
Tôi nấu cỗ cưới thuê hai mươi năm, giữa tiệc bà mẹ chú rể bắt tôi mở từng nồi ra đếm trước mặt bốn mươi mâm khách, rồi đuổi cả tổ bếp xuống sân sau ăn cơm thừa
"Mở nồi ra. Mở hết ra tôi xem. Loại nấu thuê thì bớt xén là nghề, tôi lạ gì."
"Chị bảo tôi mở cái nào ạ?"
"Mở hết. Tôi đếm."
"Bây giờ đang giữa bữa, tôi mở ra thì nguội mất."
"Nguội thì hâm lại. Cô cứ mở."
Bà ta đứng chắn ngay lối vào bếp, hai tay khoanh trước ngực, áo dài gấm đỏ chưa kịp thay.
"Chị Rỡ." Tôi nói. "Chị cho tôi ra mâm nốt cái canh đã. Bàn số bảy với số tám người ta chờ."
"Chờ thì chờ. Mất mấy cân thịt của nhà tôi mà cô bảo tôi chờ à?"
Ngoài rạp có tiếng ai đó hạ đũa xuống.
Sân nhà bà Rỡ dựng rạp bạt xanh, kê bốn mươi cái bàn tròn, tràn từ sân trước ra tới mép đường. Bếp tôi đặt ở sân sau, sát bức tường rào, che bằng hai tấm bạt cũ.
"Cô Vót." Tôi gọi. "Cô bê nốt hai bát canh kia ra đi."
"Đứng lại." Bà Rỡ nói. "Không ai bê cái gì ra hết cho tới lúc tôi đếm xong."
Chị Vót đứng khựng giữa sân, hai tay còn bưng cái mẹt.
"Chị ơi." Chị Vót nói. "Canh nó nguội."
"Cô là ai mà cô nói với tôi?"
"Tôi phụ chảo cho bà Thoan ạ."
"Vậy thì cô im."
Chị Vót đặt cái mẹt xuống cái bàn kê tạm.
Tôi lau tay vào tạp dề. Tạp dề tôi mặc từ sáng, dính mỡ ở vạt dưới, chỗ nào cũng có vết cháy nhỏ do tàn than bắn vào.
"Được." Tôi nói. "Chị muốn đếm thì tôi mở."
Tôi bước lại dãy nồi kê trên bốn cái bếp than tổ ong xếp thành hàng.
"Nồi thứ nhất là chân giò hầm măng."
Tôi giở vung. Hơi bốc lên một cột.
"Chị đếm đi ạ."
"Cô nghiêng cái nồi lên."
"Nghiêng thì nó sánh ra."
"Nghiêng lên."
Tôi cầm hai quai nồi bằng cái khăn ướt, nghiêng nghiêng cho bà ta nhìn.
"Ít thế này thôi à?"
"Bốn mươi mâm thì mỗi mâm một bát, đây là nồi thứ hai rồi chị ạ. Nồi thứ nhất ra từ mười một giờ."
"Nồi thứ nhất đâu?"
"Rửa rồi. Đang úp ở gốc cau."
"Ai bảo cô rửa?"
"Rửa để còn nấu tiếp ạ."
Bà Rỡ quay sang một chị trạc bốn mươi đứng cạnh, chắc là em họ hay cháu gì đó trong nhà.
"Đấy. Rửa mất rồi. Đấy là cái kiểu."
"Chị Rỡ, chị nói nhỏ thôi." Chị kia nói. "Ngoài kia người ta nghe."
"Người ta nghe thì càng tốt."
Tôi đứng cạnh cái nồi, tay vẫn cầm khăn. Ngoài rạp im hẳn một khoảng, rồi tiếng đũa bát lại rộ lên, nhưng nhỏ hơn lúc nãy, cái kiểu nhỏ của người vừa nghe được cái không định nghe.
"Nồi thứ hai."
Tôi giở vung.
"Thịt kho tàu."
"Cô đảo lên."
Tôi lấy cái vá, đảo một vòng đáy nồi.
"Miếng thịt gì mà bé thế?"
"Miếng ba lạng chia làm sáu, mỗi mâm sáu miếng."
"Sáu miếng cho tám người?"
"Sáu miếng thịt kho, thêm đĩa gà luộc, đĩa nem, đĩa xào, bát canh, đĩa xôi. Thực đơn nhà mình bảy món ạ."
"Nhà tôi đặt tám món."
Tôi ngẩng lên.
