
Tấm ván mục gãy lúc chín giờ hai mươi, bé trai năm tuổi tụt xuống ống bê tông sâu bảy mét và cả xóm lúc đó chỉ còn người già
Tấm ván mục gãy làm đôi lúc chín giờ hai mươi sáng, và thằng bé năm tuổi tụt xuống cái ống bê tông sâu bảy mét mà cả xóm đã quên là nó còn ở đó.
Trong xóm lúc ấy, người khoẻ nhất là một ông thợ khoan giếng sáu mươi ba tuổi đang ngồi vá ruột xe ở đầu ngõ, và trời thì đã bắt đầu chuyển màu chì ở phía sau rặng tre.
*
Chuyện bắt đầu từ con gà con.
Sáng hôm ấy, bà Rớt thả ổ gà mới nở ra sân, mười một con, lông vàng như bột nghệ.
Bà đếm bằng cách chỉ tay từng con một, và bà đếm ba lần mới xong, vì mắt bà mờ.
Thằng Bo ngồi bệt ở bậc thềm, tay cầm cái nắp lon sữa bò cào cào xuống nền xi măng.
Nó năm tuổi, tóc cắt cụt, mặc áo may ô trắng đã ngả màu và cái quần đùi kẻ ca rô rộng thùng thình buộc dây thun.
Chân nó không đi dép, vì đôi dép nhựa xanh nằm úp ở góc sân, một chiếc đứt quai khâu lại bằng chỉ dù.
*
Bố mẹ nó đi từ năm giờ sáng.
Hai người làm thuê cho một xưởng gạch cách đây mười hai cây, đi chung một chiếc xe máy cũ, mẹ ngồi sau ôm cặp lồng cơm, chiều sáu bảy giờ mới về.
Sáng nào mẹ nó cũng ra sân nói với bà một câu.
"Mẹ trông cháu giùm con."
"Ừ. Đi đi."
"Nó hay chạy ra sau lắm mẹ."
"Biết rồi."
Rồi tiếng xe máy nổ, rồi tiếng xe máy xa dần, rồi con đường đất trước ngõ lại yên.
*
Bà Rớt gần tám mươi.
Bà nhìn gần thì được, nhìn xa thì mọi thứ nhoè ra thành từng mảng màu, và người ta đi ngang ngõ thì bà nhận ra bằng tiếng dép.
Cái kính lão của bà gãy một gọng từ Tết, buộc tạm bằng sợi cước, và bà chỉ đeo khi khâu vá.
Bà trông thằng Bo bằng tai.
Nghe tiếng nắp lon cào xi măng thì biết nó ngồi ở thềm.
Nghe tiếng chân đạp bồm bộp thì biết nó chạy vòng quanh cái lu nước.
Nghe im lặng thì bà đứng dậy.
*
Xóm này có mười chín nóc nhà, nằm dọc một con đường đất rẽ vào từ đường lớn.
Ban ngày đàn ông đàn bà đi hết: xưởng gạch, phụ hồ ngoài thị trấn, bẻ măng, làm keo trên đồi.
Từ bảy giờ sáng tới năm giờ chiều, xóm chỉ còn người già, mấy đứa nhỏ chưa tới tuổi đi học, và một ông thợ khoan giếng đã bỏ nghề vì đau lưng.
*
Cạnh nhà bà Rớt, cách một bờ rào dâm bụt thưa, là mảnh vườn nhà ông Bảy Cẩn.
Ông dọn đi bốn năm rồi, theo con vào trong Nam, để lại cái nhà ba gian mái ngói xô lệch, cửa đóng bằng một sợi xích han rỉ.
Mảnh vườn sau nhà rộng chừng hai sào, cỏ tranh cao ngang bụng người lớn.
Trong đám cỏ tranh ấy có một cái miệng giếng.
*
Cái giếng ấy khoan năm nào thì trong xóm chỉ còn hai người nhớ: bà Rớt, và ông Tứ, người khoan nó.
Hồi đó ông Bảy Cẩn thuê ông Tứ khoan tìm mạch nước, khoan hơn ba chục mét mà chỉ ra nước phèn đỏ quạch, rồi ông bỏ.
Nhưng phần trên cùng của lỗ khoan thì đã lồng sẵn một đoạn ống bê tông đúc, loại ống cống đường kính ba mươi phân, nối bốn khúc.
Bốn khúc ống ấy dài tổng cộng bảy mét.
*
Miệng ống nhô lên khỏi mặt đất chừng một gang, và ông Bảy Cẩn trước khi đi có kê ngang nó một tấm ván ép cũ, dằn lên hai hòn gạch.
Bốn năm mưa nắng, tấm ván ép tách lớp, cong bốn góc, mềm ra như bìa các tông ngâm nước, còn hai hòn gạch thì bị cỏ tranh đội lên, xê ra mép.
Rồi cỏ mọc trùm qua, lá khô phủ lên, và cái chỗ ấy nhìn từ xa chỉ là một mô cỏ hơi cao hơn xung quanh.
*
Chín giờ sáng hôm ấy, mười một con gà con đi tản ra sân.
Con gà mẹ dẫn chúng ra mép sân, chỗ có bụi chuối, và thằng Bo bỏ cái nắp lon đi theo.
Nó thích nhất con nhỏ nhất, lông vàng có một vệt nâu trên lưng như cái yên ngựa.
Nó gọi con đó là con Sún, vì hôm nở ra con đó chậm nhất, mỏ mềm, đi lảo đảo.
Bà Rớt ngồi ở hiên xé lá chuối khô nhóm bếp, tai vẫn theo tiếng chân thằng nhỏ.
Bà nghe tiếng nó chạy bồm bộp về phía bụi chuối.
Rồi bà nghe tiếng nó cười.
Rồi bà không nghe gì nữa.
*
Bà Rớt đứng dậy.
Bà chống tay vào cột hiên, đứng thẳng lưng, rồi gọi.
"Bo."
Sân yên.
"Bo à."
Bà đi ra sân, tay quờ theo mép tường, mắt quét một vòng những mảng màu nhoè.
Bà không thấy cái áo may ô trắng ở đâu.
*
Điều bà Rớt chưa biết, lúc ấy, là hàng rào dâm bụt phía sau bụi chuối có một chỗ hở.
Chỗ hở ấy do đàn bò nhà bên kia đi ngang húc ra, rộng bằng vai một đứa nhỏ, và cỏ hai bên đã bị giẫm rạp thành một cái lối.
Con Sún chui qua chỗ ấy trước.
