôi ạ."

Chín rưỡi sáng thì có xe của ngành xuống.

Hai người. Một anh trẻ cầm cặp, một chú đứng tuổi tôi biết mặt, chú Bân, phụ trách khu vực.

"Chị Miện."

"Dạ em chào chú."

"Có chuyện gì ở đây sáng nay?"

"Dạ có đoàn xe cưới dừng chờ tàu ạ."

"Chỉ thế thôi à?"

"Dạ."

Anh trẻ mở cặp, đặt điện thoại lên bàn.

"Cô xem cái này."

Trên màn hình là cái clip của bà bán nước. Quay hơi rung, có tiếng người nói chuyện chen vào, nhưng nhìn rõ hết.

Rõ cái cần chắn nhích lên nấc một. Rõ nấc hai. Rõ tôi chạy ra giơ đèn. Rõ tàu hàng.

Và rõ cả tiếng ông Đắc hét "tránh ra".

"Cô nhận ra người này không?"

"Dạ."

"Ông ta là ai?"

"Dạ em không biết tên đầy đủ ạ."

"Cô nói dối."

"Dạ."

Chú Bân thở ra.

"Chị Miện, chị ngồi xuống đây."

Tôi ngồi.

"Chị biết cái này là gì không?"

"Dạ em biết ạ."

"Người tự ý nâng chắn khi chắn đã đóng. Có tàu. Suýt xảy ra tai nạn. Chị hiểu chuyện này đi tới đâu không?"

"Dạ em hiểu."

"Chị viết tường trình. Ghi rõ tên người nâng chắn."

"Dạ."

"Chị ghi được không?"

"Dạ em ghi được ạ. Nhưng chú cho em hỏi một câu."

"Hỏi đi."

"Dạ cái sổ nhật ký của em, em đã ghi từ sáng rồi. Chú xem giúp em, xem em ghi thế đủ chưa ạ."

Tôi đưa quyển sổ. Chú Bân lật ra, đọc.

Chú đọc lâu hơn tôi tưởng. Đọc xong chú không nói gì, chú lật ngược lại vài trang, rồi lật thêm mấy trang nữa.

"Chị ghi từng chuyến một thế này à?"

"Dạ."

"Từ năm nào?"

"Dạ từ hai nghìn linh hai ạ. Sổ cũ em cất ở nhà, chất đầy một hòm ạ."

"Hai mươi mốt quyển."

"Dạ."

Chú Bân gấp sổ lại.

"Chị Miện này."

"Dạ."

"Chị có muốn tôi làm cho ra chuyện không?"

Tôi nhìn ra cửa.

Ngoài kia, đoàn xe đã đi từ lâu. Trên mép cỏ chỗ ông Đắc ngồi lúc nãy còn một vệt lõm. Bó hoa cưới bị gió tàu tạt xuống rãnh, có người nhặt lên đặt trên trụ bê tông, hoa đã héo một bên.

"Dạ chú hỏi thật ạ?"

"Thật."

"Dạ nếu chú làm ra chuyện thì ông ấy thế nào ạ?"

"Nhẹ thì phạt hành chính. Nặng thì tuỳ. Có clip, có nhân chứng, có chị."

"Dạ còn nếu chú không làm?"

"Thì tôi vẫn phải báo cáo. Nhưng báo cáo thế nào là do chị viết."

"Dạ."

"Chị nghĩ đi."

Tôi nghĩ.

Tôi nghĩ về thằng con trai ông ta lao ra chắn trước mũi xe. Tôi nghĩ về cô dâu xách váy đứng giữa đường xin lỗi tôi. Tôi nghĩ về bà cụ tám mươi tư nằm một chỗ hai năm, chờ nhìn thấy cháu mình cưới vợ.

Rồi tôi nghĩ tới đôi bàn tay ông ta bám vào cái tay quay, trắng bệch ở các đốt, không buông ra được.

"Chú Bân ơi."

"Sao chị."

"Em viết đúng những gì xảy ra. Không thêm không bớt. Được không ạ?"

"Được."

"Nhưng em xin chú một điều."

"Nói."

"Em xin chú đừng bắt em nói câu 'đề nghị xử lý'. Em viết chuyện, còn xử thế nào là việc của các chú."

Chú Bân nhìn tôi.

"Chị sợ liên luỵ à?"