"Chị nói lại giùm tôi."
"Nhà tôi đặt tám món. Cô nấu bảy."
"Chị Rỡ, cái tờ thực đơn hôm mười tám chị đưa tôi, tôi vẫn giữ."
"Giữ đâu?"
"Trong túi áo tôi."
Bà Rỡ nhìn cái áo tôi mặc. Áo bà ba nâu, hai túi ngực, cái túi bên trái phồng lên vì có mấy tờ giấy gấp tư.
"Cô cất kỹ nhỉ."
"Tôi làm nghề này hai mươi năm. Nhà nào đặt gì tôi cũng giữ giấy."
"Để làm gì?"
"Để đối chiếu ạ."
Bà Rỡ cười một tiếng.
"Rồi. Cô giữ giấy. Nhưng thịt thì cô không giữ."
"Tôi không hiểu chị nói gì."
"Tôi mua bốn tám cân thịt lợn. Bốn tám cân, có hoá đơn của nhà anh Đá ngoài chợ. Cô nói tôi nghe bốn tám cân nó đi đâu."
"Bốn tám cân thì tôi làm ra chừng này chị ạ."
"Chừng này là chừng nào?"
"Thịt kho hai nồi. Chân giò hầm hai nồi. Sườn xào chua ngọt một chảo. Còn xương với thịt vụn thì ninh nước canh."
"Thế cái nồi để ở góc kia là cái gì?"
Bà ta chỉ vào góc bếp, chỗ sát tường rào.
Ở đó có một cái nồi quân dụng, đậy vung, chưa mở lần nào từ sáng.
Tôi không đáp ngay.
"Tôi hỏi cô cái nồi kia là cái gì."
"Cái đó là phần để riêng ạ."
"Để riêng cho ai?"
"Cho người ta dặn."
"Ai dặn?"
Chị Vót bước lên nửa bước.
"Chị Rỡ, cái nồi đó..."
"Tôi không hỏi cô." Bà Rỡ nói. "Tôi hỏi bà Thoan."
Tôi để cái vá xuống thành nồi.
"Chị Rỡ, bây giờ đang giữa tiệc. Bốn mươi mâm ngoài kia còn hai món chưa ra. Chị cho tôi làm nốt, xong tiệc chị hỏi tôi cái gì tôi cũng trả lời."
"Xong tiệc thì cô về mất rồi."
"Tôi không về."
"Ai tin cô."
Bà Rỡ năm nay năm mươi tư tuổi, kém tôi ba tuổi. Bà bán hàng khô ở chợ xã, có sạp riêng, sạp góc, chỗ ấy đắt hàng. Tôi nấu cho xóm này hai mươi năm, tôi biết mặt bà từ hồi bà còn gánh hàng rong.
"Chị Rỡ, chị mở cái nồi đó ra cũng được. Nhưng chị mở ở đây, đừng bê ra ngoài rạp."
"Sao lại đừng?"
"Vì ngoài đó đông."
Bà Rỡ nhìn tôi một lúc. Rồi bà quay ra sân trước.
"Chiển ơi!"
Chú rể chạy vào. Nó hai mươi tám tuổi, làm thợ hàn ngoài thị trấn, hôm nay mặc com lê xanh đen thuê ngoài hiệu, cà vạt lệch sang một bên.
"Mẹ gọi con."
"Con bê cái nồi ở góc kia ra giữa rạp cho mẹ."
Thằng Chiển nhìn cái nồi, rồi nhìn tôi.
"Bác Thoan ơi, nồi đó là gì thế bác?"
"Anh đừng bê." Tôi nói.
"Mẹ bảo con bê."
"Mẹ, ngoài kia người ta đang ăn."
"Thì mẹ muốn người ta xem."
"Anh Chiển." Tôi nói. "Anh cưới vợ hôm nay. Anh ra ngoài kia mời rượu đi, đừng dính vào chuyện bếp núc."
"Bác..."
"Chiển!" Bà Rỡ gắt. "Con nghe mẹ hay nghe người ngoài?"
Thằng Chiển cúi xuống bê cái nồi lên. Nồi nặng. Nó phải đổi tay hai lần mới ra tới cửa bếp.
"Bê ra chỗ cái bàn đầu."
"Mẹ ơi..."
"Bê ra."
Ngoài rạp, người ta đang ăn tới món thứ tư. Bàn nào cũng còn dở, đũa gác ngang bát.
