
Cả chợ nghe bà chủ quán bún rao tôi trộn đất vào than, rồi bà hất cả bao than xuống chân tôi
# Cả chợ nghe bà chủ quán bún rao tôi trộn đất vào than, rồi bà hất cả bao than xuống chân tôi
"Mọi người tránh ra, để tôi đổ cái thứ rác này ra cho bà con xem mặt thằng bán than dối!"
"Chị Sáu, chị bình tĩnh."
"Bình tĩnh cái gì mà bình tĩnh."
Bà xốc cái bao tải lên vai, đi ba bước, rồi dốc ngược xuống ngay trước mũi dép tôi.
Bốn mươi viên than đổ ào ra nền xi măng, lăn lóc, vỡ đôi mấy viên.
"Đây. Than của ông Tư Lành đây. Bà con sờ đi."
"Chị Sáu, than đó tôi giao chị hôm kia."
"Tôi biết. Tôi đang nói cái hôm kia đấy."
Tôi đứng yên, hai tay còn dính bụi than chưa kịp phủi.
Chợ sáng đông, hàng cá hàng rau đều quay lại.
"Nồi nước lèo của tôi tối qua tắt ngóm giữa lúc khách ngồi kín ba dãy bàn."
"Chị nói rõ hơn được không."
"Rõ gì nữa. Tôi thay ba viên, ba viên đều không lên lửa. Nước riêu nguội ngắt, tôi phải trả tiền lại cho mười bốn bàn."
"Vậy chị có giữ lại viên than không cháy được không."
"Giữ làm gì cho bẩn nhà."
"Chị Sáu."
"Ông đừng có hỏi ngược tôi."
Tôi hạ tay xuống, không hỏi thêm.
Bà Sáu Ngoan xoay người về phía đám đông, giọng bà vốn to, giờ còn to hơn.
"Bà con nghe tôi nói. Nhà này đóng than trộn đất."
"Chị nói vậy nặng quá."
"Nặng thì nặng. Tôi mất bao nhiêu tiền tối qua tôi mới dám nói."
"Chị mất bao nhiêu."
"Hai triệu bảy. Chưa tính bốn nồi nước dùng hầm từ ba giờ sáng đổ đi."
Bà đưa tay quệt mắt, và tôi thấy tay bà run thật.
"Ông có biết cái quán đó tôi gánh mấy miệng ăn không."
"Tôi biết."
"Biết mà ông vẫn làm."
"Tôi chưa làm gì cả, chị Sáu."
"Chưa làm thì tại sao than không cháy."
Câu đó tôi chưa trả lời được, nên tôi im.
Cái im đó, ở giữa chợ, người ta đọc thành nhận tội.
"Đấy. Bà con thấy chưa. Hỏi thì cúi mặt."
"Tôi không cúi mặt. Tôi đang nghĩ."
"Nghĩ cách chối chứ gì."
Bà Bảy hàng cháo lòng bên cạnh chép miệng một cái rất khẽ.
"Ông Tư à, hôm rồi bếp nhà tôi cũng ì ạch lắm."
"Bà Bảy dùng than của tôi hay của lò ngoài đầu cầu."
"Thì tôi lấy chung một mối với chị Sáu."
Tôi gật đầu, ghi vào bụng, chưa nói gì.
Bà Sáu nghe câu đó thì được đà, bước lên nửa bước.
"Thấy chưa. Không phải mình tôi."
"Chị cho tôi xem bao than còn lại được không."
"Xem để ông đánh tráo à."
"Chị cầm bao, tôi không đụng vào."
"Tôi không rảnh."
Bà đá mũi chân vào một viên than dưới đất, viên đó lăn tới sát dép tôi.
"Từ hôm nay chợ này ai mua than của ông thì tự chịu."
"Chị nói câu đó tôi mất nghề đấy chị Sáu."
"Ông làm ăn kiểu này thì mất là phải."
"Tôi hỏi chị một câu thôi."
"Hỏi."
"Ba viên chị thay tối qua, chị lấy từ chỗ nào trong nhà."
"Trong nhà tôi thì chỗ nào chả là chỗ tôi."