"Dạ không ạ."

"Chị thương ông ta à?"

"Dạ cũng không hẳn."

"Thế vì sao?"

"Dạ tại vì sáng nay cái chắn nó giữ được rồi. Nó giữ được là vì em không mở. Em không mở là vì cái quy trình. Chứ không phải vì em muốn ai bị làm sao."

Tôi nói vụng. Tôi biết là tôi nói vụng.

Nhưng chú Bân gật đầu.

"Chị viết đi."

"Chú Bân ơi, cho em hỏi thêm câu nữa."

"Chị hỏi."

"Cái đoạn tàu tránh nhau sáng nay, có phải lịch cố định không ạ?"

"Không. Tuỳ ngày."

"Thế thì làm sao người đi đường biết được ạ?"

"Người đi đường không biết. Đấy là việc của chị."

"Dạ."

"Sao chị hỏi thế?"

"Dạ tại sáng nay ông ấy bảo em bịa ra cái tàu thứ hai. Em nghĩ mãi. Em thấy ông ấy không sai hẳn đâu chú ạ."

"Sao lại không sai?"

"Dạ tại ông ấy có biết đâu. Ông ấy nhìn thấy một cái tàu chạy qua thì ông ấy tưởng hết. Người nào cũng thế. Cả cái dốc chợ này ai cũng tưởng thế."

"Rồi chị định làm gì?"

"Dạ em định xin cái biển."

"Biển gì?"

"Dạ biển ghi mấy chữ thôi ạ. Kiểu như: có thể còn tàu thứ hai. Chờ nhân viên gác chắn mở."

Chú Bân nhìn tôi.

"Chị nghĩ ra lúc nào đấy?"

"Dạ em nghĩ từ lâu rồi ạ. Nhưng em không biết xin ai. Em cũng ngại."

"Ngại gì?"

"Dạ ngại người ta bảo em bày vẽ."

"Chị làm hai mươi tư năm mà chị ngại bày vẽ?"

"Dạ tại em chỉ là người gác chắn thôi ạ."

Anh trẻ cầm cặp ngẩng lên.

"Cô ơi, cái biển đó rẻ lắm cô. Có mấy trăm nghìn."

"Dạ."

"Cô cứ đề xuất đi cô."

"Dạ cháu không biết viết đề xuất."

"Cô viết tường trình sáu tờ được thì cô viết được."

Tôi cười.

"Dạ tường trình thì cháu viết được, tại cháu chỉ kể lại. Còn đề xuất là cháu phải xin. Xin thì cháu ngượng."

Tôi viết tường trình mất bốn mươi phút, sáu tờ giấy, chữ xấu, gạch xoá ba chỗ.

Anh trẻ cầm cặp đọc xong thì bảo:

"Cô ơi, cô viết mỗi cái này thôi ạ?"

"Dạ."

"Cô không viết là ông ta xúc phạm cô à?"

"Dạ cái đó không liên quan tới cái chắn ạ."

"Nhưng ông ta nói cô là..."

"Dạ. Nhưng ông ấy nói thì ông ấy nghe. Cháu chỉ ghi cái gì đi vào đường ray thôi."

Anh ta nhìn tôi một lúc rồi cất giấy vào cặp.

Trước khi lên xe, chú Bân quay lại.

"Chị Miện."

"Dạ."

"Hai mươi tư năm chị chưa mở chắn lần nào à?"

"Dạ chưa."

"Chưa lần nào?"

"Dạ có một lần em suýt."

"Lần nào?"

"Dạ năm hai nghìn mười một. Có bà mẹ chở con đi cấp cứu. Thằng bé sốt co giật, người tím lại. Bà ấy quỳ xuống lạy em."

"Rồi chị làm sao?"

"Dạ em không mở. Em gọi điện lên ga xin cho tàu chậm lại. Ga không cho. Em bảo bà ấy đưa thằng bé cho em, em bế nó chạy bộ vòng qua cầu vượt bộ hành, còn bà ấy đi xe vòng đường dưới. Em chạy bốn trăm mét."

"Rồi sao?"

"Dạ thằng bé sống ạ. Giờ nó học lớp mười một."

Chú Bân đứng im.

"Sao chị không kể chuyện đó cho ai?"

"Dạ kể làm gì đâu chú. Có mở chắn đâu mà kể."