Thằng Chiển đặt cái nồi xuống nền xi măng, ngay cạnh bàn số một, chỗ nhà gái ngồi. Mấy người quay lại nhìn, rồi quay đi, rồi lại nhìn.
Bà Rỡ đi ra sau. Bà đi qua giữa hai dãy bàn, đi chậm, để ai cũng kịp nhìn thấy.
Tôi đi theo. Chị Vót đi sau tôi. Cái Nhài với ông Rịnh đứng ở cửa bếp, không dám ra.
"Bà con ơi." Bà Rỡ nói.
Người ta ngừng đũa.
"Bà con ăn tiếp đi ạ. Tôi chỉ nói một câu thôi."
Không ai ăn tiếp.
"Nhà tôi hôm nay cưới cho cháu Chiển. Tôi đặt cỗ bà Thoan đây."
Bà ta chỉ tay về phía tôi.
"Bà Thoan nấu cỗ thuê hai mươi năm rồi, ai trong xã cũng biết."
"Vâng, biết chứ." Có ông ngồi bàn ba nói. "Cỗ đám nhà tôi năm kia cũng bà Thoan."
"Thế bác cho tôi hỏi. Cỗ nhà bác năm kia, bác đặt bao nhiêu cân thịt?"
Ông kia gãi đầu.
"Tôi có nhớ đâu. Vợ tôi lo."
"Đấy. Bác không nhớ." Bà Rỡ quay xuống dưới. "Tôi thì tôi nhớ. Tôi tính từng cân, không ai qua mắt tôi được."
Có tiếng cười khan ở đâu đó.
"Nhà tôi đặt bao nhiêu mâm tôi nhớ hết. Bốn mươi mâm chẵn. Bốn tám cân thịt lợn, mười chín con gà, ba yến gạo nếp."
Bà ta cúi xuống, cầm cái vung nồi.
"Còn cái nồi này, tôi không đặt."
Bà ta mở vung ra.
Trong nồi không có canh. Không có thịt kho.
Trong nồi là mười gói lá chuối, buộc bằng lạt giang, xếp thành hai lớp.
Cả rạp nhoài lên nhìn.
"Đấy." Bà Rỡ nói. "Bà con nhìn đi."
"Gói gì thế?"
"Mở ra xem."
Bà Rỡ cầm một gói lên, giật cái lạt, mở lá chuối ra.
Trong gói có một miếng thịt luộc, một miếng chân giò, mấy miếng nem rán, một nắm xôi gấc.
"Đây." Bà ta giơ lên. "Thịt nhà tôi đây."
Có tiếng xì xào chạy dọc rạp.
"Mười gói. Mỗi gói chừng bốn lạng. Bốn cân thịt của nhà tôi nằm trong cái nồi này, gói sẵn, buộc sẵn, để ở góc bếp chờ tan tiệc là mang về."
"Tôi không nói oan cho ai." Bà Rỡ nói. "Tôi mở nồi trước mặt bà con. Bà con tự nhìn."
Tôi đứng cách cái nồi ba bước. Bốn mươi mâm khách, hơn ba trăm con mắt, và cái vá tôi vẫn cầm trong tay còn dính nước dùng chảy xuống cổ tay áo.
"Bà Thoan." Bà Rỡ quay sang tôi. "Cô nói đi. Mười gói này của ai?"
"Không phải của tôi."
"Chứ của ai?"
"Chị hỏi thế thì tôi trả lời chị: đó là phần để dành."
"Để dành cho ai?"
"Cho người dặn tôi."
"Ai dặn?"
Tôi không đáp.
"Cô không nói được." Bà Rỡ nói to hơn. "Vì có ai dặn đâu."
Chị Vót bước lên.
"Chị Rỡ, để tôi nói."
"Cô lại là ai?"
"Tôi phụ bếp cho chị Thoan mười hai năm."
"Vậy thì cô cũng ăn phần trong đấy."
Mặt chị Vót đỏ lên.
"Chị nói ai ăn?"
"Tôi nói cả tổ nhà cô."
"Cô Vót." Tôi gọi. "Cô vào bếp, canh cái nồi xôi. Xôi khô là hỏng."
Chị Vót đứng thêm một nhịp rồi quay vào.
Bà Rỡ đặt cái gói lá chuối xuống mặt bàn số một, ngay cạnh mâm nhà gái.
"Chị Rỡ ơi." Bà thông gia ngồi bàn số một đứng dậy. "Thôi chị, hôm nay là ngày vui."