Thằng Bo chui theo sau.
*
Trong vườn ông Bảy Cẩn, cỏ tranh cao ngang ngực thằng bé.
Lá cỏ tranh có răng cưa ở rìa, cào vào hai cánh tay trần nó thành những vệt đỏ mảnh, và nó không để ý.
Nó chỉ nhìn cái đốm vàng đang chạy lúp xúp phía trước, chui qua chui lại giữa các gốc cỏ.
Nó gọi.
"Sún. Sún ơi."
Con gà con dừng lại ở một mô đất cao hơn xung quanh, chỗ có mấy tàu lá chuối khô nằm phủ.
Nó đứng trên đó, kêu chíp chíp.
Thằng Bo bước tới, giơ hai tay ra, và nó bước lên cái mô đất ấy.
*
Cái tấm ván ép ấy đã mềm từ mùa mưa năm ngoái.
Nó không kêu răng rắc.
Nó chỉ oằn xuống một cái, rồi tách ra làm hai mảnh, êm như xé một tờ giấy ướt.
Con gà con nhảy vọt sang bên.
Thằng Bo tụt thẳng xuống.
*
Ống bê tông đường kính ba mươi phân.
Vai thằng bé năm tuổi rộng hơn hai mươi lăm phân một chút.
Nó rơi theo tư thế đứng, hai tay giơ lên trước lúc rơi rồi bị thành ống ép ngược xuống, ép sát vào hai bên sườn.
Nó trượt trong lòng ống chừng bốn mét thì mắc lại ở mối nối giữa khúc hai với khúc ba, chỗ hai đầu ống lệch nhau chừng đốt ngón tay thành một cái gờ.
Cái gờ ấy chặn ngang dưới nách nó, và nó dừng ở đó, hai chân thõng trong khoảng không, đầu ngửa lên.
Trên đầu nó, cách bốn mét, là một cái lỗ tròn nhỏ bằng cái miệng bát, sáng trắng.
*
Trong ống tối.
Không tối hẳn, vì cái lỗ tròn phía trên vẫn hắt xuống một quầng sáng nhợt.
Thành ống lạnh và nhám, đầy rêu khô, chỗ rêu còn ẩm thì trơn như xà phòng.
Thằng Bo cố nhấc tay lên, và tay nó lên được chừng một đốt ngón tay rồi vướng.
Nó cố lần thứ hai, mạnh hơn, và lần này vai nó bị thành ống miết vào, đau.
Rồi nó khóc.
*
Tiếng khóc trong lòng một cái ống bê tông không đi lên như tiếng khóc ngoài trời.
Nó dội vào thành ống, quẩn lại, rồi mới thoát ra khỏi cái miệng bằng cái bát ở trên kia, và ra tới mặt đất thì chỉ còn là một tiếng mỏng, nghe như tiếng mèo con kêu dưới gầm nhà.
Và ở giữa mảnh vườn hai sào cỏ tranh, cách nhà gần nhất bốn chục mét, không có ai đứng đó để nghe.
*
Bà Rớt tìm quanh sân bốn phút, tìm trong buồng, dưới gầm giường, sau cái lu nước, trong bếp.
Rồi bà ra ngõ, gọi hai tiếng, giọng chưa gấp.
Bà Tám nhà đối diện, tám mươi hai, chống gậy đi ra.
Hai bà già đứng giữa ngõ và gọi, mỗi người quay về một hướng, giữa hai lần gọi thì đứng im để nghe.
Cái nghe được, ở khoảng cách bốn chục mét, xuyên qua một bờ rào dâm bụt và hai sào cỏ tranh, là không có gì.
*
Chín giờ ba mươi lăm.
Con Nhiên, mười một tuổi, cháu bà Tám, đang ngồi trong nhà học bài hè thì bị bà nó gọi ra.
"Mày chạy quanh xóm coi thằng Bo có ở nhà đứa nào không."
Nó chạy hết mười chín nóc nhà mất mười hai phút.
Nhà nào cũng cửa mở, nhà nào cũng chỉ có người già hoặc trẻ con, và nhà nào cũng lắc đầu.
Nó quay về, thở.
"Không có bà ơi."
*
Ở dưới ống, thằng Bo khóc được chừng mười lăm phút thì mệt.
Nó nín, rồi thút thít, rồi im.
Nó gọi bà.
Nó gọi cái tiếng "bà ơi" bằng giọng bình thường ba lần, rồi bằng giọng to nhất nó có sáu lần, rồi lại bằng giọng bình thường.
Đứa nhỏ năm tuổi chưa biết để dành hơi.
*
Cái nó thấy khó chịu nhất, lúc ấy, không phải hai tay bị kẹp. Là cái lạnh.
Thành ống bê tông ẩm áp vào hai bên sườn nó qua lớp áo may ô mỏng, và cái lạnh ấy không đi qua, nó ngấm vào, đều, không dứt.
Thằng bé bắt đầu run.
Nó run thì người nó co lại, và người co lại thì nó tụt xuống thêm một chút.
Cái gờ ống bây giờ không chặn dưới nách nó nữa.
Nó chặn ngang giữa ngực.
*
Chín giờ năm mươi, con Nhiên chạy ra đầu ngõ, tới chỗ ông Tứ.
Ông Tứ ngồi trên cái ghế đẩu gỗ trước hiên, một cái ruột xe đạp vắt qua đùi, tay cầm miếng nhựa vá.
Ông sáu mươi ba, người khô, hai bàn tay to bè, bỏ nghề khoan giếng ba năm nay vì cái lưng.
Cái giàn khoan của ông thì vẫn còn, tháo rời, xếp trong cái chái sau nhà, phủ bạt.
"Ông Tứ ơi."
"Gì con."
"Thằng Bo con chú Thảo mất rồi ông ơi."
Ông Tứ đặt cái ruột xe xuống.
"Mất là mất sao."
"Bà Rớt tìm không thấy. Con chạy hết xóm rồi."
*
Ông Tứ đứng dậy chậm, một tay chống vào đùi, vì lưng ông không cho ông đứng nhanh.
Rồi ông hỏi con bé cái câu mà một người đi khoan giếng bốn mươi năm sẽ hỏi.
"Nhà nó gần chỗ nào có nước không."
"Có cái ao nhà bà Chín. Xa lắm ông ơi."
Ông Tứ gật đầu.
Rồi ông nhìn qua phía nhà bà Rớt, và nhìn cái mái ngói xô lệch của nhà ông Bảy Cẩn nhô lên sau đó.