"Chị nhớ giúp tôi. Không phải hôm nay, hôm nào cũng được."
"Ông đi đi cho tôi buôn bán."
Tôi cúi xuống nhặt than.
Nhặt từng viên bỏ lại vào bao, tay run vì giận, nhưng tôi nhặt hết.
Nhặt tới viên cuối cùng thì tôi ngẩng lên, và tôi thấy con Út Thơm đứng ở đầu dãy hàng khô.
Nó ôm cặp, mặc áo trắng, đứng chết trân.
"Con đi học đi."
"Bố."
"Đi học đi con."
Nó không đi.
Bà Sáu nhìn thấy nó, và bà nói câu mà đến giờ tôi vẫn nhớ nguyên.
"Về bảo bố mày rửa tay cho sạch rồi hẵng cho mày cầm sách."
Con bé đỏ mặt, quay đi, chạy.
Tôi vác bao than lên vai, đi bộ ra khỏi chợ, không quay lại.
Bao than nặng hai chục cân, nhưng cái nặng hơn là tiếng người xì xào sau lưng.
Ra tới đường cái, tôi mới đặt bao xuống, ngồi bệt lên vệ cỏ.
Tôi mở miệng bao, thò tay vào bốc một viên lên, xoay trong lòng bàn tay.
Viên than nằng nặng hơn viên của tôi một chút.
Tôi bóp mạnh vào chỗ mép viên, và một mảng bột rơi ra, màu không phải màu than.
Tôi ngồi đó rất lâu.
Rồi tôi buộc miệng bao lại, vác về.
Nhà tôi ở cuối con dốc, sau dãy nhà trọ công nhân, sân đất, mái tôn.
Vợ tôi đang ngồi xổm ở góc sân, cúi trên cái khuôn than, tay giộng chày.
"Ông về sớm thế."
"Ừ."
"Bán được không."
"Chưa bán được viên nào."
Bà ngừng chày, ngước lên nhìn tôi, rồi nhìn cái bao trên vai tôi.
"Bao đó là bao mình giao nhà chị Sáu tuần rồi mà."
"Bà nhớ giỏi thật."
"Bao nào tôi chả buộc nút bằng dây lạt xanh."
Tôi đặt bao xuống, ngồi bệt xuống cạnh bà.
"Chị Sáu trả lại."
"Sao lại trả."
"Bà ấy bảo than mình pha đất."
Bà im ba giây.
Rồi bà cúi xuống, giộng chày tiếp, giộng chậm hơn lúc nãy.
"Rồi ông nói sao."
"Tôi không nói được gì."
"Ông phải nói chứ."
"Nói giữa chợ thì ai tin."
Bà đặt chày xuống, lấy ống tay áo quệt mặt, quệt xong thì cả má đen một vệt.
"Tôi đóng than hai mươi năm, chưa lần nào tôi bốc một nắm đất bỏ vào cối."
"Tôi biết."
"Ông biết thì được cái gì."
Tôi không trả lời được.
Bà ho một tràng, tràng ho khô, kéo dài, tới lúc bà phải chống tay xuống đất.
"Bà uống thuốc chưa."
"Uống rồi."
"Uống lúc nào."
"Sáng."
"Sáng nay tôi thấy vỉ thuốc còn nguyên trong hộp."
"Thì tôi để dành, ba hôm uống một lần cũng được."
Tôi nhìn bà, và bà nói thêm một câu, giọng bình thường như nói chuyện giá rau.
"Người làm than ai chả ho, ông. Ho là chuyện của nghề, có phải bệnh gì đâu."
Câu đó bà nói tỉnh khô, còn tôi thì ngồi cứng người.
"Bà đi khám đi."
"Khám rồi người ta bảo phải chụp, chụp thì tốn."
"Tốn thì tốn."
"Tốn thì lấy tiền đâu đóng học thêm cho con Thơm."
"Con nó không cần học thêm."
"Ông nói câu đó trước mặt nó xem nó có khóc không."
Tôi im.
Bà đứng dậy, đi vào bếp, bưng ra cái rổ khoai luộc từ sáng.
"Ăn đi rồi ra phơi than, trưa nay nắng tốt."
"Bà ăn trước."