"Chị Đàm cứ ngồi. Em nói cho rõ rồi em thôi." Bà Rỡ quay xuống dưới rạp. "Bà con ơi, nhà tôi không giàu. Cưới cho cháu, tôi phải vay. Từng cân thịt tôi đi mua, tôi đứng đợi người ta cân, tôi nhìn cái kim đồng hồ. Bà con bảo tôi có phải xót không?"
"Xót chứ." Có bà nào đó nói.
"Xót thì em nói. Em không nói thì sang năm em lại bị."
Rồi bà ta quay sang tôi.
"Bà Thoan."
"Dạ."
"Tôi không đuổi cô. Cỗ còn hai món, cô cứ nấu nốt."
"Vâng."
"Nhưng cái phần ngồi mâm thì thôi. Mọi năm nhà nào cũng dọn cho tổ bếp một mâm ngồi ăn cùng. Nhà tôi cũng định thế. Nhưng bây giờ thì thôi."
Tôi đứng im.
"Cô với mấy người của cô xuống sân sau, ăn ở đấy. Cơm với thức ăn thừa của khách còn đầy, tôi không tiếc."
"Chị Rỡ, tổ tôi có bốn người. Bốn người từ ba giờ sáng tới giờ chưa ai ăn miếng nào."
"Thì tôi có cấm cô ăn đâu. Tôi bảo cô ăn ở sân sau."
"Vâng."
Tôi quay vào bếp. Sau lưng tôi, cả rạp bốn mươi mâm, không ai nói gì.
Trong bếp, cái Nhài đang ngồi thụp xuống cạnh cái thúng lá chuối, hai tay ôm gối. Nó ba mươi mốt tuổi, có hai đứa con nhỏ, chồng đi làm xa.
"Cô Nhài, đứng lên hơ lá chuối tiếp."
"Hơ làm gì nữa hả chị."
"Hơ để gói món cuối."
Ông Rịnh ngồi ở góc, cạnh cái chậu nhôm, đang vặt nốt mấy con gà. Ông sáu mươi hai tuổi, tay to, móng tay đen, làm gà nhanh nhất tổ.
"Chị Thoan, tôi đi về."
"Bác về thì ai làm gà?"
"Tôi làm cỗ ba chục năm. Chưa nhà nào nói tôi cái câu ấy."
"Bác Rịnh, còn hai món."
"Kệ hai món."
"Ngoài kia có bốn mươi mâm khách. Người ta không nói gì mình. Mình bỏ về thì người ta ăn cái gì?"
Ông đứng nhìn tôi.
"Chị hiền quá đấy."
"Tôi không hiền. Tôi nhận tiền công của nhà người ta thì tôi phải ra đủ món."
"Nhà người ta vừa bảo chị ăn cắp."
"Bác cứ ngồi xuống vặt gà đi bác."
Ông Rịnh ngồi xuống.
Tôi cầm cái vá, khuấy nồi canh, nếm.
"Cô Vót."
"Dạ."
"Canh nhạt. Cho thêm nửa thìa nữa."
"Chị Thoan, cái nồi thứ mười ấy... chị nói ra đi. Nói là ai dặn chị."
Tôi để cái vá xuống.
"Cô Vót, nếu bây giờ tôi nói ra thì thành cái gì?"
"Thành chị được minh oan."
"Không. Thành ra tôi đẩy cho người khác."
"Nhưng người ta dặn chị thật mà."
"Người ta dặn tôi thì tôi làm. Người ta không nói ra thì tôi cũng không nói."
"Sao chị lại thế?"
"Vì tôi là người nấu thuê. Việc của tôi là nấu, không phải cãi."
Chị Vót quay đi, lấy tay áo quệt mắt.
Bên ngoài, tiếng nói lại rộ lên. Người ta ăn tiếp. Đám cưới thì vẫn phải ăn.
Mười hai giờ bốn mươi, tôi ra món thứ sáu. Cá quả hấp hành.
Mười hai giờ năm lăm, ra món cuối. Xôi gấc đóng khuôn, cắt miếng, đặt lên lá chuối đã hơ.
"Cô Nhài, lá này hơ chưa?"
"Rồi chị. Em hơ hai lượt."
"Mềm chưa?"
"Mềm rồi ạ."
"Ừ. Lá chưa hơ nó giòn, gấp là gãy, xôi rơi ra bẩn mâm."
Tôi bê hai mẹt xôi ra tới cửa bếp thì đứng lại.