Ông đứng im chừng ba giây, rồi ông đi vào chái lấy cái đèn pin.
*
Ông Tứ tới nhà bà Rớt lúc chín giờ năm mươi lăm.
Bà Rớt đang ngồi bệt ở bậc thềm, hai tay đặt lên hai đầu gối.
"Thằng nhỏ chơi ở đâu lúc bà thấy nó lần cuối."
Bà đưa tay chỉ về phía bụi chuối.
"Chỗ đó. Nó đuổi mấy con gà con."
Ông Tứ ra bụi chuối, vạch lá, cúi xuống, và ông thấy chỗ hở trên hàng rào dâm bụt.
Ông thấy cỏ hai bên chỗ hở bị giẫm rạp thành một cái lối, và trong cái lối ấy có một dấu chân trần nhỏ in trên vũng đất mềm.
*
Ông Tứ không chui qua chỗ hở.
Ông đi vòng ra cổng vườn nhà ông Bảy Cẩn, đạp đổ hai thanh tre chắn ngang, rồi bước vào giữa đám cỏ tranh.
Ông đi thẳng, không tìm quanh, về đúng một chỗ, và được chừng hai chục bước thì dừng lại.
Trước mặt ông, đám cỏ tranh có một khoảng rạp xuống.
Giữa khoảng rạp ấy, hai mảnh ván ép mục nằm gãy gập vào trong.
Và giữa hai mảnh ván là một cái lỗ tròn màu đen.
*
Ông Tứ quỳ xuống bên miệng ống.
Ông không thò đầu vào ngay.
Ông gạt mấy tàu lá chuối khô và mảnh ván ra xa, cẩn thận, không để một mẩu nào rơi xuống.
Rồi ông cúi mặt sát miệng ống và gọi.
"Bo."
Trong ống có tiếng, nhỏ, đứt quãng, tiếng của một đứa nhỏ đang khóc.
Ông Tứ ngồi thẳng người dậy, đúng hai giây, mặt không đổi.
Rồi ông quay về phía hàng rào và hét, và đó là tiếng to nhất mà con Nhiên từng nghe từ ông.
"Con Nhiên! Chạy về gọi hết người trong xóm ra đây!"
*
Ông soi đèn pin xuống.
Cái vệt sáng đi xuống trong lòng ống, quét qua lớp rêu khô, qua vệt rêu ẩm, qua một mối nối, rồi tới mối nối thứ hai.
Ở đó, ông thấy một mảng trắng.
Cái áo may ô.
Rồi ông thấy một khuôn mặt nhỏ ngửa lên, mắt nheo lại vì chói.
Ông tắt đèn ngay.
*
"Bo."
"Ông ơi."
"Ông đây. Ông Tứ đây."
"Ông ơi con..."
"Nín. Nín đi con. Ông ở trên này rồi."
Tiếng khóc dưới đó to lên.
Ông Tứ để nó khóc chừng mười giây, rồi ông hạ giọng xuống thấp và đều, thứ giọng người ta dùng khi ngồi kể chuyện ngoài hiên buổi tối.
"Con nghe ông nói không."
"Dạ."
"Hai tay con để đâu."
"Con... con không nhấc tay lên được ông ơi."
*
Ông Tứ ngồi lùi ra khỏi miệng ống chừng nửa mét.
Ông ngồi xổm, hai bàn tay to úp lên hai đầu gối, nhìn cái lỗ tròn ấy.
Ông biết cái ống này. Ông đúc nó, ông hạ nó, và ông nhớ mối nối giữa khúc hai với khúc ba lệch một chút vì hôm ấy trời tối, ông hạ vội.
Ông đo bằng đèn pin: thằng bé mắc ở chỗ nối thứ hai.
Từ mặt đất xuống chỗ đó là ba mét rưỡi.
Từ chỗ đó xuống đáy ống là ba mét rưỡi nữa.
*
Người đầu tiên tới là bà Rớt.
Bà đi men theo tiếng ông Tứ, vạch cỏ tranh, và bà tới nơi thì bà quỳ xuống bên miệng ống.
Ông Tứ đưa tay ra, chặn bà lại.
"Bà đừng lại gần."
"Chú cho tôi ngó cháu tôi một cái."
"Bà đừng lại gần. Đất quanh miệng nó xốp."
Bà Rớt dừng lại.
Bà ngồi thụp xuống chỗ bà đang đứng, cách miệng ống ba bước, và bà không nói gì nữa.
*
Trong mười phút sau đó, mười bốn người tới.
Chín người trên bảy mươi.
Ba người là trẻ con dưới mười ba tuổi.
Người thứ mười bốn là chú Đàm, ba mươi tám tuổi, thợ sửa xe máy, hôm nay ở nhà vì vợ mới sinh.
Ông Tứ nhìn một lượt cái đám người đứng quanh mình, rồi ông chia việc.
*
"Chú Đàm."
"Dạ bác."
"Chú có xe máy chạy được không."
"Dạ có."
"Chạy ra xưởng gạch ngoài mười hai cây. Kêu bố mẹ nó về. Rồi chạy tiếp ra chỗ nào có thợ, có người khoẻ, gọi được ai gọi nấy."
"Dạ."
"Đi liền. Đừng nói chuyện với ai dọc đường."
*
Rồi ông quay sang mấy đứa nhỏ.
"Con Nhiên."
"Dạ ông."
"Về nhà ông, cái chái sau, có tấm bạt xanh. Dưới bạt có mấy khúc ống nhựa trắng, loại nhỏ. Với một cái bơm hơi xe đạp bằng sắt. Kêu mấy đứa khiêng ra đây hết."
"Dạ."
"Với cái cuộn dây thừng treo trên vách."
*
Ông Tứ quay lại miệng ống.
Ông nằm sấp xuống, ngực áp đất, đầu ghé sát mép, và ông nói xuống.
"Bo."
"Dạ."
"Con thấy lạnh không."
"Lạnh ông ơi."
"Ừ. Lạnh là còn tốt. Con nghe lời ông cái này."
"Dạ."
"Đừng cựa. Đừng nhúc nhích. Con càng cựa con càng tụt."
Dưới đó im một lúc.
Rồi tiếng thằng bé vọng lên, và nó hỏi đúng cái câu mà ông Tứ sợ nhất.
"Ông ơi, chừng nào con lên."
*
Ông Tứ không trả lời ngay.
Ông ngồi dậy, phủi đất ở ngực áo.
Rồi ông ghé xuống nói.
"Sắp. Ông đang làm."