"Tôi ăn rồi."
Tôi biết bà chưa ăn, vì cái rổ còn nguyên tám củ, và sáng nay bà luộc chín củ.
Củ thứ chín nằm trong cặp con Thơm.
Trưa đó tôi ra sân phơi than.
Sân nhà tôi lát bằng những tấm ván cũ ghép lại, kê lên gạch cho thoáng gió dưới bụng.
Than tổ ong phơi phải nằm ngửa, thẳng hàng, cách nhau một đốt ngón tay.
Ba nắng thì viên chắc, gõ vào kêu cạch.
Hai nắng thì viên còn ẩm ruột, đốt lên nó xì khói trắng rồi lịm.
Tôi lật từng viên, gõ từng viên, tai nghe tiếng.
Con Thơm về, đứng ở cổng, chưa vào.
"Con vào đi."
"Bố ơi."
"Ừ."
"Sáng nay cô Sáu nói bố như thế trước mặt cả chợ."
"Ừ."
"Bố có làm không."
Tôi ngừng tay, đặt viên than xuống ván.
"Con hỏi lại đi."
"Bố có trộn đất vào than không."
"Không."
"Vậy sao bố không cãi."
"Vì lúc đó bố chưa có gì cho người ta cầm."
"Người ta cầm gì mới tin hả bố."
"Con vào rửa tay, ăn cơm."
Nó vào, nhưng nó đứng ở cửa bếp nhìn ra sân rất lâu.
Tối, tôi ngồi ở bậu cửa, lôi mấy viên than trong bao của bà Sáu ra, xếp thành một hàng.
Rồi tôi lôi than nhà mình ra, xếp thành một hàng thứ hai, song song.
Vợ tôi bưng đèn ra soi.
"Ông làm gì đấy."
"Bà đếm giúp tôi cái lỗ."
"Đếm lỗ làm gì."
"Bà cứ đếm."
Bà cúi xuống, đếm hàng thứ nhất.
"Mười chín."
"Hàng bên kia."
"Mười chín."
"Bà cho ngón tay út vào lỗ hàng bên kia đi."
Bà thọc ngón út vào một lỗ trên viên của nhà tôi, ngón lọt qua, chạm mặt ván.
"Lọt."
"Giờ bà thọc vào lỗ hàng này."
Bà thọc, và ngón tay bà khựng lại ở nửa chừng.
"Không lọt."
"Bà thấy chưa."
"Nghẹt à."
"Không phải nghẹt. Lỗ nó bóp lại ở giữa."
"Sao lại bóp."
"Vì hồ than nhão quá, rút chày ra thì thành lỗ tự sập vào."
"Nhão là do gì."
"Do nhiều đất."
Bà ngồi thụp xuống, cầm viên than lên soi dưới ánh đèn.
"Vậy đúng là than pha đất thật."
"Đúng."
"Nhưng không phải than mình."
"Đấy mới là chỗ tôi phải chứng minh."
"Chứng bằng gì."
"Bằng tro."
"Tro thì còn gì mà chứng."
"Tro là thứ nói thật nhất, bà ạ."
Bà nhìn tôi, chưa hiểu, nhưng bà không hỏi thêm.
Bà đi lấy cái mẹt, bảo tôi xếp cả hai hàng than lên đó, đậy lại, cất vào góc bếp.
"Cất kỹ vào. Đừng để ai đụng."
"Bà cũng nghĩ như tôi à."
"Tôi chả nghĩ được gì. Tôi chỉ biết ông đừng để mất cái bao đấy."
Ba hôm sau, chuyện nặng thêm.
Bà Bảy hàng cháo lòng ngừng lấy than.
Rồi quán cơm bình dân đầu dãy ngừng.
Rồi bà bán chè cũng ngừng.
Còn đúng ba mối lẻ trong xóm trọ, mỗi ngày mười lăm viên.
Mười lăm viên là tám mươi nghìn, trừ than cám, trừ bùn, còn hơn ba chục.
Sáng thứ tư, tôi đẩy xe ra chợ như mọi hôm, đặt xe ở chỗ cũ, ngồi từ sáu giờ tới mười giờ.
Không ai lại.
