
Giữa tiệc mừng thọ bà nội, con trai tôi cầm micro nói ba mươi mốt năm bố nó chỉ đi đưa mấy tờ giấy lộn
"Bố nghỉ đi cho con nhờ. Ba mươi mốt năm đạp xe đưa mấy tờ giấy lộn, người ta nhìn vào người ta cười con."
Thằng Bình nói câu đó lúc mười một giờ trưa, giữa rạp, tay còn cầm cái micro của ban nhạc thuê.
Hôm ấy là mừng thọ chín mươi của bà nội nó. Mẹ tôi.
Rạp dựng ngoài sân, mười tám mâm, che bạt xanh. Bà cụ ngồi ghế đầu, quàng cái khăn nhung đỏ người ta mới mua cho, hai tay đặt lên đầu gậy.
"Bình."
"Sao mẹ?"
"Con xuống đi."
"Con nói có mấy câu thôi mà mẹ."
"Xuống."
Vợ nó kéo áo nó. Nó không xuống.
"Con nói thật đấy chứ con có nói đùa đâu. Bố sắp sáu mươi rồi. Ba tháng nữa bố về hưu. Bố cứ đi làm nốt mấy tháng ấy làm gì cho khổ."
"Kệ bố."
Tôi nói câu đó. Tôi ngồi mâm thứ hai, cạnh ông Thản trưởng thôn, tay đang bóc quả quýt.
"Bố ơi, con nói cho bố tốt."
"Ừ. Bố biết."
"Bố có biết bây giờ người ta gửi cái gì không? Người ta bấm cái điện thoại là xong."
"Ừ."
"Vậy bố còn đi làm gì?"
"Bố đi vì bố còn ba tháng hợp đồng."
"Ba tháng đấy bố kiếm được bao nhiêu?"
"Con hỏi làm gì."
"Con hỏi thật. Bao nhiêu bố?"
"Năm triệu tám."
"Năm triệu tám. Con đi làm một tháng con bằng bố bốn tháng. Bố nghỉ đi, con nuôi bố."
Cả rạp im.
Không phải im vì nó nói hỗn. Nó không hỗn. Nó nói bằng cái giọng người ta hay dùng khi người ta nghĩ mình đang thương ai đó.
Im là vì mười tám mâm cỗ đều biết tôi làm cái nghề đó, và ai cũng đang chờ xem tôi nói gì.
Tôi bóc nốt quả quýt, để lên đĩa trước mặt mẹ tôi.
"Mẹ ăn quýt."
"Ừ."
"Ngọt đấy mẹ ạ."
Thằng Bình vẫn cầm micro.
"Bố không trả lời con à?"
"Con xuống ăn cơm đi."
"Con muốn bố trả lời trước mặt mọi người."
"Trả lời cái gì hả con?"
"Bố có nghỉ không?"
"Không."
"Vì sao?"
"Vì bố còn ba tháng."
"Ba tháng thì có gì mà bố tiếc?"
Tôi nhìn nó.
Nó ba mươi tư tuổi. Nó cao hơn tôi nửa cái đầu. Nó mặc áo sơ mi xanh nhạt, đồng hồ đeo tay, tóc rẽ ngôi. Nó làm ngân hàng trên phố, ba năm nay nó gửi tiền về đều, tháng nào cũng gửi, không tháng nào quên.
Nó là đứa con tôi thương nhất, và sáng hôm đó nó đứng cầm micro giữa sân nhà tôi.
"Bố không tiếc gì cả."
"Thế thì bố nghỉ đi."
"Bố không nghỉ."
"Trời ơi bố ơi!"
Nó cười. Cái cười bực dọc.
"Bố có biết hôm cưới con, bạn con nó hỏi bố con làm gì không?"
"Con nói gì với nó?"
"Con nói bố con làm bưu điện."
"Ừ, đúng rồi còn gì."
"Nhưng nó hỏi tiếp là làm gì ở bưu điện."
"Rồi con nói sao?"
"Con nói bố con làm quản lý."
Có tiếng ai đó ở mâm cuối đặt mạnh cái chén.
Tôi nghe rõ tiếng chén đó. Rồi tôi nghe tiếng gió lùa vào bạt.
"Con nói dối à?"
"Con không nói dối. Con nói tránh đi."
"Nói tránh với bạn con thì được. Nhưng con vừa nói trước mặt cả họ."
"Con nói thật thì bố lại giận."
"Bố không giận."
"Bố giận đấy."
"Bố không giận. Bố chỉ hỏi con một câu."
"Bố hỏi đi."
"Con có xấu hổ vì bố không?"
Nó đứng im.
Cả rạp cũng im. Mười tám mâm, hơn trăm con người, không ai gắp.
"Bố hỏi thế thì con biết trả lời sao."
"Con cứ trả lời thật."
"Con không xấu hổ. Con chỉ..."
"Chỉ sao?"
"Con chỉ muốn bố sướng."
"Ừ."
"Bố cứ đạp cái xe ấy đi khắp chín thôn, người ta gọi bố là ông đưa thư. Gọi trống không. Không ai gọi bố bằng chú bằng bác."
"Người ta gọi thế cũng được mà con."
"Không được bố ạ."
"Sao lại không được?"
"Vì con là con bố."
Nó nói câu đó xong thì nó bỏ micro xuống.
Nó tưởng nó nói xong rồi.
Nhưng ở mâm số năm có người vỗ tay.
Vỗ tay lẹt đẹt, ba bốn tiếng, rồi tắt vì không ai vỗ theo. Người vỗ là chú Tuyến, em họ tôi, làm thầu vật liệu, người to, giọng to.
"Đúng đấy! Thằng Bình nó nói đúng đấy!"
"Chú Tuyến..."
"Chú nói thật. Anh Kỳ ơi, anh nghe em một câu."
"Ừ chú nói."
"Bây giờ là năm bao nhiêu rồi anh? Ai còn viết thư nữa? Con em nó ở Nhật, ngày nào nó cũng gọi về nhìn thấy mặt."
"Ừ."
"Anh làm cái nghề ấy nó hết thời rồi anh ạ. Em nói thật lòng."