*
Cái ông Tứ đang tính, lúc ấy, không ai quanh đó biết.
Ông tính ba việc, và ông xếp chúng theo thứ tự.
Việc thứ nhất là khí.
Một cái ống bê tông sâu bảy mét, bịt kín bốn năm, đáy là đất ẩm, trong đó không có gió.
Hồi trẻ ông từng thả một cây nến xuống một cái giếng như vậy, và cây nến tắt ở độ sâu bốn mét.
Người ta bảo giếng có hơi độc, còn ông thì không biết cái hơi ấy tên là gì.
Ông chỉ biết một điều: cái gì làm tắt nến thì cũng làm tắt người.
*
Việc thứ hai là mưa.
Ông ngửa cổ nhìn trời.
Lớp mây xám bây giờ đã hạ xuống thấp hơn, và ở phía sau rặng tre, một mảng tối hơn đang trôi tới.
Đám cỏ tranh quanh ông đứng im phăng phắc.
Mưa xuống, nước mặt vườn sẽ chảy về chỗ trũng, mà chỗ trũng của cái vườn này thì chính là chỗ ông đang quỳ.
Miệng ống nhô lên khỏi mặt đất một gang, và một gang thì không giữ được nước lâu.
*
Việc thứ ba là cái ống.
Không thể kéo thằng bé lên bằng dây.
Hai tay nó bị ép sát người, không luồn dây vào nách được, mà vòng dây qua ngực rồi kéo trong lòng ống chật thì cái vai nó sẽ bị chèn.
Không thể đập vỡ ống từ trên xuống, vì mảnh bê tông rơi xuống đầu nó.
Không thể thả người xuống, vì ba mươi phân thì không lọt vai người lớn, cũng không lọt vai một đứa mười một tuổi.
Chỉ còn một cách: đào một cái hố khác song song bên cạnh, xuống ngang chỗ nó mắc, rồi khoét ngang qua và đục thủng thành ống.
Ông Tứ nhìn xuống đất dưới hai đầu gối mình. Đất pha sỏi.
Bốn người khoẻ đào cái hố ấy thì mất một ngày, mà ở đây không có bốn người khoẻ.
Ở đây có ông và một xóm toàn người già.
*
Mười giờ hai mươi, mấy đứa nhỏ khiêng đồ tới: bốn khúc ống nhựa trắng loại hai mươi mốt li, một cái bơm hơi xe đạp bằng sắt, một cuộn dây thừng.
Ông Tứ ướm hai khúc ống vào nhau, rồi bảo con Nhiên chạy về lấy can keo dán.
Trong lúc chờ, ông cắt một khúc ống dài chừng nửa mét, thả xuống lòng ống bê tông.
Nó rơi trúng vai thằng bé, và ông nghe tiếng nó kêu.
"Ông ơi cái gì rơi trúng con."
"Ống thôi con. Không sao. Con thử sờ nó coi."
"Con không sờ được ông ơi."
Ông Tứ gật đầu một mình.
Ông đã biết cái ông cần biết: tay nó bị kẹp thật, không phải nó sợ mà không dám cử động.
*
Ống nhựa nối xong lúc mười giờ ba mươi lăm.
Ông Tứ dán ba khúc thành một cây dài mười hai mét, buộc vào đầu dưới một hòn đá bằng nắm tay cho nó chìm và giữ hướng.
Rồi ông thả nó xuống lòng ống bê tông, thả chậm, men theo thành, phía đối diện chỗ thằng bé mắc.
Ông thả xuống bảy mét, chạm đáy, rồi rút lên chừng một mét.
Đầu trên của cây ống nhựa, ông lắp vào cái bơm hơi xe đạp.
*
"Bo."
"Dạ ông."
"Con nghe cái tiếng xì xì gì không."
Im một lúc.
"Có ông ơi. Ở dưới chân con."
"Ừ. Đó là ông đang bơm hơi xuống cho con."
"Hơi gì hả ông."
"Hơi để thở."
*
Bà Tám ngồi thay ông bơm, tám mươi hai tuổi, hai tay run, mỗi nhát bơm đi được nửa hành trình.
Ông Tứ nhìn, rồi ông gọi hai đứa nhỏ tới.
"Hai đứa bây thay nhau. Đứa này mỏi thì đứa kia vô liền. Không được ngừng."
"Bơm tới chừng nào hả ông."
"Tới chừng nào thằng Bo lên."
*
Mười một giờ, mưa bắt đầu, thứ mưa bụi mỏng phủ một lớp ướt lên lá cỏ tranh và lên vai áo mọi người.
Ông Tứ đứng dậy nhìn quanh vườn, rồi ông chỉ tay.
"Bà con nghe tôi. Ai còn cầm được cuốc thì lấy cuốc. Không đào hố. Đào rãnh."
"Rãnh gì hả chú."
"Rãnh vòng quanh chỗ này. Cách miệng ống ba bước. Đào hở một bên cho nước nó chạy ra phía dốc."
*
Sáu người già cầm cuốc.
Họ đào một cái rãnh hình vòng cung quanh miệng ống, sâu chừng một gang tay, hở về phía tây, nơi mặt vườn thoải xuống.
Việc ấy mất bốn mươi phút, và nó là việc mà sáu người già làm được.
Ông Tứ, trong bốn mươi phút đó, làm việc khác.
*
Ông cắt cái áo mưa nhựa của mình thành một tấm vuông, khoét giữa một lỗ tròn vừa cây ống nhựa.
Rồi ông trùm nó lên miệng ống bê tông, luồn cây ống qua lỗ, chèn mép bằng đất và đá.
Cái miệng ống bây giờ được đậy lại, kín nước, nhưng vẫn có một cây ống thông xuống dưới.
Ông làm xong thì ngồi thụp xuống, một tay chống đất.
Lưng ông, từ ngang thắt lưng trở xuống, đã bắt đầu cứng lại.
*
Mười một giờ hai mươi, chú Đàm về.
Anh chạy xe vào tận bờ rào, dựng xe, nhảy xuống.
Sau xe anh chở một người đàn ông trạc bốn mươi, mặc áo bảo hộ bạc màu, chân đi ủng.
"Bác Tứ. Con gọi được anh Hoạch, thợ đào giếng bên xóm dưới."
"Bố mẹ nó."
"Con báo rồi. Xưởng cho về. Hai người đang chạy về, chừng nửa tiếng nữa."
"Còn ai nữa không."
Chú Đàm im một nhịp.