Có người đi ngang, nhìn xe tôi, rồi rẽ sang lối khác.
Đến gần trưa thì bà Sáu ra, tay xách cái xô nhựa.
"Ông còn ngồi đây làm gì."
"Tôi ngồi chỗ tôi vẫn ngồi."
"Ngồi cho khách người ta ngại chứ được gì."
"Chị Sáu, chị cho tôi nói một câu."
"Nói."
"Chị nói tôi pha đất. Chị chưa cho tôi xem viên nào cả."
"Xem cái xác than cháy rồi à."
"Xác than cháy rồi vẫn xem được."
Bà cười, cười thật, cười cho cả dãy hàng nghe.
"Ông nghe kìa bà con. Bây giờ ông ấy đòi xem tro."
Có mấy tiếng cười theo.
"Chị Sáu, chị đổ tro bếp nhà chị ở đâu."
"Ông hỏi để làm gì."
"Tôi hỏi vì tôi cần."
"Đổ vào cái hố sau bếp, đổ mấy năm nay rồi. Sao, ông định bới rác nhà tôi à."
"Nếu chị cho phép thì tôi bới."
Bà Sáu ngẩn ra một nhịp, không ngờ tôi nói thẳng thế.
"Ông điên rồi."
"Chị cho tôi bới thì mọi chuyện xong trong một buổi."
"Không cho."
"Sao chị không cho."
"Vì tôi không có nghĩa vụ hầu ông."
"Chị nói giữa chợ được, mà chị không cho tôi bới một hố tro cũng giữa chợ."
Câu đó tôi nói không to, nhưng dãy hàng gần đó im một chút.
Bà Sáu đỏ mặt, xách xô đi.
Đi được bốn năm bước thì bà quay lại.
"Ông Tư."
"Vâng."
"Nếu tôi cho bới, mà bới ra đúng là than ông pha đất, ông tính sao."
"Tôi bỏ nghề, và tôi đền chị hai triệu bảy."
"Ông lấy đâu ra hai triệu bảy."
"Tôi bán cái khuôn với cái cối."
Bà nhìn tôi hơi lâu.
"Ông nói được thì làm được đấy nhé."
"Tôi nói trước mặt bà con đây."
"Vậy sáng mai. Bảy giờ. Sau bếp nhà tôi."
"Chị cho tôi xin thêm một điều."
"Gì nữa."
"Chị gọi thêm người. Càng nhiều càng tốt."
"Ông không sợ à."
"Tôi sợ chứ. Nhưng chị nói giữa chợ thì tôi cũng phải nói giữa chợ."
Đêm đó tôi không ngủ.
Không phải vì lo, mà vì tôi phải chuẩn bị.
Tôi lấy ba cái rổ tre cũ, rửa sạch, phơi trên nóc bếp.
Tôi lấy cái sàng bột của vợ tôi, cái sàng lỗ nhỏ.
Tôi lấy cái cân đồng hồ loại năm cân mà tôi vẫn dùng cân bùn.
Tôi lấy ra một cái xô, đổ nước lưng chừng.
Vợ tôi ngồi trông tôi làm, mãi mới hỏi.
"Ông định làm cái gì với chỗ đồ đấy."
"Tôi định để cho người ta tự làm."
"Người nào."
"Người nào ghét tôi nhất."
"Ông rồ à."
"Bà tin tôi lần này."
Bà thở dài, rồi bà đi vào lấy cái áo sơ mi cũ của tôi ra là bằng cách trải xuống chiếu, lấy tay vuốt.
"Mai ông mặc cái này."
"Đi bới tro mà mặc áo trắng."
"Ông cứ mặc."
Bảy giờ sáng hôm sau, sau bếp nhà bà Sáu đông hơn tôi tưởng.
Bà Bảy hàng cháo, chị bán chè, ông chủ quán cơm, mấy bà đi chợ sớm.
Và có cả ông Chín Tỏn.
Ông Chín có lò than ngoài đầu cầu, lò ông to gấp ba nhà tôi, và ông với tôi mấy năm nay không nhìn mặt nhau.
Vì tôi từng nói với khách rằng than ông ấy nhẹ tay bùn nhưng chưa đủ nắng.