"Ừ."
"Anh cứ ừ. Anh có nghe em không đấy."
"Có. Chú nói đúng."
Chú Tuyến khựng lại. Người ta chuẩn bị sẵn để cãi nhau mà bị gật đầu thì thường không biết nói tiếp thế nào.
"Đúng thì anh nghỉ đi."
"Anh nghỉ chứ chú. Ba tháng nữa anh nghỉ."
"Nghỉ luôn đi."
"Không."
"Sao lại không?"
Tôi đặt cái vỏ quýt xuống mép đĩa.
Tôi ngồi đó, giữa mười tám mâm, và tôi nghĩ tới cái cặp da đang treo ở ghi-đông xe đạp sau bếp. Trong cặp có bốn cái thư và hai cái báo của xã. Chiều nay hết cỗ tôi vẫn phải đi.
Có những thứ người ta không giải thích được giữa rạp. Nói ra thì thành kể công, mà kể công giữa đám mừng thọ mẹ mình thì còn tệ hơn cả bị chê.
"Chú Tuyến."
"Anh nói đi."
"Anh xin chú một điều thôi."
"Điều gì anh?"
"Hôm nay là mừng thọ mẹ anh. Chú với thằng Bình muốn nói gì anh, để mai nói. Mai chú sang nhà anh, chú nói cả buổi anh cũng ngồi nghe."
"Ơ hay. Em có nói gì anh đâu."
"Anh biết. Anh chỉ xin thế thôi."
Rạp im.
Tôi tưởng thế là xong. Tôi định gắp cho mẹ tôi miếng giò.
Mẹ tôi chống gậy đứng dậy.
"Thằng Bình."
"Dạ bà."
"Cháu đưa cái micro cho bà."
"Bà ơi bà ngồi xuống đi bà."
"Cháu đưa đây."
Vợ nó chạy lên đỡ bà cụ. Bà cụ gạt tay ra.
"Bà không ngã đâu. Bà chín mươi chứ bà chưa lẫn."
Bà cụ cầm cái micro. Bà cụ không biết bấm nút, ông Thản phải chạy lên bật hộ.
"Alô. Alô. Nghe được không các bác."
"Nghe rồi cụ ơi!"
"Được rồi. Tôi già rồi tôi nói chậm, các bác chịu khó nghe."
"Cụ cứ nói ạ."
"Hôm nay là ngày vui của tôi. Tôi định không nói gì. Nhưng thằng cháu tôi nó vừa nói một câu, tôi phải nói lại."
"Bà ơi..."
"Cháu im."
Bà cụ quay xuống rạp.
"Ông Thản đâu."
"Dạ cháu đây cụ."
"Ông làm trưởng thôn mấy khoá rồi?"
"Dạ ba khoá ạ."
"Ông có nhớ năm chín tư không?"
"Dạ chín tư thì cháu còn đi bộ đội cụ ạ."
"Ừ. Chín tư là năm nhà tôi có giấy."
Bà cụ dừng lại.
Tôi biết bà cụ định nói gì. Tôi đứng dậy.
"Mẹ."
"Ngồi xuống."
"Mẹ đừng nói chuyện đấy."
"Tao nói."
"Mẹ ơi hôm nay là ngày vui."
"Mày ngồi xuống cho tao."
Tôi ngồi xuống.
Ông Thản kéo ghế cho bà cụ. Bà cụ không ngồi.
"Năm chín tư, nhà tôi có cái thư của đơn vị anh nó gửi về."
Cả rạp không ai thở.
"Anh nó đi biên giới. Đi từ bảy chín. Mười lăm năm không có tin. Tôi cứ nghĩ nó còn sống ở đâu đó."
"Cụ ơi..."
"Rồi cái thư về. Người mang nó về là ông Đoạn, bưu tá cũ, ông ấy mất lâu rồi."
"Dạ."
"Ông Đoạn cầm cái phong bì đó từ sáng. Ông ấy đạp xe tới cổng nhà tôi ba lần. Ba lần ông ấy đứng ngoài cổng rồi ông ấy đạp về."
"..."
"Đến chiều ông ấy mới dám vào. Ông ấy vào, ông ấy không đưa cái phong bì ngay. Ông ấy ngồi uống hết ba chén nước. Rồi ông ấy bảo: bà ơi bà ngồi xuống đã."
Bà cụ đưa tay lau mắt bằng cái khăn nhung đỏ.
"Các bác có biết vì sao ông ấy đạp đi đạp lại ba lần không?"
"..."
"Vì ông ấy nhìn cái dấu ngoài bì là ông ấy biết. Ông ấy biết trước tôi. Ông ấy cầm nó trong cái cặp da suốt một ngày."
Bà cụ quay sang thằng Bình.
"Cháu."
"Dạ bà."
"Cháu bảo bố cháu đưa mấy tờ giấy lộn."
"Cháu... cháu không có ý..."
"Cái thư hôm ấy có phải giấy lộn không cháu?"
Thằng Bình không nói được.
"Bà hỏi cháu."
"Dạ không ạ."
"Không. Đúng rồi. Không."
Bà cụ ngồi xuống. Ngồi rất chậm, hai tay chống gậy.
"Cái nghề đó nó không phải nghề đưa giấy đâu cháu ạ. Nó là nghề mang tin về cho người ta. Tin vui cũng nó mang. Tin dữ cũng nó mang. Mà tin dữ thì nó phải cầm một mình cả ngày."
Ông Thản đứng dậy.
"Cụ cho cháu nói một câu."
"Ông nói đi."
"Cháu nói với thằng Bình."
"Chú Thản..."
"Cháu ngồi xuống nghe chú nói."
Thằng Bình ngồi xuống mép ghế.
"Chú làm trưởng thôn mười lăm năm. Chú hỏi cháu một câu thôi."
"Dạ chú hỏi ạ."
"Cháu đỗ đại học năm nào?"
"Dạ năm hai nghìn mười ạ."
"Giấy báo nhập học của cháu ai đưa tới nhà?"
Thằng Bình im.
"Chú hỏi thật đấy. Ai đưa?"
"Dạ... bố cháu."