"Con chạy được ba chỗ. Người ta đi làm hết rồi bác."
*
Anh Hoạch bước tới miệng ống, quỳ xuống, ghé tai.
Rồi anh đứng lên, mặt anh không đổi.
"Bác tính sao."
"Đào hố song song. Bên phía này, cách miệng ống một mét hai."
"Sâu bao nhiêu."
"Ba mét tám là tới chỗ nó."
Anh Hoạch nhìn xuống đất, lấy mũi ủng day day.
"Đất này pha sỏi bác."
"Ừ."
"Hai người mình đào ba mét tám trong đất này thì tới tối."
Ông Tứ không nói gì.
Ông đi về phía chái nhà ông Bảy Cẩn, chỗ để cuốc xẻng.
*
Ở dưới, thằng Bo đã thôi khóc từ lâu.
Nó nói ít hơn, và mỗi lần ông Tứ gọi thì nó đáp chậm hơn một nhịp.
Cái lạnh bây giờ đã đi hết vào trong người nó, và nó không còn run nữa.
Ngừng run không phải là hết lạnh.
Ông Tứ biết vậy, và ông không nói ra.
*
"Bo."
"Dạ."
"Con đếm cho ông nghe cái coi."
"Đếm gì hả ông."
"Đếm từ một tới hai chục. Đếm to."
"Một... hai... ba..."
Nó đếm tới mười lăm thì dừng.
"Rồi sao nữa con."
"Con quên rồi ông."
"Mười sáu."
"Mười sáu... mười bảy... mười tám..."
*
Bà Rớt vẫn ngồi ở chỗ cũ, cách miệng ống ba bước, từ mười giờ tới giờ chưa đứng lên.
Mưa bụi làm ướt cái áo bà ba của bà, và ai đó khoác lên vai bà một tấm ni lông, bà cũng không biết.
Có một lúc, bà đưa hai tay lên tháo cái kính lão buộc cước, chùi vào vạt áo, rồi đeo lại.
Bà làm cái việc ấy như một thói quen, dù chẳng có gì để nhìn.
*
Mười một giờ bốn mươi, hai người đàn ông bắt đầu đào.
Họ đào một cái hố vuông, mỗi cạnh một mét, cách miệng ống bê tông một mét hai.
Ba chục phân đầu là đất mặt, mềm, đi nhanh. Sau đó là sỏi.
Mỗi nhát cuốc bổ xuống thì nảy lên, tiếng của nó là tiếng kim loại chạm đá.
Sau bốn mươi phút, cái hố sâu được sáu chục phân.
Ông Tứ ngồi xuống mép hố, thở, và ông làm một phép tính mà ông không nói ra với ai.
Sáu chục phân trong bốn mươi phút, thì ba mét tám hết bốn tiếng.
Bốn tiếng nữa là ba giờ rưỡi chiều.
*
Mưa nặng hạt lên lúc mười hai giờ mười.
Nó đổ xuống thành từng đợt, và tiếng nó trên đám cỏ tranh nghe như tiếng ai đó vò một bao giấy.
Cái rãnh vòng cung sáu người già đào lúc nãy đầy nước trong bốn phút, rồi nước chạy theo rãnh đổ về phía tây.
Nhưng cái hố mới đào thì không có rãnh.
Nó hứng nước, và sáu chục phân độ sâu của nó bắt đầu biến thành một cái vũng.
*
Anh Hoạch nhảy lên khỏi hố.
"Bác. Đào kiểu này không được."
"Tôi biết."
"Đào tới đâu nước nó về tới đó. Với lại đất ướt là nó sụt."
Ông Tứ đứng nhìn cái hố đang đầy nước.
Rồi ông quay đầu nhìn về phía chái nhà mình, phía sau hàng rào dâm bụt, chỗ có tấm bạt phủ.
Ông nhìn về phía đó khá lâu.
*
Cái giàn khoan của ông Tứ là loại giàn nhỏ, khoan tay quay có gắn mô tơ.
Ông sắm nó năm bốn mươi tuổi, trả góp hai năm, rồi đi khoan giếng thuê bằng nó suốt hai mươi ba năm.
Nó gồm một khung sắt ba chân, một mô tơ điện, một bộ cần khoan thép ống nối từng đoạn và một mũi khoan chóp răng.
Ba năm nay nó nằm trong chái, tháo rời, bôi mỡ, phủ bạt.
Con trai ông ngoài thị trấn đã hỏi mua lại mấy lần, ông không bán.
Ông bảo để đó, biết đâu.
*
"Chú Đàm."
"Dạ bác."
"Chú với thằng Hoạch theo tôi. Qua nhà tôi."
"Chi vậy bác."
"Khiêng cái giàn khoan."
Anh Hoạch ngẩng lên.
"Bác khoan hả bác. Khoan thì mũi nó ăn ngang qua chỗ thằng nhỏ."
"Không khoan chỗ đó."
Ông Tứ lấy ngón tay vạch xuống nền đất ướt hai cái vòng tròn cách nhau một quãng.
"Đây là ống bê tông. Đây là chỗ mình đào. Tôi không khoan cái hố cứu."
Ông vạch thêm ba chấm quanh cái vòng thứ hai.
"Tôi khoan ba lỗ quanh cái hố. Khoan sâu hơn đáy hố. Nước trong đất nó chảy vô ba lỗ đó, mình múc ra."
"Rồi cái hố khô hả bác."
"Không khô. Nhưng nó bớt sụt."
*
Dòng điện kéo từ nhà bà Rớt sang bằng ba cuộn dây nối vào nhau, đấu vào cái ổ trong bếp.
Mô tơ nổ lúc mười hai giờ năm mươi, và trong mảnh vườn đầy cỏ tranh với mưa, đó là tiếng máy đầu tiên kể từ sáng.
Ông Tứ đứng cầm cần khoan được mười phút thì anh Hoạch phải đỡ ông ra, vì cái rung truyền lên tay, lên vai, xuống lưng ông.
Ông Tứ ngồi xuống mép hố, chỉ.
"Nghiêng ra ngoài. Đừng khoan thẳng đứng. Nghiêng ra xa cái ống."
*
Lỗ khoan thứ nhất xong lúc một giờ mười lăm, sâu bốn mét rưỡi, và nước trong đất rịn vào nó ngay khi rút cần lên.
Lỗ thứ hai xong lúc một giờ bốn mươi, lỗ thứ ba lúc một giờ năm mươi lăm.
Ba đứa nhỏ thay nhau múc nước từ ba cái lỗ ấy bằng cái gáo dừa buộc dây, mỗi lần được chừng nửa lít.