Ông đứng khoanh tay ở góc, mặt lạnh.
"Đông đủ chưa, ông Tư."
"Đủ rồi chị Sáu."
"Vậy ông bới đi."
"Tôi không bới."
Cả sân quay lại nhìn tôi.
"Ông vừa nói gì."
"Tôi không đụng vào hố tro của chị. Tôi mà đụng thì lát nữa chị lại bảo tôi tráo."
"Vậy ai bới."
Tôi quay sang góc sân.
"Ông Chín bới giúp tôi được không."
Ông Chín Tỏn bỏ tay khỏi ngực, nhướng mày.
"Tôi á."
"Vâng, ông."
"Ông với tôi có ưa gì nhau đâu."
"Đúng. Nên ông bới thì mới có người tin."
Ông Chín nhìn tôi hồi lâu, rồi ông cởi cái áo khoác ngoài vắt lên hàng rào.
"Được. Tôi bới."
"Ông cho tôi nói trước một điều, trước khi ông bới."
"Nói."
Tôi bước ra giữa sân, đứng chỗ ai cũng nhìn thấy.
"Tôi nói trước, rồi mới chứng minh, để không ai bảo tôi chế lời sau khi thấy tro."
"Ông cứ nói."
"Trong hố tro nhà chị Sáu sẽ có hai loại tro khác nhau."
"Hai loại là hai loại nào."
"Một loại tro màu trắng ngà, xốp, bóp bằng hai ngón là tan ra bột, thả vào nước thì nổi lều bều một lúc rồi mới chìm."
"Còn loại kia."
"Loại kia màu xám nâu, đóng thành từng cục bằng nắm tay, bóp không tan, gõ vào nhau kêu cộc, thả vào nước thì chìm thẳng xuống đáy."
Có tiếng xì xào.
"Ông nói tiếp đi."
"Loại thứ hai sẽ nằm ở lớp trên cùng của hố, vì nó mới đổ mấy hôm nay."
"Rồi sao nữa."
"Và trong đám cục xám nâu đó, ông Chín sẽ nhặt ra được những mảnh xỉ kết tảng, cứng, cạnh sắc, nặng."
"Ông chắc không đấy ông Tư."
"Chỗ này tôi chắc."
"Còn chỗ nào ông không chắc."
Tôi ngừng một nhịp.
"Có. Tôi nói luôn cho rõ."
"Ông nói."
"Tôi chắc chắn hai loại tro đó khác nhau, và tôi chắc chắn loại thứ hai là của than pha đất, vì tro không biết nói dối."
"Còn."
"Còn cái tôi chỉ nghi thôi, chưa dám nói chắc, là ai đã bán loại than đó vào nhà chị Sáu."
"Ông không biết à."
"Tôi có đoán. Nhưng đoán thì tôi để trong bụng, tôi không đem ra giữa sân này nói."
Bà Sáu nhìn tôi, mặt bắt đầu khác đi.
"Ông bới đi, ông Chín."
Ông Chín cầm cái cuốc nhỏ, xắn tay, cào lớp tro trên cùng ra một bên.
Cào được ba nhát thì ông dừng.
"Cái này là gì đây."
Ông móc lên một cục xám nâu to bằng nắm tay.
"Ông bóp thử đi."
Ông bóp. Cục tro không tan, chỉ sứt một mẩu ở mép.
"Cứng thật."
"Ông gõ hai cục vào nhau."
Ông gõ. Tiếng cộc cộc khô khốc, nghe rõ tới cuối sân.
"Ông thả vào xô nước đi ông Chín."
Ông thả. Cục tro chìm cái ực, nằm im dưới đáy.
Cả sân im.
"Ông bới sâu xuống nữa giúp tôi."
Ông Chín cào tiếp, sâu hơn một gang tay.
Lớp dưới đổi màu, trắng ngà, tơi ra.
"Ông bốc một nắm lên bóp."
Ông bốc, bóp nhẹ, và nắm tro tan thành bột chảy qua kẽ tay ông.
"Thả vào nước đi ông."
Ông thả. Bột tro nổi lều bều một lúc, xoay xoay trên mặt nước, rồi mới lắng dần.