"Bố cháu đưa lúc mấy giờ?"
"Dạ cháu không nhớ."
"Chú nhớ. Chín giờ tối."
"..."
"Chín giờ tối, mưa. Chú đang ngồi ở nhà văn hoá họp. Bố cháu đạp xe qua, chú gọi vào uống nước, bố cháu không vào. Bố cháu bảo em còn cái giấy này em phải mang về."
"..."
"Mà nhà cháu cách bưu cục mười một cây."
"Dạ."
"Bố cháu đi từ chiều. Cái giấy đó về bưu cục lúc bốn giờ. Bố cháu đi phát chín thôn xong mới về nhà. Bố cháu không mở ra xem, không mang về sớm."
"Sao chú biết?"
"Chú hỏi bố cháu ngay đêm hôm ấy. Chú bảo giấy của con ông mà ông không mang về trước à. Bố cháu bảo: giấy nào cũng là giấy của con người ta cả, đến lượt thì đưa."
Ông Thản quay xuống rạp.
"Bà con ạ."
"Ông nói đi ông Thản!"
"Tôi nói cái này không phải để bênh ông Kỳ. Tôi nói vì tôi tức."
"Ông cứ nói."
"Ở đây, ai từng nhận giấy báo nhập học từ tay ông Kỳ thì đứng lên hộ tôi cái."
Cả rạp không ai nhúc nhích.
Rồi ở mâm số bảy, một thằng thanh niên đứng dậy. Thằng Tuân, con nhà bà Rỹ, năm nay hai mươi bảy, làm kỹ sư trong Nam.
"Cháu ạ."
Rồi mâm số ba, một cô gái đứng lên. Cái Hạnh, dạy cấp hai.
"Cháu nữa ạ."
Rồi mâm số mười một. Rồi mâm số hai. Rồi hai chị em nhà ông Doãn đứng cùng lúc.
"Ông Kỳ đưa cho cháu năm hai nghìn linh bốn."
"Cháu năm mười hai."
"Cháu mười lăm ạ."
"Nhà cháu ba đứa, ba lần đều ông Kỳ."
Tôi ngồi ở mâm thứ hai. Tôi không đứng dậy được.
Tôi làm cái nghề này ba mươi mốt năm. Tôi phát cho chín thôn. Tôi có một quyển sổ ghi nhà nào có chó dữ, nhà nào có cụ nghễnh ngãng phải gọi to, nhà nào đi vắng thì gửi bà hàng xóm.
Tôi không có quyển sổ nào ghi cái này.
Ông Thản đếm.
"Mười bảy. Mười tám. Hai mươi mốt."
"Còn cháu nữa chú ơi, cháu ngồi trong bếp!"
"Ra đây, đứng ra đây cho người ta thấy."
"Hai mươi hai."
"Ông Thản ơi tôi không nhận giấy nhập học, nhưng năm chín tám ông Kỳ mang cho tôi cái thư của thằng con tôi đi xuất khẩu lao động. Tôi có được đứng không?"
"Bà cứ đứng."
"Tôi nữa. Giấy báo tin nhà tôi có người ốm ở viện tỉnh."
"Cả tôi nữa."
"Đứng hết đi, đứng hết đi."
Ông Thản bỏ micro xuống.
Tôi ngẩng lên.
Hơn một nửa cái rạp đang đứng. Người già chống gậy đứng. Người trẻ đứng. Có bà bế cháu cũng đứng, đứng mà tay vẫn giữ đứa bé.
Không ai vỗ tay. Không ai hô hào gì cả.
Người ta chỉ đứng.
Thằng Bình ngồi. Nó là người duy nhất ở khu vực đó còn ngồi.
Vợ nó đứng lên trước. Con bé kéo tay nó.
"Anh."
"..."
"Anh đứng lên đi."
"Em ngồi xuống."
"Anh Bình."
"Anh không nhận giấy nhập học ở đây. Anh nhận ở nhà."
"Thì bố mang về nhà chứ có phải bố không mang đâu."
Bà cụ gõ đầu gậy xuống nền xi măng. Một tiếng thôi.
"Bình."
"Dạ bà."
"Cháu đứng lên đi cháu."
"Bà ơi..."
"Bà không bắt cháu xin lỗi. Bà bảo cháu đứng lên."
"Cháu đứng lên thì có ích gì hả bà."
"Không có ích gì cả. Nhưng người ta đang đứng vì bố cháu, mà cháu là con bố cháu."
Thằng Bình đứng lên.
Nó đứng, hai tay buông thõng, mặt cúi. Nó đứng như đứa trẻ bị phạt, chứ không giống một người ba mươi tư tuổi làm ngân hàng trên phố.
Bà cụ đưa micro cho ông Thản.
"Thôi. Bà con ngồi xuống ăn cơm. Cỗ nguội hết rồi."
Người ta ngồi xuống. Tiếng bát đũa lại nổi lên. Ban nhạc thuê bật một bài gì đó rất nhỏ.
Tôi ra sau bếp.
Tôi ra không phải vì tôi khóc. Tôi ra vì tôi không biết để mặt mình vào đâu.
Ở sau bếp có cái xe đạp của tôi dựng vào tường. Cái cặp da treo ở ghi-đông. Cặp bạc trắng ở bốn góc, quai đứt từ năm kia, tôi khâu lại bằng dây dù màu xanh.
Thằng Bình đi ra.
"Bố."
"Ừ."
"Bố ra đây làm gì?"
"Bố lấy cái áo."
"Áo bố treo trong nhà."
"Ừ nhỉ."
Nó đứng đó. Tôi cũng đứng đó. Hai bố con đứng cạnh cái xe đạp.
"Bố ơi."
"Ừ."
"Con xin lỗi bố."
"Ừ."
"Bố không nói gì à?"
"Bố nói ừ rồi còn gì."
"Bố giận con."
"Bố không giận."
"Bố cứ nói thế."
"Bố nói thật. Bố có giận đâu."
"Sao bố không mắng con?"
"Mắng con thì bố được cái gì hả con?"