Việc ấy vô ích một nửa. Nhưng cái hố cứu, từ chỗ ngập tới mắt cá, chỉ còn ướt nhẹp ở đáy.
*
Hai giờ chiều, bố mẹ thằng Bo về tới.
Mẹ nó chạy vào giữa vườn, trượt ngã hai lần trong cỏ tranh ướt, tới miệng ống thì quỳ sụp xuống, hai tay úp lên mặt đất.
Chị gọi tên con, và dưới đó có tiếng đáp.
"Bo ơi con."
"Mẹ."
"Mẹ đây con. Mẹ về rồi."
"Mẹ ơi con lạnh."
Bố nó đứng phía sau, không nói câu nào.
Anh cởi cái áo khoác ướt, ném xuống đất, rồi anh nhảy xuống cái hố cứu và anh giằng lấy cây cuốc trong tay anh Hoạch.
*
Từ hai giờ chiều, cái hố đi nhanh hơn.
Ba người đàn ông thay nhau không nghỉ: người đào ở dưới, người kéo đất lên bằng xô buộc dây, người thứ ba nghỉ đúng mười phút rồi xuống.
Ông Tứ không xuống hố nữa. Ông ngồi bên miệng ống bê tông, và việc của ông từ lúc đó là nói chuyện với thằng bé.
*
"Bo."
"Dạ ông."
"Con biết ba con về chưa."
"Con biết rồi."
"Ba con đang đào ở bên cạnh con đó."
"Đào chi hả ông."
"Đào cái đường qua chỗ con. Rồi ba con chui qua bồng con lên."
Dưới đó im một lúc lâu.
"Ông ơi."
"Ừ."
"Con Sún nó có bị rớt xuống không ông."
*
Ông Tứ ngẩng đầu lên.
Trong đám cỏ tranh cách đó mấy bước, con gà con lông vàng có vệt nâu trên lưng vẫn đang chạy lúp xúp từ sáng, ướt nhẹp, không chịu về sân.
"Không con. Nó ở trên này. Nó đứng ngay đây nè."
"Ông giữ nó giùm con nghe ông."
"Ông giữ."
*
Ba giờ chiều, cái hố sâu hai mét mốt.
Ba giờ bốn mươi, hai mét sáu.
Bốn giờ mười lăm, ba mét.
Ở độ sâu ba mét, thành hố bắt đầu sụt.
Không sụt cả mảng, chỉ trút xuống từng vốc đất pha sỏi, và mỗi vốc rơi trúng lưng người đang cúi đào ở dưới.
Anh Hoạch ngoi lên.
"Bác. Nó sụt."
"Chống."
"Chống bằng gì bác."
*
Ông Tứ nhìn quanh mảnh vườn.
Rồi ông nhìn cái nhà ba gian bỏ hoang của ông Bảy Cẩn.
Cái nhà ấy có một hàng hiên, và hàng hiên có bốn cây cột gỗ.
"Chú Đàm."
"Dạ."
"Chú lấy búa với xà beng, qua đó hạ cho tôi bốn cây cột hiên."
"Nhà người ta bác ơi."
"Ông Bảy đi bốn năm rồi. Có gì tôi chịu."
*
Bốn cây cột gỗ hạ xuống lúc bốn giờ ba mươi, cưa mỗi cây làm ba khúc, thả xuống hố, và bố thằng Bo dựng chúng thành khung chống bốn mặt, chèn ván cửa vào giữa.
Việc ấy ăn mất năm mươi phút, và trong năm mươi phút đó cái hố không sâu thêm được một phân nào.
Ông Tứ ngồi trên miệng ống nghe tiếng búa dưới hố, rồi ông ghé xuống gọi.
"Bo."
Không có tiếng đáp.
Ông gọi lần thứ hai.
"Bo. Con nghe ông không."
*
Chừng bốn giây trôi qua.
Rồi có tiếng, và nó rất nhỏ.
"Dạ."
"Con ngủ hả."
"Con mỏi mắt ông ơi."
Ông Tứ quay sang chỗ hai đứa nhỏ đang thay nhau bơm.
"Bơm mạnh lên."
Rồi ông ghé lại miệng ống.
"Bo. Không ngủ. Con đếm tiếp cho ông."
"Con đếm rồi ông ơi."
"Đếm nữa. Đếm ngược. Từ hai chục xuống một."
"Hai chục... mười chín... mười tám..."
*
Năm giờ chiều, trời bắt đầu tối.
Mưa ngớt thành mưa nhỏ, nhưng nước trong đất thì đã no.
Người ta treo hai cái bóng đèn tròn lên hai cây cọc, kéo điện từ nhà bà Rớt sang.
Dưới ánh đèn ấy, mảnh vườn hiện ra: một cái hố vuông có khung gỗ chống, một cái ống bê tông đậy tấm nhựa, ba lỗ khoan sủi nước, và chừng hai chục người.
Đa số họ ngồi, và đa số họ không làm được gì.
Nhưng không ai về.
*
Năm giờ bốn mươi, cái hố chạm ba mét tám.
Bố thằng Bo ở dưới, gọi lên.
"Tới rồi bác ơi."
"Đừng khoét ngang liền. Đo lại bằng dây, từ mặt đất xuống đáy hố."
Người ta thả dây đo.
Ba mét bảy lăm.
Ông Tứ nhẩm, rồi ông lắc đầu.
"Sâu thêm ba chục phân nữa."
"Chi vậy bác."
"Khoét ngang ở dưới chỗ nó mắc. Khoét ngang đúng chỗ nó thì mình lôi nó ra bằng cách nào."
*
Ba chục phân cuối cùng mất bốn mươi phút.
Sáu giờ hai mươi, người ta bắt đầu khoét ngang, một đường hầm dài một mét hai vừa đủ người trườn nghiêng, đào bằng xà beng ngắn với hai bàn tay vì trong đó không vung cuốc được.
Bố thằng Bo trườn vào trước, đào hai mươi phút thì lùi ra, mặt trắng, thở dốc.
"Trong đó ngộp lắm bác."
Ông Tứ nối thêm khúc ống nhựa thứ tư, thả vào đường hầm ngang, đầu trên lắp vào cái bơm hơi thứ hai mà chú Đàm mượn từ tiệm sửa xe.
*
Bảy giờ tối.
Từ trong đường hầm ngang, có tiếng xà beng chạm vào bê tông.