Ở sân trước, có tiếng gậy chống xuống nền xi măng.
Cốc. Cốc. Cốc.
Tiếng gậy đi chậm, đều, từ trong nhà ra tới cửa rạp.
Người trong rạp quay lại.
"Cụ Nhỡ! Cụ ra ngồi bàn đầu này cụ."
"Bà ơi, bà chống gậy cẩn thận cái bậc."
Bà cụ đứng ở cửa rạp. Bà tám mươi tám tuổi, lưng còng, mặc áo dài nâu, đầu chít khăn nhung đen, tay phải chống cái gậy tre đã lên nước bóng. Bà là mẹ chồng bà Rỡ, là bà nội thằng Chiển. Từ lúc đón dâu tới giờ bà ngồi trong nhà, không ra rạp lần nào.
"Bà ơi." Thằng Chiển chạy lại đỡ. "Bà ra đây làm gì, nắng lắm."
"Cháu bỏ tay bà ra."
"Bà..."
"Bà đi được."
Bà cụ chống gậy đi vào giữa rạp.
Bà đi tới chỗ cái nồi quân dụng đặt trên nền, dừng lại.
"Cái nồi này ai bê ra đây?"
Không ai đáp.
"Bà hỏi ai bê cái nồi này ra đây."
"Cháu ạ." Thằng Chiển nói. "Mẹ cháu bảo."
Bà cụ ngẩng lên, nhìn quanh một vòng.
"Con Rỡ đâu?"
Bà Rỡ từ chỗ bàn nhà gái bước lại.
"Con đây mẹ."
"Con bảo thằng Chiển bê cái nồi này ra để làm gì?"
"Để bà con nhìn xem nhà mình mất mấy cân thịt."
Bà cụ đứng im một lúc. Rồi bà cúi xuống, chống một tay lên thành nồi, nhìn vào trong.
"Mười gói. Con đếm rồi à?"
"Con đếm rồi."
"Ừ. Đúng mười."
Bà cụ đứng thẳng lên, chậm.
"Bà Thoan đâu?"
Tôi đặt hai mẹt xôi xuống cái bàn kê ở mép rạp.
"Cháu đây cụ ạ."
"Cô lại đây."
Tôi đi ra giữa rạp. Người ta dạt ra.
Tôi đứng cách bà cụ hai bước. Tay tôi vẫn còn cầm cái vá.
"Cô Thoan."
"Dạ."
"Hôm kia cô sang nhà tôi lấy tiền cọc, tôi ngồi ở cái phản ngoài hiên, tôi có gọi cô lại. Cô nhớ không?"
"Cháu nhớ ạ."
"Tôi dặn cô cái gì?"
Tôi nhìn bà cụ.
"Cụ dặn cháu để riêng mười suất."
"To lên. Bà điếc."
"Cụ dặn cháu để riêng mười suất ạ. Cụ bảo cháu gói lá chuối, mỗi suất một miếng thịt luộc, một miếng chân giò, mấy cái nem, một nắm xôi."
"Rồi để cho ai?"
Tôi hít một hơi.
"Cụ bảo tám suất mang cho tám cụ già trong xóm không ra được. Hai suất để cho tổ bưng bê."
Cả rạp im.
Bà Rỡ bước lên nửa bước.
"Mẹ ơi..."
"Con đứng đấy." Bà cụ nói, không quay lại. "Bà đang nói chuyện với cô Thoan."
Bà Rỡ đứng lại.
"Cô Thoan."
"Dạ cụ."
"Tám cụ ấy là những ai, cô đọc lại cho bà con nghe."
"Cháu không nhớ hết tên ạ."
"Cô nhớ được mấy tên?"
"Cụ bảo cháu là: cụ Nhượng xóm ngoài, cụ Tãi nhà cạnh cây gạo, ông Bấm bị liệt nửa người, bà Riếc mắt kém..."
"Đủ rồi." Bà cụ nói. "Bốn tên là đủ."
Bà quay xuống rạp. Không ai nói gì.
"Tôi năm nay tám mươi tám. Tôi về làm dâu cái xóm này năm mười chín tuổi. Sáu mươi chín năm."
Bà chống gậy đứng thẳng hơn một chút.
"Cái lệ để phần cho các cụ không ra được, không phải tôi nghĩ ra. Mẹ chồng tôi dạy tôi. Bà ấy bảo: nhà có cỗ mà xóm có người nằm một chỗ, thì mình phải nhớ."