Nó im. Rồi nó hỏi:
"Bố ơi, hồi ấy giấy nhập học của con, sao bố không mang về trước?"
"Vì hôm đó bố còn giấy của nhà khác."
"Giấy gì mà quan trọng hơn giấy của con bố?"
"Không có cái nào quan trọng hơn cái nào."
"Thì tại sao?"
"Tại vì bố đi theo tuyến. Tuyến đi từ thôn Đông sang thôn Đoài, rồi vòng lên xóm Trại, rồi mới về nhà mình. Nhà mình nằm cuối tuyến."
"Bố đổi tuyến một hôm có được không?"
"Được chứ."
"Thế sao bố không đổi?"
Tôi nhìn cái xe đạp.
"Vì hôm đó trong cặp bố có cái giấy khác."
"Giấy gì hả bố?"
"Cái điện của bệnh viện tỉnh báo tin thằng Kiên nhà bà Bảo."
"..."
"Bà Bảo goá chồng, có mỗi thằng Kiên. Cái điện đó bố cầm từ chiều. Bố đi tới cổng nhà bà ấy, bố đứng ngoài đường mười lăm phút."
"Rồi bố có vào không?"
"Bố vào."
"Bà ấy nói gì hả bố?"
"Bà ấy không nói gì. Bà ấy đi lấy cho bố cốc nước."
Thằng Bình quay mặt đi.
"Con ạ."
"Dạ."
"Bố kể chuyện này không phải để con thấy bố khổ."
"Vâng."
"Bố kể để con hiểu vì sao tối hôm đó bố về muộn."
"Vâng ạ."
"Cái giấy của con là tin vui. Tin vui thì để lúc nào cũng vui. Còn cái giấy kia thì càng để lâu càng nặng."
Nó lấy tay quệt mặt.
"Bố ơi."
"Ừ."
"Ba tháng nữa bố nghỉ thật à?"
"Thật."
"Rồi bố làm gì?"
"Bố trông cháu."
"Bố không tiếc à?"
"Tiếc chứ."
"Tiếc gì hả bố?"
"Bố tiếc là bố chưa kịp bàn giao cái sổ."
"Sổ gì hả bố?"
"Sổ bố ghi nhà nào có chó dữ, nhà nào có cụ nghễnh ngãng, nhà nào ban ngày đi vắng thì gửi ai."
"Cái đó cũng phải ghi hả bố?"
"Phải chứ con. Không ghi thì thằng mới về nó bị chó cắn."
Đêm hôm ấy tôi không ngủ được.
Tôi nằm nghe tiếng người ta dọn rạp ngoài sân. Tiếng gấp bạt, tiếng xếp ghế nhựa chồng lên nhau, tiếng ai đó kéo cái bàn inox lê trên nền xi măng.
Tôi nghĩ về cái cặp da.
Cái cặp đó cơ quan phát cho tôi năm chín lăm, hồi tôi mới vào nghề, cùng với một cái áo mưa cánh dơi và một cái mũ cối. Áo mưa rách năm hai nghìn linh năm, tôi vá bằng miếng săm xe. Mũ cối vỡ vành, tôi vẫn để trên nóc tủ.
Da nó bạc trắng ở bốn góc, chỗ nào cọ vào ghi-đông thì mòn thành vệt sáng. Quai đứt năm kia, tôi khâu bằng dây dù xanh, khâu vụng, mũi to mũi nhỏ.
Ba mươi mốt năm cái cặp đó đựng đủ thứ.
Nó đựng giấy báo nhập học. Nó đựng điện báo của bệnh viện. Nó đựng thư của người đi làm xa gửi về, thư của người ở nhà gửi đi. Nó đựng giấy mời họp, giấy báo tiền điện, tờ báo tỉnh gói trong nilon những hôm trời mưa.
Và có một lần, năm hai nghìn mười tám, nó đựng một cái giấy báo tin từ bệnh viện tỉnh.
Cái giấy đó tôi mang tới nhà bà Kiếm ở thôn Đoài lúc mười giờ sáng. Tôi đứng ở cổng, tôi gọi ba lần bà ấy mới ra.
Tôi không kể chuyện đó cho ai. Kể ra thì để làm gì.
Sáng hôm sau trời có sương. Sương xuống muộn, tháng này mà còn sương là lạ.
Hôm sau nó không về phố.
Sáu giờ sáng tôi dắt xe ra thì thấy nó đứng ở cổng, mặc cái áo khoác của tôi, đội cái mũ cối của tôi.
"Con đi với bố."
"Con đi làm gì?"
"Con xin nghỉ một hôm."
"Đường xa lắm."
"Bao xa hả bố?"
"Bốn mươi bảy cây."
"Bốn mươi bảy?"
"Ừ. Hôm nào ít thì ba mươi mấy. Hôm nào có thư bảo đảm phải quay lại thì hơn năm mươi."
"Bố đi bằng cái xe này?"
"Ừ."
"Bố đi ba mươi mốt năm?"
"Ừ."
Nó không nói gì nữa. Nó lấy xe máy của nó ra, nhưng tôi bảo:
"Con đi xe máy thì con đi trước bố cả buổi. Con ngồi sau bố."
"Xe đạp chở hai được không bố?"
"Được. Hồi bé bố chở con suốt."
Nó ngồi sau. Nó nặng sáu mươi mấy cân. Tôi đạp lên cái dốc đầu thôn thì thở.
"Bố để con đạp."
"Không cần."
"Bố ơi để con."
"Con không biết đường."
"Thì bố chỉ."
"Chỉ thì cũng phải biết nhà. Cái nhà thứ ba từ cây gạo vào, cổng sắt xanh, có con chó buộc bên trái. Con biết không?"
"Không."
"Đấy."
Buổi sáng hôm đó có mười chín cái. Bốn cái thư thường, hai cái bảo đảm, còn lại là báo với công văn của xã.
Nhà đầu tiên là nhà bà Rỹ.
"Chào bà Rỹ."
"Ơ, ông Kỳ. Hôm nay có ai đi cùng à?"
"Con trai tôi đấy bà."
"Thằng Bình hả? Trời ơi lớn quá. Hôm qua bà thấy cháu ở đám mà bà không dám chào."