Ông Chín Tỏn đứng thẳng người lên, phủi tay.
"Hai loại khác hẳn nhau. Cái này tôi làm nghề tôi nói được."
"Ông nói giúp tôi loại nào là than tử tế."
"Loại trắng xốp. Than tử tế cháy hết cái là hết, còn lại có mỗi cái xác cám với vôi, nhẹ hều."
"Còn loại kia."
"Loại kia là đất. Đất nó không cháy được, nó chỉ nung lại thành sạn, thành xỉ. Càng nhiều đất càng nặng cục."
"Ông Chín nói vậy có chắc không."
"Tôi làm than mười tám năm, ông đừng dạy tôi."
"Vâng. Tôi không dạy ông. Tôi chỉ cần ông nói ra."
Bà Sáu bước lại gần hố, cúi xuống nhìn.
"Sao lại có hai loại trong cùng một hố."
"Vì bếp nhà chị hai tuần vừa rồi không dùng cùng một thứ than."
"Ông nói cái gì."
"Chị hỏi tôi hôm ở chợ, ba viên chị thay tối đó chị lấy ở đâu."
"Thì lấy trong nhà."
"Chị nói cụ thể được không. Trong nhà chị có mấy chỗ để than."
Bà Sáu đứng sững.
"Có... hai chỗ."
"Chỗ nào."
"Cái góc sau bếp. Và cái sạp ngoài hiên."
"Bao than tôi giao chị để ở đâu."
"Ở góc sau bếp."
"Vậy cái sạp ngoài hiên là than ai."
Bà không trả lời.
"Chị Sáu."
"Cái đó... là thằng Lộc nó chở về."
Có tiếng ai đó ồ lên khe khẽ.
"Thằng Lộc là ai vậy chị."
"Con rể tôi."
"Nó chở về hôm nào."
"Hôm... hôm thứ bảy tuần trước."
"Chị mua của ai."
"Nó bảo nó lấy được mối rẻ. Rẻ hơn ông ba trăm một tạ."
"Chị có mở bao ra xem không."
"Tôi bận cả ngày ngoài quán, tôi xem sao được."
"Vậy tối đó chị đi lấy than thay bếp, chị lấy ở đâu."
Bà Sáu đứng đó, tay còn cầm cái xô, mà cái xô nghiêng đi bà cũng không biết.
"Ngoài hiên."
"Vì sao ngoài hiên."
"Vì... vì nó gần cửa bếp hơn."
Cả sân lặng phắc.
Tôi không nói thêm câu nào.
Bà Bảy hàng cháo là người lên tiếng trước.
"Chị Sáu, thế mà chị réo tên người ta giữa chợ."
"Tôi... tôi tưởng..."
"Tưởng cái gì. Chị làm ông ấy mất sạch mối rồi đấy."
Chị bán chè quay sang tôi.
"Ông Tư, than nhà tôi hai hôm nay cũng đóng cục y như thế."
"Chị lấy than ở đâu ạ."
"Thì... chị Sáu bảo mối rẻ, tôi lấy chung."
Ông chủ quán cơm bước lên nửa bước.
"Tôi cũng lấy chung."
Bà Sáu quay lại, và lần này bà nhìn không phải tôi, mà nhìn ba người kia.
"Tôi có bắt ai lấy đâu."
"Chị không bắt, nhưng chị rao ông Tư trộn đất, rồi chị giới thiệu mối của chị."
"Tôi không có ý đó."
"Ý gì thì ý, tiền tôi mất là tiền thật."
Bà Sáu đặt cái xô xuống, hai tay bà bấu vào vạt áo.
"Thằng Lộc nó nói là than tuyển, nó nói..."
"Chị Sáu."
Tôi gọi, và bà quay sang.
"Chị đừng nói tiếp nữa."
"Sao ông lại bảo tôi đừng nói."
"Vì chị đang nói về con rể chị trước mặt cả xóm."
Bà nhìn tôi, mắt đỏ lên.
"Ông không muốn tôi trả giá à."
"Chị trả rồi. Ba người vừa đứng lên nói, đó là ba mối của chị."
Ông Chín Tỏn rửa tay vào xô nước, rồi ông nói, không nhìn ai.