Có tiếng ai đó ở bàn cuối nói vọng lên.
"Đúng rồi cụ ơi. Nhà cháu năm ngoái cũng có phần cụ Nhượng."
"Ừ." Bà cụ gật.
Bà quay lại nhìn cái nồi.
"Mười gói này là tôi dặn. Tôi dặn từ hôm kia, ngoài hiên nhà tôi, lúc bốn giờ chiều. Có con mèo nằm ở đầu phản, cô Thoan có nhớ không?"
"Cháu nhớ ạ. Con mèo tam thể."
"Ừ. Nó nằm đấy."
Bà cụ chống gậy đi một bước về phía con dâu.
"Con Rỡ."
"Dạ mẹ."
"Con vừa nói với cả rạp này là bà Thoan ăn bớt bốn cân thịt."
"Con..."
"Con nói hay không nói?"
"Con có nói ạ."
"Bốn cân thịt ấy là bốn cân của tôi. Tôi bảo cô ấy để. Bây giờ con bảo tôi ăn cắp của con à?"
"Mẹ ơi, mẹ đừng nói thế."
"Bà nói thế đấy."
Bà Rỡ đứng giữa rạp, hai tay buông xuống.
"Con không biết là mẹ dặn. Thật là con không biết ạ."
"Ừ. Con không biết. Nhưng con có hỏi tôi câu nào chưa? Con thấy cái nồi lạ, con hỏi tôi một câu là xong. Tôi ngồi trong nhà cách đây mười bước."
"Con đang bận đón khách."
"Bận đón khách thì có thời gian bê cái nồi ra giữa rạp."
Bà Rỡ không đáp được.
Bà thông gia ngồi bàn số một đứng lên.
"Cụ ơi, thôi cụ. Hôm nay là ngày vui của các cháu."
"Chị Đàm ngồi xuống." Bà cụ nói. "Ngày vui thì tôi lại càng phải nói cho xong. Để nó lẫn sang mai thì nó thành cái mối."
Bà cụ quay sang tôi.
"Cô Thoan, nó bảo cô ăn bớt, sao cô không nói là tôi dặn?"
Tôi im một lúc.
"Cô nói đi. Bà hỏi."
"Vì cháu nói ra thì thành ra cháu đẩy cho cụ ạ. Cháu nói là cụ dặn, thì cả rạp lại quay sang nhìn cụ. Cháu bị người ta nói thì cháu chịu được. Cụ tám tám tuổi rồi."
Bà cụ nhìn tôi khá lâu.
"Cô nghĩ tôi tám tám tuổi thì tôi không chịu được à?"
"Cháu không dám ạ."
"Tôi chôn chồng tôi năm tôi bốn mươi sáu. Tôi nuôi bốn đứa con bằng gánh bún. Tôi chịu được."
"Dạ."
"Lần sau ai vu cho cô cái gì, cô cứ nói. Cô im thì người ta tưởng cô có."
"Vâng ạ."
Bà cụ gõ cái gậy xuống nền xi măng một cái.
"Con Rỡ, con lại đây."
Bà Rỡ bước lại.
"Con vừa nói với cả rạp cái câu gì? Con nhắc lại bà nghe."
"Con nói là... con nói là nhà con mất thịt."
"Không phải câu ấy. Câu trước. Con bảo con tính từng cân, không ai qua mắt con được."
Bà Rỡ im.
"Con có nói câu đó không?"
"Con có ạ."
"Con còn nói: nhà tôi đặt bao nhiêu mâm tôi nhớ hết. Bốn mươi mâm chẵn."
"Vâng."
"Cả rạp này nghe con nói. Bà cũng nghe, bà ngồi trong nhà mà bà vẫn nghe."
"Vâng."
Bà cụ quay sang tôi.
"Cô Thoan, ban nãy cô bảo cô giữ tờ thực đơn trong túi áo."
"Dạ cháu có giữ."
"Cô lấy ra."
Tôi đưa tay lên túi áo ngực bên trái.
"Cụ cho cháu xin phép không lấy ra ạ. Cháu ra đủ món rồi, cháu xin nấu nốt rồi cháu về."
"Cô Thoan, cô nghe bà nói một câu. Cô nhịn cho con dâu bà, thì bà cảm ơn cô. Nhưng bà không nhờ cô nhịn."
"Cụ..."
"Cô lấy tờ giấy ra."
Tôi nhìn bà Rỡ.