"Dạ cháu chào bà ạ."
"Cháu về được mấy hôm?"
"Dạ cháu về hôm qua."
"Bà nói cái này cháu đừng giận bà nhé."
"Dạ bà cứ nói."
"Thằng Tuân nhà bà, năm nó đỗ, cả nhà bà đi làm đồng hết. Bố cháu đạp xe vào tận ruộng đưa cho bà."
"Dạ."
"Bà đang cấy. Tay bà đầy bùn. Bà không dám cầm."
"..."
"Bố cháu bảo bà rửa tay đi rồi cầm, để cháu giữ hộ. Bố cháu đứng đấy giữ cái phong bì mười phút cho bà rửa tay."
Tôi dắt xe đi.
"Bà Rỹ ơi tôi đi đây."
"Ừ ông đi. Ơ mà ông Kỳ này."
"Gì bà?"
"Ba tháng nữa ông nghỉ à?"
"Ừ."
"Thế đứa nào về thay ông?"
"Chưa biết bà ạ. Trên bảo là sắp xếp."
"Ông bảo nó là nhà tôi có chó nhé. Nó buộc đấy nhưng dây dài."
"Tôi ghi rồi bà ạ. Ghi từ lâu rồi."
Đi được ba nhà thì thằng Bình hỏi:
"Bố ơi, sao ai cũng biết bố thế?"
"Ba mươi mốt năm mà con."
"Nhưng mà người ta biết cả chuyện hồi xưa."
"Ừ."
"Bố có nhớ hết không?"
"Nhớ chứ."
"Bố nhớ được bao nhiêu nhà?"
"Bố không đếm. Nhưng chín thôn thì bố biết mặt gần hết."
"Bao nhiêu hộ hả bố?"
"Hơn hai nghìn."
"Hai nghìn?"
"Ừ."
"Bố nhớ hai nghìn cái nhà?"
"Bố không nhớ nhà. Bố nhớ người."
Trưa hôm đó hai bố con ăn cơm nắm ở gốc cây gạo. Nó ngồi bệt xuống rễ cây, chân duỗi ra, mặt đỏ vì nắng.
"Bố ơi mỏi chân quá."
"Ừ."
"Bố không mỏi à?"
"Mỏi chứ."
"Bố mỏi mà bố đi ba mươi mốt năm?"
"Ừ."
"Bố ơi con hỏi thật."
"Ừ."
"Có bao giờ bố định bỏ không?"
"Có."
"Lúc nào hả bố?"
"Năm hai nghìn linh hai. Lúc đó lương bố có tám trăm nghìn. Mẹ con ốm. Con thì đang học cấp một. Người ta rủ bố đi làm phụ hồ, ngày được năm chục."
"Rồi sao bố không đi?"
"Bố viết đơn rồi."
"Bố viết rồi á?"
"Ừ. Bố viết đơn xin nghỉ, bố để trong cặp ba ngày."
"Rồi sao bố không nộp?"
Tôi nhai hết miếng cơm nắm.
"Ngày thứ ba, bố phát tới nhà ông Đoạn."
"Ông Đoạn là ông bưu tá cũ hả bố?"
"Ừ. Lúc đó ông ấy ốm rồi, nằm một chỗ."
"Rồi sao ạ?"
"Ông ấy hỏi bố dạo này thế nào. Bố bảo cháu định nghỉ chú ạ."
"Ông ấy nói gì?"
"Ông ấy không nói gì cả. Ông ấy bảo bố lấy hộ ông ấy cái hộp dưới gầm giường."
"Trong hộp có gì hả bố?"
"Có ba mươi bảy cái phong bì."
"Phong bì gì?"
"Phong bì thư không phát được. Người nhận đi đâu mất, hoặc mất rồi, hoặc địa chỉ sai. Theo lệ thì phải hoàn trả về nơi gửi."
"Rồi sao ông ấy giữ?"
"Ông ấy hoàn trả hết rồi. Ba mươi bảy cái này là bì ông ấy chép tay lại — ai gửi cho ai, gửi từ đâu, ngày nào. Ruột thư ông ấy không đụng."
"Chép lại làm gì hả bố?"
"Để nhỡ có ngày người ta quay về xã, người ta hỏi, thì còn có cái mà đưa."
Thằng Bình ngồi thẳng dậy.
"Ông ấy chép tay ba mươi bảy lá thư của người khác?"
"Ừ."
"Rồi có ai quay về không bố?"
"Có bốn người."
"Bốn trên ba mươi bảy."
"Ừ."
"Thế còn ba mươi ba cái kia?"
"Vẫn nằm trong hộp."
"Bây giờ cái hộp ở đâu hả bố?"
"Ở nhà mình."
Nó quay phắt sang nhìn tôi.
"Ở nhà mình á?"
"Ừ. Ông Đoạn cho bố. Ông ấy bảo: cháu giữ hộ chú. Cháu mà nghỉ thì cháu đưa cho thằng sau."
"Bố có định đưa cho ai chưa?"
"Chưa. Chưa biết đứa nào về thay."
Nó im rất lâu. Rồi nó hỏi, giọng khác hẳn:
"Bố ơi, cái đơn xin nghỉ năm linh hai ấy."
"Ừ."
"Bố xé đi rồi à?"
"Không."
"Bố vẫn giữ?"
"Ừ. Bố kẹp trong quyển sổ ghi nhà có chó dữ."
"Sao bố giữ hả bố?"
"Để bố nhớ là bố đã suýt."
Đầu giờ chiều thì mưa.
Mưa tháng tám ở vùng này đến rất nhanh. Đang nắng, gió đổi chiều một cái, mây từ phía núi kéo xuống, mười phút sau là trắng đường.
Tôi tấp vào cái quán tạp hoá đầu dốc, dựng xe dưới mái hiên tôn.
"Bố ơi mưa to quá."
"Ừ."
"Mình trú tí rồi đi bố nhỉ."
"Ừ, trú."
Tôi mở cặp ra, lấy cái túi nilon dày ở đáy cặp, bọc chỗ thư lại, buộc chun. Cái túi đó tôi mang theo từ đời nào không nhớ nữa, thủng một lỗ nhỏ ở góc, tôi lấy băng dính dán đè.