Ba hôm sau, ông Đắc quay lại.

Ông ta đi một mình. Không xe con. Ông ta đi xe máy, đội mũ bảo hiểm cũ, mặc áo bạc màu. Tôi không nhận ra cho tới lúc ông ta bỏ mũ ra.

"Chào bà Miện."

"Dạ chào bác. Bác vào ạ."

"Tôi đứng đây cũng được."

"Dạ nắng lắm bác ơi."

Ông ta vào. Ông ta ngồi đúng cái ghế nhựa hôm trước.

"Đám cưới thế nào ạ?"

"Muộn mười lăm phút."

"Dạ."

"Nhà gái không nói gì."

"Dạ thế là tốt rồi ạ."

"Mẹ tôi cũng không nói gì."

"Dạ."

"Bà ấy chỉ hỏi tôi một câu."

"Dạ bà cụ hỏi gì ạ?"

"Bà ấy hỏi: mày làm sao mà mặt mày như thế."

Tôi không hỏi tiếp. Có những chuyện người ta kể tới đâu thì mình nghe tới đó.

"Bà Miện."

"Dạ."

"Tôi có gọi cho anh Trạc."

"Dạ."

"Gọi ba lần. Lần thứ ba anh ấy nhắn lại đúng một câu: chú tự làm chú tự chịu."

"Dạ."

"Người ta gọi tôi lên rồi."

"Dạ."

"Phạt tiền. Với lại lập biên bản."

"Dạ."

"Bà biết tôi ngồi trong phòng đó tôi nghĩ gì không?"

"Dạ không ạ."

"Tôi nghĩ nếu hôm ấy bà mở chắn thì bây giờ tôi không ngồi đây."

"Dạ."

"Tôi ngồi chỗ khác."

"..."

"Bà hiểu tôi nói gì không?"

"Dạ cháu hiểu ạ."

Ông ta rút trong túi áo ra một cái phong bì.

"Bác lại thế rồi."

"Không phải tiền."

"Dạ?"

"Bà mở ra xem."

Trong phong bì là một tờ giấy A4 gập tư. Là bản in một cái đơn.

"Dạ cái này là gì ạ?"

"Đơn tôi gửi lên huyện. Xin làm đường gom với hàng rào hộ lan cho đoạn này. Với lại xin lắp thêm cái đèn cảnh báo tự động ở phía dốc chợ."

"Dạ."

"Tôi làm xây dựng mười tám năm, bà ạ. Cái đoạn này tôi đi qua không dưới nghìn lần. Nghìn lần tôi bấm còi bà. Chưa lần nào tôi nghĩ tới chuyện phía dốc chợ không có gì cả."

"Dạ."

"Tôi bỏ tiền làm. Không xin ngân sách."

"Dạ sao bác không đề tên ai khác ạ?"

"Bà hỏi gì lạ thế."

"Dạ tại nếu để tên bác, người ta lại bảo bác làm để chuộc lỗi."

Ông ta cười. Lần đầu tiên tôi thấy ông ta cười mà không có gì ở trong đó cả.

"Thì tôi chuộc lỗi thật mà."

"Dạ."

"Bà Miện."

"Dạ."

"Bà cho tôi hỏi thật một câu."

"Dạ bác hỏi ạ."

"Hôm ấy bà đứng ra giữa đường ray. Bà tính thật hay bà doạ tôi?"

Tôi nhìn ra cái chắn. Nắng lên cao, cần chắn đổ bóng xuống mặt đường thành một vệt dài.

"Dạ cháu không doạ ai bao giờ ạ."

"Vậy là thật."

"Dạ."

"Bà không sợ chết à?"

"Dạ cháu sợ chứ ạ. Cháu sợ lắm. Nhưng bác ơi..."

"Sao?"

"Cháu đứng cạnh ray, cháu nhảy sang bên là được. Còn cái xe của các bác nó nằm trên ray thì nó không nhảy đi đâu được ạ."

Ông ta không nói gì nữa.

"Bà Miện, tôi hỏi câu cuối."

"Dạ."

"Nếu hôm ấy không có tàu thứ hai thì sao?"

"Dạ thì bác qua, đám cưới đúng giờ, không ai biết gì cả."

"Và tôi vẫn nghĩ bà là con mụ cứng đầu."

"Dạ."

"Bà không thấy bất công à?"