Cái tiếng ấy đi ngược ra ngoài, lên miệng hố, và cả mảnh vườn im lại.
Anh Hoạch trườn ra, ngồi bệt xuống mép hố.
"Chạm ống rồi bác."
"Chạm chỗ nào."
"Chạm cái thành. Con sờ được cái mối nối."
Ông Tứ đứng dậy.
Rồi ông làm cái việc mà cả ngày hôm đó ông chưa làm.
Ông tự trườn xuống hố.
*
Người ta phải đỡ ông xuống, vì lưng ông không cho ông cúi.
Ông nằm sấp ở cửa đường hầm ngang, đưa tay vào, sờ dọc mặt bê tông ẩm.
Ông tìm cái mối nối.
Ông tìm được, và ông áp tai vào thành ống.
Trong đó, có tiếng thở.
Nó ngắn, và nó nhanh, và nó là tiếng thở của một đứa nhỏ đang rất mệt.
*
Ông Tứ trườn ra, ngồi tựa vào vách hố.
"Đục cái mối nối. Đừng đục giữa thành."
"Sao vậy bác."
"Chỗ nối là chỗ yếu nhất. Đục chỗ khác thì phải đục lâu gấp ba, mà rung gấp ba."
"Đục bằng gì."
"Đục nhẹ. Búa nhỏ với cái đục sắt. Đục từng nhát một. Không được nện."
*
Việc đục bắt đầu lúc bảy giờ hai mươi.
Mỗi nhát búa, thằng bé ở trong ống lại kêu một tiếng, vì cái rung truyền qua bê tông vào người nó.
Người đục là bố nó.
Anh đục được ba mươi nhát thì phải lùi ra, và anh lùi ra không phải vì mỏi tay.
Anh Hoạch vào thay.
*
Ở trên, mẹ thằng Bo nằm sấp bên miệng ống bê tông, mặt áp xuống tấm nhựa.
Chị nói xuống liên tục, và cứ chừng nửa phút chị lại hỏi một câu.
Dưới đó thằng bé đáp bằng một tiếng "dạ".
Có lúc cái tiếng ấy không tới, và chị phải gọi thêm hai lần.
*
Tám giờ mười, mảng bê tông ở mối nối vỡ ra.
Nó không vỡ thành lỗ.
Nó bung ra một miếng bằng bàn tay, rồi anh Hoạch cạy tiếp, và cái lỗ ấy rộng dần thành một khoảng bằng cái nón.
Anh thò tay vào.
Anh sờ thấy hai bàn chân nhỏ đang thõng xuống, lạnh ngắt.
Anh trườn lùi ra, gọi vọng lên.
"Bác. Con sờ được chân nó rồi."
*
Ông Tứ hỏi xuống, và ông hỏi rất chậm.
"Lỗ rộng bao nhiêu."
"Cỡ cái nón."
"Chưa đủ."
"Bác."
"Chưa đủ. Vai nó rộng hơn cái nón. Rộng thêm hai bên. Rộng đều."
"Nó lạnh lắm rồi bác ơi."
"Tôi biết. Rộng thêm. Kéo ép vai nó qua cái lỗ thì gãy xương đòn."
*
Việc rộng lỗ mất thêm hai mươi lăm phút.
Tám giờ ba mươi lăm, anh Hoạch trườn vào lần cuối.
Anh nằm nghiêng, một tay chống, một tay luồn qua cái lỗ, và anh làm cái việc không ai dạy anh.
Anh không kéo chân. Anh luồn tay lên, lách bàn tay vào giữa thành ống với cánh tay thằng bé.
Rồi anh đẩy vai nó nghiêng đi một chút.
Chỉ một chút.
Cái vai ấy, nghiêng đi rồi, thì không còn bị cái gờ mối nối chặn nữa.
Thằng bé tụt xuống mười phân.
Và mười phân ấy đưa nó ngang tầm cái lỗ.
*
Anh Hoạch vòng tay ôm ngang người nó, kéo ra.
Nó ra khỏi ống bê tông lúc tám giờ bốn mươi hai, sau mười một giờ hai mươi hai phút.
Trong đường hầm ngang tối, anh Hoạch không nhìn thấy gì.
Anh chỉ biết cái người anh đang ôm rất nhẹ, và nó ướt, và nó lạnh như một hòn đá dưới suối.
Anh trườn lùi ra bằng hai khuỷu tay, một tay giữ đầu nó.
*
Ở trên miệng hố, người ta thả xuống một sợi dây có buộc cái thúng lót chăn.
Anh Hoạch đặt thằng bé vào thúng, buộc lại, rồi ông Tứ và chú Đàm kéo lên.
Cái thúng lên tới mặt đất lúc tám giờ bốn mươi lăm.
Không có tiếng reo.
Người ta xúm lại, và người ta im.
Bố nó bế nó ra khỏi thúng.
Hai cánh tay thằng bé, khi được thả tự do, không buông thõng xuống.
Chúng vẫn ép vào sườn nó, y như lúc còn trong ống.
*
Người ta quấn nó vào ba lớp chăn khô, và mẹ nó ôm nó, ngồi bệt giữa vườn cỏ tranh ướt.
Thằng bé mở mắt, nhìn cái đèn tròn treo trên cọc, nhìn mấy chục cái mặt đang cúi xuống.
Rồi nó nói một câu, giọng khàn đặc, nhỏ tới mức chỉ mấy người sát bên nghe được.
"Ông Tứ đâu."
*
Ông Tứ đang ngồi trên mép hố, hai chân buông xuống, lưng gập lại.
Người ta gọi ông.
Ông đứng dậy không được.
Chú Đàm phải xốc nách đỡ ông đứng lên, rồi dìu ông đi bốn bước tới chỗ mẹ con thằng bé.
Ông Tứ ngồi thụp xuống bên cạnh, và cái ngồi thụp ấy giống ngã hơn giống ngồi.
"Ông đây con."
Thằng bé không hỏi thăm gì.
Nó chỉ hỏi đúng một câu, câu mà nó đã hỏi từ chiều.
"Con Sún đâu ông."
*
Bà Rớt là người đưa con gà con ra.
Suốt từ chiều, bà ngồi ở chỗ cũ, và trong lòng bà, dưới hai bàn tay khum lại, là con gà con lông vàng có vệt nâu trên lưng.
Bà bắt được nó lúc bốn giờ, khi nó chạy vào lòng bà tránh mưa, và bà giữ nó trong lòng gần năm tiếng, không nói với ai.
Bà lê đầu gối tới, mở hai bàn tay ra.