Thằng Bình nhìn tôi làm.
"Bố có sợ ướt thư không?"
"Sợ chứ."
"Ướt thì sao hả bố?"
"Ướt thì nhoè. Nhoè thì người ta không đọc được."
"Có phải đền không bố?"
"Không phải đền. Nhưng người ta chờ cái thư đó có khi cả tháng."
Mưa xối xuống mái tôn kêu ầm ầm, nói phải hét mới nghe. Nước từ mép tôn chảy thành một hàng, đổ xuống nền đất đỏ, làm bắn lên ống quần.
Bà chủ quán rót cho hai bố con hai chén nước.
"Ông Kỳ hôm nay có người đi cùng nhỉ."
"Con trai tôi đấy bà."
"Ông sắp nghỉ rồi hả ông?"
"Ừ, ba tháng nữa."
"Nhanh nhỉ."
"Ừ, nhanh."
Bà ấy nói xong thì quay vào xếp lại mấy gói mì trên kệ. Không hỏi thêm câu nào. Người quê hay thế, hỏi một câu rồi thôi, không phải vì họ không quan tâm.
Mưa được hai mươi phút thì ngớt. Ngớt kiểu tháng tám, tức là còn lây rây nhưng đi được.
Tôi lấy cái áo mưa cánh dơi trong cặp ra. Áo màu xanh bộ đội, bạc gần hết, vá ba chỗ: một chỗ ở vai bằng miếng săm, hai chỗ ở gấu bằng chỉ khâu tay.
"Bố mặc cái này à?"
"Ừ."
"Cái này cũ quá bố ạ. Để con mua cho bố cái mới."
"Cái này còn dùng được."
"Nhưng nó rách rồi."
"Rách chỗ vai thôi. Chỗ vai thì có cặp che."
Tôi khoác áo mưa, cánh dơi trùm luôn cả ghi-đông và cái cặp. Kiểu áo đó bây giờ không ai mặc nữa, nhưng nó có một cái hơn hẳn áo mưa bộ: nó che được đồ.
Đường đất đỏ sau mưa thì trơn. Bánh xe bám đất, nặng dần lên, đi một đoạn phải dừng lấy que gạt đất ở chắn bùn.
Thằng Bình xuống đi bộ.
"Bố đạp được không?"
"Được."
"Trơn thế này mà bố đạp một mình được á?"
"Bố quen rồi."
"Ba mươi mốt năm mưa nào bố cũng đi?"
"Mưa thì vẫn đi. Trừ bão."
"Bão thì bố nghỉ?"
"Bão thì hoãn. Hôm sau đi bù."
Chúng tôi đi qua cánh đồng. Lúa đang thì con gái, xanh mướt, gió thổi thành từng vệt lượn.
Ở giữa đồng có một cây gạo. Cây đó tôi lấy làm mốc suốt ba mươi mốt năm: từ cây gạo rẽ trái là xóm Trại, rẽ phải là thôn Đoài.
Có những thứ trong nghề này không ai dạy. Không ai dạy tôi rằng nhà nào có người đi xa thì đừng dừng lâu ở cổng — vì người ta thấy mình dừng là người ta hy vọng. Không ai dạy tôi rằng đưa giấy tờ cho người già thì phải đọc to tên người nhận lên một lần, để họ chắc là không phải nhầm nhà.
Cũng không ai dạy tôi phải làm gì khi trong cặp có một cái phong bì mà mình đã biết bên trong là gì.
Cái đó thì ông Đoạn dạy tôi, năm chín lăm, bằng đúng một câu: "Cháu đừng đưa ngoài cổng. Cháu vào nhà, cháu ngồi xuống đã."
Chiều hôm đó còn hai cái thư bảo đảm.
Cái thứ nhất là của một bà cụ ở xóm Trại. Thư của con gái bà gửi từ Đài Loan.
"Bà ơi có thư."
"Ai đấy?"
"Cháu Kỳ đây bà."
"Ơ ông Kỳ. Vào đây ông."
"Bà ký hộ cháu vào đây."
"Ông đọc hộ tôi cái. Mắt tôi mờ rồi."
"Bà đưa cháu."
"Ông đọc to lên tôi nghe."
Tôi đọc. Thư ngắn thôi, gần một trang. Con bé viết là Tết này con không về được, con gửi tiền qua chỗ bác Tám, mẹ nhớ đi khám cái chân.
Tôi đọc xong thì bà cụ ngồi im.
"Ông Kỳ này."
"Dạ."
"Ông đọc lại cho tôi lần nữa được không."
"Được chứ bà."
Tôi đọc lại. Đọc chậm hơn.
Thằng Bình đứng ngoài cổng, tay vịn ghi-đông xe đạp.
Ra khỏi cổng được một đoạn nó mới hỏi:
"Bố đọc thư cho người ta à?"
"Ừ."
"Cái đó có trong việc của bố không?"
"Không."
"Thế sao bố đọc?"
"Thì bà ấy không đọc được."
"Bố đọc cho bao nhiêu người rồi?"
"Bố không đếm."
"Bố đọc lâu chưa?"
"Từ hồi bố mới vào nghề."
"Ba mươi mốt năm bố đọc thư cho người ta?"
"Ừ, có gì đâu con."
Nó dừng lại giữa đường.
"Bố."
"Sao?"
"Con nói câu hôm qua, con ngu quá bố ạ."
"Thôi."
"Bố cho con nói."
"Nói đi."
"Con tưởng bố đưa giấy. Hoá ra bố không đưa giấy."
"Thì bố đưa giấy thật mà con."
"Không phải bố ạ."
"Chứ bố làm gì?"
Nó không trả lời được ngay. Nó đứng đấy, tay vẫn vịn ghi-đông.
"Con không biết gọi là gì. Nhưng nó không phải đưa giấy."
Về tới nhà thì bảy giờ tối. Mẹ tôi ngồi ở hiên.
"Hai bố con đi đâu cả ngày?"
"Con đi làm mẹ ạ."