"Dạ không ạ."

"Vì sao?"

"Dạ tại cái nghề của cháu nó thế. Ngày nào không có chuyện gì là ngày đó cháu làm đúng. Mà làm đúng thì không ai nhìn thấy."

"Hai mươi tư năm không ai nhìn thấy."

"Dạ. Hai mươi tư năm không có ai chết ở cái chắn này. Cháu lấy cái đó làm đủ ạ."

Ông ta đặt cốc xuống rất khẽ.

"Bà nói câu đó bà có biết nó nặng không?"

"Dạ cháu nói vụng thôi ạ."

Ông ta ngồi thêm một lúc, uống hết cốc nước vối, rồi đứng dậy.

"Tôi về."

"Dạ bác đi ạ."

"Bà này."

"Dạ."

"Cái thằng con thứ hai nhà bà. Cái đứa học sư phạm."

"Dạ."

"Bà bảo nó là mẹ nó làm nghề gì?"

"Dạ cháu bảo nó là mẹ làm ở đường sắt ạ."

"Từ nay bà đừng bảo thế nữa."

"Dạ?"

"Bà bảo nó là mẹ mày giữ cái chắn. Bà nói nguyên chữ đó."

Tôi đứng ở bậc cửa nhìn theo cái xe máy của ông ta xuống dốc.

Chiều hôm đó tôi trực ca. Bảy giờ tối chuông reo hai hồi. Tôi ghi sổ, xỏ dép, ra quay cần chắn xuống.

Một chiếc xe máy chở rau dừng lại. Một bà cụ chống gậy đứng chờ. Một thằng bé đi học về, cặp sách trễ một bên vai, đứng đếm toa tàu.

Tàu qua. Ga báo. Tôi mở chắn.

"Mời các bác đi ạ."

Rồi tôi vào, ghi thêm một dòng.

Cái biển thì hai tháng sau người ta mang xuống. Sắt tây, chữ đỏ, đóng vào cái cọc bên dốc chợ: CÓ THỂ CÒN TÀU THỨ HAI — CHỜ NHÂN VIÊN GÁC CHẮN MỞ.

Tôi ra đọc lại ba lần rồi mới vào.

Cuối tháng, lương tôi vẫn sáu triệu hai. Không ai thưởng tôi cái gì. Không có phong bì nào, không có cái bằng khen nào, không có ai gọi tôi lên để nói một câu tử tế trước đám đông.

Chỉ có một thứ đổi.

Thằng con thứ hai của tôi gọi điện về, giữa tuần, không phải chủ nhật như mọi khi.

"Mẹ ơi."

"Ừ, con ăn cơm chưa?"

"Rồi mẹ. Mẹ ơi con hỏi cái này."

"Ừ."

"Có phải hôm nọ ở chỗ mẹ có cái clip không mẹ?"

"..."

"Mẹ ơi?"

"Ừ. Có."

"Bạn con nó gửi con. Nó bảo con xem đi, hay lắm. Nó không biết đấy là mẹ."

"Ừ."

"Con xem xong con không nói gì với nó cả."

"Ừ, thôi con."

"Không phải đâu mẹ. Con không nói là vì con khóc. Con nói ra là nó biết."

Tôi cầm cái điện thoại, đứng ở cửa nhà gác, nhìn ra đường ray tối.

"Mẹ ơi."

"Ừ."

"Mai con về mẹ nhé."

"Ừ."

"Con về con ngồi trực với mẹ một đêm được không mẹ?"

"Ừ. Về đi con."

Nó về thật. Nó ngồi với tôi từ chín giờ tối tới sáu giờ sáng, trên cái bậc cửa, hai mẹ con ăn hết một cặp lồng cơm nguội.

"Mẹ ơi, đêm nào cũng vắng thế này à?"

"Ừ."

"Mẹ không buồn à?"

"Buồn chứ. Mấy năm đầu mẹ khóc suốt."

"Sao mẹ không bỏ?"

"Mẹ định bỏ mấy lần rồi con ạ."

"Sao mẹ không bỏ thật?"

"Tại có lần mẹ xin nghỉ, người ta cử một chú khác xuống thay ba hôm. Hôm chú ấy về, chú ấy bảo mẹ là: chị ơi cái chắn này khó, cua khuất, dốc chợ đông, em trực ba đêm em không ngủ được."