"Tôi làm chứng cái tôi vừa bới. Ai hỏi tôi nói."
"Cảm ơn ông Chín."
"Ông đừng cảm ơn tôi. Tôi bới là bới cho cái nghề, không phải cho ông."
"Vâng."
"Nhưng mà ông Tư này."
"Ông nói."
"Cái vụ ông nói than tôi chưa đủ nắng ngoài chợ năm kia."
"Tôi nói đúng, và tôi nói sai chỗ."
"Sai chỗ nào."
"Tôi nói ngoài chợ. Đáng lẽ tôi phải nói với ông trước."
Ông Chín gật đầu một cái, rất nhẹ, rồi ông xách áo đi về.
Bà Sáu vẫn đứng đó.
"Ông Tư."
"Vâng."
"Ông muốn tôi làm gì."
"Chị ra chợ, đứng đúng chỗ hôm nọ chị đổ bao than."
"Rồi sao."
"Rồi chị nói lại một câu. Nói gì thì tuỳ chị."
"Ông không bắt tôi quỳ à."
"Chị quỳ thì tôi được cái gì."
Sáng hôm sau, bà Sáu ra chợ sớm hơn tôi.
Bà đứng ở đầu dãy hàng khô, chỗ hôm trước con Thơm đứng.
Chợ đông, và bà nói to đúng như hôm trước bà đã to.
"Bà con nghe tôi một câu."
Tiếng chợ nhỏ lại.
"Hôm rồi tôi đổ bao than xuống chân ông Tư Lành, tôi nói ông ấy trộn đất."
"Tôi nói sai."
"Than làm hỏng nồi nước lèo nhà tôi là than tôi mua chỗ khác, để ngoài hiên, tôi lấy nhầm."
"Tôi xin lỗi ông ấy trước bà con."
Có người vỗ tay lẻ tẻ, rồi thôi.
Bà Sáu đi tới chỗ xe than của tôi, đặt xuống ván xe một cái phong bì.
"Cái này là gì hả chị."
"Tiền than nửa tháng tôi trả trước."
"Chị bỏ vào lại đi."
"Ông không lấy à."
"Tôi lấy, nhưng tôi lấy từng ngày, giao ngày nào lấy ngày ấy."
"Ông vẫn giận tôi."
"Tôi không giận. Tôi chỉ không muốn cầm tiền của người đang cuống."
Bà đứng im một lúc.
"Ông Tư, ông không biết đâu."
"Chị nói đi."
"Cái quán đó không phải của tôi nữa."
"Sao lại không phải."
"Tôi sang tên cho vợ chồng con Hạnh từ Tết. Thằng Lộc nó bảo để nó lo cho, tôi già rồi."
"Vậy chị đứng bếp làm gì."
"Thì tôi vẫn nấu. Nấu cho nó bán."
"Chị mất hai triệu bảy tối đó, ai đền."
"Tôi. Tôi lấy tiền của tôi ra tôi trả cho khách."
Bà cười một cái, cái cười méo.
"Nó mua than rẻ, tôi trả tiền khách. Ông thấy buồn cười không."
"Không buồn cười."
"Tôi tưởng ông sẽ cười tôi."
"Tôi đóng than, tôi không cười ai cả."
Bà lấy phong bì lại, nhét vào túi áo.
"Từ mai tôi lấy của ông ba chục viên một ngày."
"Vâng."
"Ông nhớ chọn viên ba nắng cho tôi."
"Chị đừng dặn. Tôi không có viên hai nắng."
Chuyện đó chợ nói với nhau đâu chừng một tuần rồi thôi.
Mối cũ về lại được bảy phần.
Bà Bảy hàng cháo về, chị bán chè về, quán cơm về.
Còn ba mối bên dãy hàng vải thì không.
Có bà nói thẳng với tôi khi tôi ghé.
"Ông Tư à, tôi biết là ông oan."
"Vâng."
"Nhưng bếp nhà tôi hôm ấy khách ngồi kín, tôi cũng sợ."
"Tôi hiểu ạ."
"Ông đừng trách tôi."
"Tôi không trách. Chị cứ dùng chỗ nào chị yên tâm."