Bà ta đứng cách tôi bốn bước. Mặt bà trắng bệch, tay phải nắm lấy vạt áo dài gấm.
"Chị Rỡ." Tôi nói. "Chị bảo tôi lấy ra thì tôi lấy."
"Cô..."
"Chị bảo tôi đừng lấy thì tôi không lấy. Chị nói một câu."
Bà Rỡ không nói được câu nào.
"Cô Thoan." Bà cụ nói. "Cô lấy ra. Bà chịu trách nhiệm."
Tôi rút tay ra khỏi túi áo.
Trong tay tôi có ba tờ giấy gấp tư. Một tờ là giấy nhận cọc. Một tờ là danh sách gà, gạo, rau. Tờ thứ ba là tờ thực đơn.
Tôi mở tờ thứ ba ra. Giấy học trò kẻ ô ly, gấp tư đã lâu nên bốn nếp gấp bợt trắng, viết bằng bút bi xanh, ở giữa có mấy chỗ gạch đi bằng bút bi đỏ.
"Cô đọc lên."
"Dạ."
Tôi đưa tờ giấy ra xa mắt một chút. Tôi để kính ở nhà.
"Trên đầu tờ giấy có chữ: Cỗ cưới nhà bà Rỡ, ngày hai mươi ba."
"Ừ."
"Dòng dưới: Số mâm. Bốn mươi hai."
Có tiếng động ở bàn số một.
"Cô đọc lại."
"Số mâm: bốn mươi hai ạ. Số bốn mươi hai bị gạch đi bằng bút đỏ. Bên cạnh viết đè lên: bốn mươi."
Cả rạp im phăng phắc.
"Ai gạch?" Bà cụ hỏi.
"Cháu không gạch. Cháu chỉ có bút bi xanh, cháu ghi sổ bằng bút xanh hai mươi năm nay."
"Vậy ai đưa cô tờ này?"
"Chị Rỡ đưa cháu, hôm mười tám, ở sạp hàng khô của chị ngoài chợ xã."
"Lúc đưa đã có vết đỏ chưa?"
"Đã có rồi ạ."
"Nó nói với cô câu gì?"
"Chị Rỡ bảo cháu: bốn mươi hai là tôi tính dôi ra, cô cứ nấu bốn mươi cho tôi."
Tiếng ghế nhựa kéo lê trên nền xi măng. Ở mấy bàn giữa, có người đặt đũa xuống, quay hẳn người lại.
"Bốn mươi hai với bốn mươi thì khác nhau cái gì?"
"Khác hai mâm chứ khác gì."
"Hai mâm thì đã sao?"
Bà cụ chống gậy quay xuống rạp.
"Bà con ơi, tôi già rồi, tôi tính chậm. Ai tính giúp tôi cái này."
"Cụ cứ nói ạ."
"Nhà tôi mời khách bao nhiêu người?"
Có người ở bàn ba đáp.
"Cháu nghe nói là ba trăm ba mấy ạ."
"Ba trăm ba mươi sáu." Bà cụ nói. "Tôi có xem cái sổ ghi thiệp. Ba trăm ba mươi sáu người, chia tám người một mâm, là bao nhiêu mâm?"
Không ai đáp ngay.
"Bốn hai." Có cậu thanh niên bàn cuối nói. "Bốn hai mâm chẵn ạ."
"Bốn hai mâm chẵn." Bà cụ lặp lại. "Vậy mà cỗ ra bốn mươi mâm."
Bà quay sang bà Rỡ.
"Con Rỡ, hai mâm kia đi đâu?"
"Mẹ ơi..."
"Bà hỏi con: hai mâm kia đi đâu?"
"Con... con tính là có người mời mà không tới."
"Có người không tới thì cỗ thừa, chứ sao lại thiếu?"
"Con..."
"Từ nãy tới giờ ngoài kia có mâm nào phải ghép không?"
Bà thông gia đứng dậy.
"Cụ ơi, có ạ. Bàn nhà cháu ban nãy phải kê thêm hai cái ghế, ngồi mười người một mâm."
"Bàn nhà cháu cũng thế." Một chị ở bàn bảy nói. "Nhà cháu mười người, ăn hết sạch mà vẫn còn đói."
"Đấy." Bà cụ nói.
Bà Rỡ đứng giữa rạp, mặt cúi xuống. Cái vạt áo dài gấm đỏ bà giữ trong tay từ nãy tới giờ đã nhàu thành một nắm.