"Rồi sao mẹ?"

"Rồi mẹ rút đơn."

"Chỉ vì thế thôi hả mẹ?"

"Ừ."

"Mẹ dở hơi."

"Ừ, mẹ dở hơi."

Đêm đó có bảy chuyến tàu. Bảy lần chuông reo. Bảy lần tôi xỏ dép đi ra.

"Mẹ ơi sao mẹ không đi giày?"

"Dép quen chân rồi con."

"Dép này mòn hết gót rồi mẹ."

"Ừ."

"Mẹ đi bao lâu rồi?"

"Đôi này à? Chắc hai năm."

"Hai năm một đôi dép ạ?"

"Ừ, mẹ có đi đâu xa đâu. Mẹ chỉ đi từ đây ra chắn."

"Bao nhiêu bước hả mẹ?"

"Con hỏi gì lạ thế."

"Con hỏi thật. Mẹ đếm bao giờ chưa?"

"Mười bảy bước."

Nó quay sang nhìn tôi.

"Mẹ đếm rồi à?"

"Ừ. Đêm mất điện thì mẹ đếm. Không nhìn thấy gì thì cứ đếm đủ mười bảy bước là tới."

"Mẹ ơi..."

"Sao con?"

"Không có gì đâu mẹ."

Nó quay mặt đi. Tôi biết nó quay đi làm gì, nhưng tôi không nói.

Đến lần thứ tư thì nó bảo:

"Mẹ để con quay cho."

"Con không biết đâu."

"Mẹ chỉ con."

"Cái này không phải cứ quay là được đâu con ạ."

"Thế nó thế nào hả mẹ?"

"Nó là mình phải chắc trong bụng là mình không mở, dù ai bảo gì. Cái tay nó theo cái bụng thôi."

Nó ngồi im.

Rồi nó nói, khẽ, không nhìn tôi:

"Mẹ ơi, mẹ làm cái này bao lâu rồi mẹ?"

"Hai mươi tư năm."

"Con hai mươi hai tuổi."

"Ừ."

"Vậy là mẹ giữ cái chắn này lâu hơn cả tuổi con."

"Ừ."

Nó không nói gì thêm. Nó chỉ ngồi sát vào tôi một chút.

Sáng hôm sau nó đi. Trước khi đi nó cầm quyển sổ nhật ký lên, lật lật.

"Mẹ ơi, chữ mẹ xấu quá."

"Ừ, mẹ học ít."

"Nhưng mà mẹ ghi kỹ ghê."

"Ừ."

"Mẹ ơi, sao mẹ không kể cho con nghe chuyện sáng hôm ấy?"

"Kể làm gì con."

"Con là con mẹ mà."

"Ừ, nhưng kể ra thì con lo."

"Con xem clip con còn lo hơn."

"Ừ."

"Mẹ ơi, cái ông ấy nói mẹ câu gì mà bạn con bảo nghe xong tức lắm?"

"Ông ấy hỏi mẹ có thấy nhục không."

"Rồi mẹ nói gì?"

"Mẹ nói mẹ không nhục vì cái chòi."

"Thế mẹ nhục vì cái gì?"

Tôi im một lúc.

"Mẹ nhục vì con bảo mẹ đừng nói với ai là mẹ làm gác chắn."

Nó không nói được gì. Nó ngồi im rất lâu, hai tay ôm đầu gối.

"Mẹ ơi."

"Ừ."

"Con xin lỗi mẹ."

"Ừ."

"Con ngu lắm mẹ ạ."

"Không, con chỉ hai mươi hai tuổi thôi."

"Mẹ ơi, cái dòng tai nạn ấy..."

"Sao con?"

"Sổ mẹ chưa có dòng nào đúng không mẹ?"

"Ừ. Chưa có."

"Mẹ giữ nốt đi mẹ. Còn mấy năm nữa thì mẹ về hưu?"

"Ba năm."

"Ba năm nữa thôi mẹ. Cố nhé mẹ."

Tôi bảo ừ.

Tôi không nói với nó, nhưng lúc đó trong đầu tôi nghĩ một câu, và tôi nghĩ tới bây giờ vẫn thấy đúng.