"Thằng Bình đi theo à?"
"Vâng bà."
"Đi thấy thế nào cháu?"
"Dạ cháu mỏi chân lắm bà ạ."
"Ừ. Bố cháu mỏi ba mươi mốt năm rồi."
"Vâng ạ."
Bà cụ cười.
"Cháu vào ăn cơm đi. Bà để phần."
Tối hôm đó tôi lấy cái hộp của ông Đoạn ra. Hộp sắt đựng bánh, nắp rỉ, phải lấy dao lẩy mới mở được.
Ba mươi ba cái phong bì chép tay. Chữ ông Đoạn nhỏ, đều, nghiêng về bên phải.
Thằng Bình ngồi xuống cạnh tôi.
"Bố cho con xem được không?"
"Được."
"Con cầm có sao không bố?"
"Không sao. Nhưng con đừng mở."
"Vâng."
Nó cầm từng cái lên, đọc tên ngoài bì.
"Bố ơi cái này đề: gửi bà Trần Thị Nhu, xóm Trại. Bà Nhu là ai hả bố?"
"Bà ấy chuyển vào Nam năm chín sáu. Không ai biết địa chỉ."
"Còn cái này: gửi anh Lê Văn Đậu, thôn Đoài."
"Ông Đậu mất năm hai nghìn."
"Thư này ai gửi cho ông ấy hả bố?"
"Bố không biết. Bố không mở."
"Bố không tò mò à?"
"Có chứ."
"Sao bố không mở?"
"Vì nó không phải của bố."
Nó đặt cái phong bì xuống, rất nhẹ.
"Bố ơi."
"Ừ."
"Nếu ba tháng nữa không ai về thay bố thì cái hộp này thế nào?"
"Thì bố giữ."
"Bố giữ tới bao giờ?"
"Tới lúc có người về."
"Lỡ không có ai về thì sao bố?"
"Thì bố giữ tới lúc bố không giữ được nữa."
"Rồi sau đó?"
Tôi nhìn nó.
"Sau đó thì tuỳ con."
Ba tháng sau tôi nghỉ.
Bưu cục làm cho tôi một buổi liên hoan nhỏ, có bảy người, một đĩa hoa quả, một cái phong bì hai trăm nghìn và một tấm giấy khen in sẵn, chỗ ghi tên thì viết tay.
"Chú Kỳ phát biểu vài câu đi chú."
"Tôi không quen nói."
"Chú cứ nói đi ạ."
"Thôi. Các cô các chú ăn đi."
"Chú nói một câu thôi."
"Ừ thì tôi nói một câu."
"Vâng ạ."
"Nhà bà Rỹ có chó, dây dài, các cô các chú đứng ngoài gọi to."
Người ta cười. Tôi cũng cười.
Về hưu rồi thì buổi sáng dài lắm.
Sáu giờ tôi vẫn dậy. Dậy rồi không biết làm gì. Có hôm tôi dắt xe ra, đi một vòng, không mang cái gì trong cặp cả.
Hôm rằm tháng ấy, thằng Bình về.
"Bố ơi."
"Ừ."
"Bố ơi, cái áo mưa con mua cho bố hôm nọ bố mặc chưa?"
"Bố treo rồi."
"Sao bố không mặc?"
"Bố không đi tuyến nữa thì mặc làm gì con."
"..."
"Con nói cái này bố đừng mắng con."
"Ừ."
"Con xin nghỉ việc trên phố rồi."
Tôi để cái chén xuống.
"Con nói lại."
"Con nghỉ rồi bố ạ."
"Nghỉ vì cái gì?"
"Con chuyển về chi nhánh huyện. Lương ít hơn bốn triệu, nhưng gần nhà."
"Con bàn với vợ chưa?"
"Rồi bố. Vợ con đồng ý."
"Con nghĩ kỹ chưa?"
"Con nghĩ ba tháng rồi."
"Con nghỉ vì bố à?"
"Không phải."
"Thật không?"
"Thật bố ạ. Con nghỉ vì con."
"Con nói bố nghe."
Nó ngồi xuống bậc thềm, chỗ tôi hay ngồi.
"Bố ơi, hôm đi với bố, con đếm được ba mươi mấy người chào bố ngoài đường."
"Ừ."
"Con làm ngân hàng mười hai năm. Con đi ngoài đường trên phố, không ai chào con."
"Ở phố người ta thế."
"Con biết. Nhưng con nghĩ mãi một chuyện."
"Chuyện gì?"
"Ba mươi mốt năm nữa, con sáu mươi lăm tuổi. Lúc đó ai đứng lên vì con?"
Tôi không nói được gì.
"Con không định làm bưu tá đâu bố. Con làm không nổi, con biết."
"Ừ, làm không dễ đâu."
"Nhưng con muốn ở chỗ nào mà người ta biết mặt con."
"Ừ."
"Bố có chê con dại không?"
"Không."
"Bố nói thật đi."
"Bố nói thật. Bố không chê con dại."
"Vì sao hả bố?"
"Vì năm linh hai bố cũng suýt bỏ. Người bảo bố ở lại không phải là bố. Là một ông già nằm một chỗ, lôi ra cái hộp dưới gầm giường."
Tháng sau, xã có người mới về thay tôi. Một thằng bé hai mươi sáu tuổi, tên Sơn, người xã bên.
Nó đến nhà tôi.
"Cháu chào chú. Cháu là Sơn, cháu về nhận tuyến của chú ạ."
"Ừ. Cháu vào."
"Chú cho cháu hỏi tuyến đi thế nào ạ."
"Cháu ngồi xuống đây."
Tôi lấy quyển sổ ra. Sổ bìa xanh, gáy long, tôi lấy băng dính dán lại.
"Đây. Cháu cầm cái này."
"Sổ gì đây chú?"
"Cháu mở ra xem."
Nó mở. Nó đọc, rồi nó ngẩng lên.
"Chú ơi cái này ghi gì thế ạ? Nhà ông Doãn: chó dữ, gọi ngoài cổng. Nhà bà Tít: cụ nghễnh ngãng, nói to bên tai phải."
"Ừ."