Con gà con ướt, run, mỏ hé.
Thằng bé nhìn nó.
Rồi nó nhắm mắt lại.
*
Người ta chở nó đi ngay trong đêm bằng chiếc xe bán tải chở gạch mà chú Đàm mượn được, lót rơm, trải chăn, mẹ nó ngồi ôm nó trong thùng.
Xe chạy khỏi ngõ lúc chín giờ tối.
Trong mảnh vườn còn lại hai cái bóng đèn tròn, một cái hố sâu bốn mét mốt có khung gỗ chống, ba lỗ khoan đang sủi nước, và một giàn khoan sắt đứng nghiêng dưới mưa.
*
Người ta lấp cái hố trong ba ngày sau đó.
Cái ống bê tông thì ông Tứ không cho lấp bằng đất, vì lấp đất thì mười năm nữa nó lún thành cái hố khác.
Ba ngày ấy, ông ngồi trên cái ghế đẩu giữa vườn mà chỉ, vì ông không cúi được nữa.
*
Cái giàn khoan không dựng lại được.
Cái khung ba chân, hôm khiêng qua bờ rào, cong một chân ở chỗ mối hàn, còn cái mô tơ chạy hơn một tiếng dưới mưa thì nước vào, cháy.
Bộ cần khoan còn tốt, nhưng thiếu khung với mô tơ thì nó chỉ là mấy đoạn ống thép.
Con trai ông Tứ ngoài thị trấn về, nhìn một lượt, rồi nói với bố.
"Cái mô tơ này quấn lại cũng hết bằng nửa cái mới bố ạ."
"Ừ."
"Mà quấn xong thì cái khung nó cũng cong rồi."
"Ừ."
Ông Tứ ngồi im một lúc.
Rồi ông đứng dậy, đi vào chái, lấy tấm bạt cũ, và ông tự tay phủ lên đống sắt ấy.
Ông phủ xong thì đứng nhìn nó một lát.
Ông không nói thêm câu nào về chuyện quấn lại hay không quấn lại.
*
Thằng Bo về nhà sau chín ngày.
Nó gầy đi, và hai cánh tay nó phải tập, vì suốt một thời gian sau đó nó cứ để chúng ép vào sườn theo thói quen.
Mẹ nó ngày nào cũng cầm hai cổ tay nó kéo dang ra rồi hạ xuống, hai chục lần buổi sáng, hai chục lần buổi chiều.
Nó không thích tập. Nó khóc.
Nhưng nó vẫn giơ tay ra khi mẹ nó gọi.
*
Bố mẹ nó nghỉ xưởng gạch một tháng.
Rồi họ đi làm lại, vì phải đi làm.
Nhưng từ đó, mỗi sáng, trước khi nổ máy xe, mẹ nó dắt nó sang nhà ông Tứ.
Ông Tứ ngồi trên cái ghế đẩu trước hiên, và thằng bé ngồi bệt dưới nền, cạnh chân ông.
Việc của nó là đưa đồ.
Ông kêu "cái kéo", nó đưa cái kéo.
Ông kêu "miếng nhựa", nó đưa miếng nhựa.
Có hôm nó đưa nhầm, ông không mắng, ông chỉ nói tên lại một lần nữa.
*
Cỏ tranh trong vườn nhà ông Bảy Cẩn thì người trong xóm phát hết, phát trong hai buổi chiều, người già cũng ra, mỗi người một con dao.
Phát xong thì nhìn thấy hết: cái nền nhà ba gian không còn cột hiên, và chỗ lấp ống đắp cao hơn xung quanh một gang.
Rồi ông Tứ bảo con Nhiên lấy sơn trắng, quét lên hai hòn đá, đặt hai bên chỗ ấy.
"Sơn chi vậy ông."
"Để đứa nào tới sau nó biết dưới đó có cái gì."
"Rồi nó không biết đọc thì sao ông."
"Thì nó thấy hai hòn đá trắng. Thấy lạ thì nó hỏi."
*
Một tối tháng sau, thằng Bo ngồi ở hiên nhà ông Tứ, chờ mẹ nó về.
Con Sún bây giờ đã lớn bằng nắm tay, lông ra màu nâu đất, không còn vàng nữa, và nó lon ton trong sân.
Thằng bé nhìn nó, rồi ngẩng lên hỏi ông Tứ một câu.
"Ông ơi."
"Ừ."
"Hôm đó ông nói con Sún nó đứng ngay đó."
Ông Tứ đang cạo cái miếng vá, tay ông ngừng lại.
"Ừ."
"Mà nó đâu có đứng đó. Nó ở trong tay bà nội con."
Ông Tứ đặt miếng vá xuống.
Ông nhìn thằng bé một lúc, rồi ông nói ra cái đúng như nó đã xảy ra, không tránh đi chỗ nào.
"Ông nói dối con."
*
Thằng bé không hiểu.
Nó ngồi im, hai tay đặt trên hai đầu gối.
"Sao ông nói dối con."
"Tại lúc đó ông cần con nói chuyện với ông."
"Con nói chuyện chi hả ông."
"Nói gì cũng được. Con mà im thì ông không biết con còn thức hay không."
Thằng bé gật đầu, dù nó chưa hiểu hết.
Rồi nó hỏi câu tiếp theo, cái câu mà từ hôm đó tới giờ chưa ai trong nhà nó dám hỏi ông.
"Ông ơi, cái máy của ông hư luôn hả ông."
*
Ông Tứ nhìn ra sân.
Ngoài đó, dưới hiên chái, đống sắt phủ bạt vẫn nằm nguyên chỗ cũ, và mấy tháng nay không ai giở tấm bạt ấy ra.
"Hư rồi."
"Rồi ông có buồn không ông."
Ông Tứ cầm cái ruột xe lên, xoay nó tìm chỗ thủng.
Ông xoay chậm, và ông tìm hồi lâu, dù cái chỗ thủng ấy nằm ngay dưới ngón tay cái của ông.
Rồi ông trả lời.
"Cái máy đó ông đi khoan hai mươi ba năm. Khoan chừng bốn trăm cái giếng."
"Nhiều quá."
"Ừ. Nhiều."
Ông đưa ngón tay cái miết lên chỗ thủng.
"Bốn trăm cái giếng đó, ông không nhớ cái nào."
Ông ngẩng lên nhìn thằng bé đang ngồi bệt dưới nền, hai cánh tay đã biết dang ra khỏi sườn.
"Cái lỗ cuối cùng ông khoan, ông nhớ."