Người ta có thể đứng ở giữa nắng và bảo tôi rằng cái chòi này chỉ ba mét vuông, rằng một phút của họ bằng mấy tháng lương của tôi, rằng tôi ngồi đây hai mươi tư năm mà chẳng lên được cái gì.

Người ta nói thế cũng không sai.

Nhưng cái cần chắn đó, hạ xuống rồi thì chỉ có một người mở được.

Và suốt hai mươi tư năm, người đó chưa mở nhầm lần nào.

HẾT

Chia sẻ:FacebookXThreadsTelegram

Đọc tiếp

Hôm trường đón bằng chuẩn quốc gia, vợ anh tôi bảo tôi ra cổng trông xe vì đứng trong hội trường người ta lại tưởng thợ
Truyện

Hôm trường đón bằng chuẩn quốc gia, vợ anh tôi bảo tôi ra cổng trông xe vì đứng trong hội trường người ta lại tưởng thợ

Tôi tên Trạm, năm mươi bảy tuổi, làm lò gạch từ năm mười bốn tuổi đến giờ là bốn mươi ba năm, hiện ở tổ xếp goòng. Mu bàn tay tôi có ba vệt sẹo bỏng, lòng bàn tay thì mất vân ở phần gò. Tôi học đến lớp tám thì nghỉ, xuống bãi sông làm lò, mỗi tháng gánh mười hai cân gạo đi hai mươi tám cây lên tỉnh cho anh tôi học sư phạm. Anh tôi giờ là hiệu trưởng trường cấp hai của xã. Hôm trường đón bằng công nhận đạt chuẩn quốc gia, tôi mang bốn cân cam đến, và chị dâu tôi bảo tôi ra cổng đứng với mấy anh trông xe cho đỡ chán. Hơn trăm người trong hội trường hôm ấy đều nghĩ họ hiểu vì sao tôi đi ra. Không một ai đúng.

· 24 phút đọc
Ngày khai trương phòng khám của em trai, vợ nó bảo tôi ra ngoài trông xe vì trong này toàn thầy thuốc
Truyện

Ngày khai trương phòng khám của em trai, vợ nó bảo tôi ra ngoài trông xe vì trong này toàn thầy thuốc

Tôi tên Xuyến, bốn mươi sáu tuổi, vào xưởng giày năm hai nghìn linh ba, mười một năm đứng máy chặt rồi chuyển sang khâu gò. Các đốt ngón tay tôi không duỗi thẳng được nữa, buổi sáng phải ngâm nước ấm một lúc mới cầm gọn được cái đũa. Tôi học hết lớp chín, giấy báo trúng tuyển cấp ba tôi cất vào giữa quyển vở rồi đi bốc gạch thuê. Em trai tôi lúc ấy tám tuổi. Hôm nay nó khai trương phòng khám riêng, tôi mang ở quê ra hai chục quả trứng gà, và vợ nó bảo tôi ra ngoài ngồi ghế đá cho mát vì trong này toàn thầy thuốc với đối tác. Cả phòng chờ hôm ấy ai cũng nghĩ họ hiểu vì sao tôi đi ra. Không một ai đúng.

· 27 phút đọc
Giữa tiệc mừng thọ bà nội, con trai tôi cầm micro nói ba mươi mốt năm bố nó chỉ đi đưa mấy tờ giấy lộn
Truyện

Giữa tiệc mừng thọ bà nội, con trai tôi cầm micro nói ba mươi mốt năm bố nó chỉ đi đưa mấy tờ giấy lộn

Tôi tên Kỳ, năm nay năm mươi chín, làm bưu tá của xã này ba mươi mốt năm. Chín thôn, hơn hai nghìn hộ, ngày nào ít thì ba mươi mấy cây, ngày nào có thư bảo đảm phải quay lại thì hơn năm mươi. Ba tháng nữa tôi nghỉ hưu. Hôm mừng thọ chín mươi của mẹ tôi, mười tám mâm cỗ dựng ngoài sân, thằng con trai tôi cầm micro của ban nhạc thuê và nói trước cả họ rằng bố nó đạp xe ba mươi mốt năm chỉ để đưa mấy tờ giấy lộn. Nó nói câu đó không phải để hỗn. Nó nói bằng cái giọng người ta hay dùng khi người ta nghĩ mình đang thương ai đó. Tôi ngồi mâm thứ hai, đang bóc dở quả quýt cho mẹ tôi.

· 30 phút đọc