"Nhà anh Hoạt: ban ngày đi vắng, gửi bà Nếp cạnh nhà, bà Nếp hay quên nên phải nhắn lại buổi tối."
"Ừ."
"Chú ghi hết à?"
"Ừ."
"Bao nhiêu nhà chú?"
"Cháu đếm thì biết."
Nó lật. Lật một lúc lâu.
"Chú ơi, mấy trăm nhà."
"Ừ."
"Cái này chú ghi bao lâu?"
"Ba mươi mốt năm."
"Chú cho cháu thật à?"
"Cho cháu. Chú giữ làm gì nữa."
Nó cầm quyển sổ bằng hai tay.
Rồi tôi lấy cái hộp sắt.
"Còn cái này nữa."
"Hộp gì đây chú?"
"Cháu mở ra."
Nó mở. Nó nhìn ba mươi ba cái phong bì.
"Thư à chú?"
"Bì thư không phát được. Người ta chép tay lại phòng khi có ngày người nhận quay về mà hỏi."
"Ai chép ạ?"
"Ông Đoạn. Người làm trước chú."
"Ông ấy còn không chú?"
"Mất lâu rồi."
"Sao chú giữ?"
"Ông ấy giao cho chú. Chú giao lại cho cháu."
Thằng bé cầm cái hộp, mặt nó nghệt ra.
"Chú ơi, cháu... cháu có phải giữ mãi không ạ?"
"Không. Cháu giữ tới lúc cháu nghỉ. Rồi cháu giao cho đứa sau."
"Lỡ không có đứa sau thì sao chú?"
Tôi nghĩ một lúc.
"Thì cháu tính. Chú không dặn được cháu chuyện đó đâu."
Nó về rồi, tôi ngồi ở hiên khá lâu.
Thằng Bình đi làm về, dựng xe, ngồi xuống cạnh tôi.
"Bố ơi, cái hộp đâu rồi?"
"Bố đưa cho thằng Sơn rồi."
"Bố đưa hết à?"
"Ừ."
"Cả quyển sổ?"
"Cả quyển sổ."
"Trong quyển sổ có cái đơn xin nghỉ của bố."
Tôi giật mình.
"Ừ nhỉ."
"Bố quên à?"
"Bố quên thật."
"Thế thằng Sơn nó đọc được thì sao?"
"Thì nó đọc."
"Bố không ngại à?"
"Không."
"Sao thế bố?"
"Vì nó cũng sẽ có ngày viết một cái như thế."
Nó cười.
"Bố ơi."
"Ừ."
"Hôm mừng thọ bà, con cầm micro con nói bố ba mươi mốt năm đưa mấy tờ giấy lộn."
"Ừ."
"Con nghĩ lại, con thấy con nói đúng một chỗ."
"Chỗ nào?"
"Ba mươi mốt năm."
"Ừ."
"Chỉ đúng có mỗi con số ấy thôi bố ạ."
Tôi không nói gì. Tôi ngồi nhìn ra cái cổng.
Ngoài đường có tiếng xe đạp. Tiếng chuông kêu leng keng hai tiếng — thằng Sơn nó có cái chuông mới, chuông của tôi hỏng từ lâu, tôi toàn gõ tay vào cánh cổng.
Nó đạp qua, thấy tôi thì phanh lại.
"Chú Kỳ ơi!"
"Ừ, cháu đi tuyến à?"
"Vâng. Chú ơi nhà bà Tít, tai phải là bên nào ạ?"
"Cháu đứng đối diện bà ấy thì là bên trái cháu."
"Vâng cháu cảm ơn chú."
Tôi ngồi thêm một lúc nữa.
Trời chiều, nắng đã xiên, cái cổng sắt đổ bóng dài vào tận thềm. Ngoài đường có mấy đứa trẻ đi học về, đứa nào cũng đội mũ vành rộng.
Mẹ tôi từ trong nhà ra, chống gậy, ngồi xuống cạnh tôi.
"Mày cho nó hết rồi à?"
"Vâng."
"Cả cái hộp?"
"Vâng."
"Ừ."
Bà cụ im một lúc.
"Mày có tiếc không?"
"Có tiếc mẹ ạ."
"Tiếc thì sao mày cho?"
"Tại giữ thì để làm gì hả mẹ. Con có đi tuyến nữa đâu."
"Ừ."
Bà cụ gõ gậy xuống thềm hai cái, kiểu người già hay làm khi họ nghĩ ngợi.
"Này."
"Vâng."
"Hôm mừng thọ tao, tao nói cái chuyện của anh mày."
"Con biết."
"Tao nói không phải để bênh mày đâu."
"Con biết mẹ ạ."
"Tao nói vì tao sợ."
"Mẹ sợ gì?"
"Tao sợ chết đi rồi không còn ai nhớ ông Đoạn đạp xe ba lần ngoài cổng nhà mình."
Tôi không đáp được câu ấy.
Chúng tôi ngồi im tới lúc trời tối hẳn.
Sau này, có một hôm thằng Sơn tạt qua nhà, mặt hớn hở.
"Chú Kỳ ơi!"
"Gì đấy cháu?"
"Có người về chú ạ!"
"Về gì?"
"Cái hộp ấy chú. Có người về hỏi thư."
Tôi đứng dậy nhanh hơn tôi tưởng.
"Ai?"
"Một bà, tầm bảy mươi. Bà bảo bà là con dâu cũ nhà ông Đậu thôn Đoài. Bà đi Nam từ năm chín sáu."
"Rồi sao?"
"Cháu mở hộp, cháu tìm. Có đúng một cái đề tên chồng bà ấy."
"Cháu đưa chưa?"
"Cháu đưa rồi ạ. Bà ấy ngồi ở bưu cục đọc, đọc xong bà ấy khóc."
"Ừ."
"Chú ơi, thế là ba mươi hai cái còn lại."
"Ừ. Ba mươi hai."
"Cháu giữ tiếp chú nhé."
"Ừ. Cháu giữ tiếp."
Nó đạp đi. Cái cặp da đung đưa ở ghi-đông — cặp mới, chưa bạc góc nào.
HẾT