Mất ba mối, mỗi tháng mất hơn triệu.
Nhưng cái mất lớn hơn là cái khác.
Tối đó tôi về, con Thơm để trên bàn một tờ giấy.
Tôi cầm lên, là tờ đơn xin thôi lớp học thêm buổi chiều.
"Thơm."
"Dạ."
"Cái này là gì."
"Con nghỉ học thêm."
"Ai bảo con nghỉ."
"Không ai bảo. Con tự."
"Vì sao."
Nó đứng vặn vạt áo.
"Vì hôm ở chợ, bố im."
"Bố im nên con nghỉ học à."
"Không phải. Con nghỉ vì con biết tháng này nhà mình mất mối."
"Con biết từ đâu."
"Con đếm bao than trong sân."
Tôi ngồi xuống ghế, cầm tờ đơn, gấp lại làm đôi.
"Bố nói con nghe cái này."
"Dạ."
"Hôm ở chợ bố im, không phải vì bố sai."
"Con biết rồi. Cô Sáu xin lỗi bố rồi mà."
"Bố im vì lúc đó bố chưa có cái gì đưa cho người ta cầm trong tay."
"Rồi bố có chưa."
"Có. Bố có tro."
"Tro thì có gì đâu bố."
"Có chứ. Cái viên than nó cháy hết rồi, nó không nói được nữa, nhưng cái tro nó còn nằm đó."
"Nghĩa là sao hả bố."
"Nghĩa là mình làm cái gì thì cái đó nó còn lại, dù mình có muốn giấu."
Con bé im.
"Nên tờ này bố xé."
"Bố ơi..."
"Con đi học đi. Tiền học thêm bố lo."
"Bố lo bằng gì."
"Bằng cách bố đóng thêm mỗi ngày sáu chục viên."
"Bố đóng thêm thì bố ho như mẹ."
Nó nói xong câu đó thì nó khóc.
Vợ tôi từ trong bếp đi ra, đứng ở cửa, không nói gì.
Đêm ấy, tôi với bà ngồi ở sân, nhìn mấy hàng than phơi trắng dưới trăng.
"Ông tính sao."
"Tôi tính đi khám cho bà trước."
"Ông vừa mất ba mối."
"Ba mối mất thì gây lại được. Cái phổi bà mất thì không."
"Ông nói nghe hay quá."
"Bà mai đi với tôi."
"Đi thì đi."
Bà nói nhẹ tênh, như nói chuyện đi mua bùn.
Rồi bà ngồi thêm một lúc, và bà nói câu này.
"Hôm ở chợ ấy."
"Sao bà."
"Tôi có ra."
"Bà ra lúc nào."
"Lúc ông nhặt than. Tôi đứng sau hàng cá."
"Sao bà không gọi tôi."
"Tôi định gọi. Nhưng tôi thấy ông nhặt tới viên cuối cùng."
"Rồi sao."
"Nhặt hết thì tôi biết ông không sao."
Tôi không nói gì.
Bà đứng dậy, phủi đít quần.
"Thôi vào ngủ. Mai ba giờ dậy đóng than."
"Ừ."
"Mà ông này."
"Gì bà."
"Từ mai, viên nào chưa đủ ba nắng, ông cứ để lại sân."
"Tôi vẫn để lại mà."
"Tôi biết. Tôi nói cho tôi nghe thôi."
Sáng hôm sau tôi dậy lúc ba giờ, như hai mươi hai năm nay.
Trộn than cám với bùn, tỉ lệ tôi vẫn trộn, không nhiều hơn một nắm, không ít hơn một nắm.
Đóng khuôn, giộng chày, rút chày, đặt viên xuống ván.
Mười chín cái lỗ, cái nào cũng thông từ trên xuống dưới.
Trời sáng, tôi bưng mẹt than ra sân, xếp thẳng hàng, cách nhau một đốt ngón tay.
Rồi tôi ngồi xuống bậu cửa, nhìn ra.
Nắng lên tới đâu, than ăn nắng tới đó.
Ba hôm nữa gõ vào sẽ kêu cạch.
Cái đó không ai rao giữa chợ được, và cũng không ai rao đi được.