"Con Rỡ."
"Dạ."
"Con thu tiền mừng của bà con theo bao nhiêu mâm?"
Bà Rỡ không đáp.
"Bà hỏi con. Con mời ba trăm ba mươi sáu người. Người ta tới đủ, người ta mừng đủ. Con nhận đủ hay con trả lại hai mâm cho ai?"
"Mẹ đừng nói thế."
"Bà nói cái con làm."
"Con làm vì con hết tiền!"
Bà Rỡ hét lên. Tiếng bà vỡ ra ở cuối câu.
Cả rạp giật mình.
"Con vay tám chục triệu cưới cho nó! Con vay của cô Chản, lãi ngày!"
"Bà biết. Bà bảo con làm mười lăm mâm ở nhà, mời họ hàng gần thôi. Con không nghe."
"Con không nghe được! Nhà người ta cưới bốn mươi mâm, nhà mình mười lăm mâm thì thông gia người ta nghĩ sao? Thằng Chiển nó nhìn mặt ai?"
"Nên con bớt hai mâm."
"Con bớt hai mâm để bù cái xe hoa bốn triệu tám. Mẹ có biết không?"
"Bà biết cả."
"Vậy mẹ còn hỏi con làm gì!"
Bà Rỡ đứng thở. Ngực bà phập phồng dưới lớp áo gấm.
Rồi bà ta quay sang tôi.
"Bà Thoan."
"Dạ."
"Cô giữ cái tờ giấy đó bao lâu rồi?"
"Từ hôm mười tám ạ."
"Năm ngày."
"Vâng."
"Sao cô không đưa ra sớm?"
Tôi gấp tờ giấy lại làm tư.
"Chị Rỡ, tôi giữ giấy để đối chiếu số món số mâm cho khỏi nhầm. Tôi không giữ để đem ra chỗ đông người."
"Nhưng cô có."
"Tôi có."
"Cô có mà cô để tôi nói cô cả buổi."
"Vâng."
"Sao cô không nói?"
Tôi nhìn bà ta.
"Chị hỏi thật hay chị hỏi cho có?"
"Tôi hỏi thật."
"Vì tôi vào nhà chị để nấu cỗ cưới cho con chị. Tôi mở cái giấy đó ra giữa tiệc thì cỗ cưới nhà chị hỏng. Hỏng thì hỏng cả đời thằng Chiển, chứ không phải hỏng của tôi."
Bà Rỡ đứng im.
"Còn tôi thì tôi bị người ta nói. Người ta nói tôi hôm nay, mai người ta quên."
"Người ta không quên."
"Thì tôi chịu."
Thằng Chiển từ nãy đứng ở mép rạp, bây giờ nó bước lại.
"Mẹ."
"Con đi ra kia."
"Mẹ, con hỏi mẹ một câu."
"Mẹ bảo con đi ra kia."
"Cái xe hoa bốn triệu tám..."
"Chiển!"
"Con có bảo mẹ thuê đâu." Nó nói. "Con bảo mẹ là con mượn xe của thằng Đót, không mất đồng nào. Con nói với mẹ ba lần."
"Con im đi."
"Mẹ ơi, con cưới vợ mà con phải đứng nhìn bà bác nấu cỗ bị mẹ nói giữa rạp."
Bà Rỡ giơ tay lên. Rồi bà hạ xuống.
Cô dâu ngồi ở bàn số một từ nãy giờ không nói câu nào. Bây giờ cô đứng lên, đi lại, kéo tay chồng.
"Anh Chiển."
"Em ngồi xuống."
"Anh ngồi xuống với em."
"Em không thấy à?"
"Em thấy." Cô nói. "Nhưng bây giờ anh nói thêm câu nào cũng thành ra hai mẹ con cãi nhau ngày cưới."
Thằng Chiển đứng thêm một nhịp rồi đi theo vợ về bàn.
Bà cụ Nhỡ gõ gậy xuống nền.
"Bà con ơi."
Cả rạp quay lên.
"Chuyện nhà tôi, tôi nói trước bà con thế là đủ. Bây giờ tôi xin nói nốt hai câu rồi mời bà con ăn tiếp."
"Cụ cứ nói ạ."
"Câu thứ nhất. Cái nồi này là tôi dặn. Bà Thoan không lấy của nhà tôi cái gì. Ai còn nghi thì tối nay ra hỏi tôi, tôi ngồi ở cái phản ngoài hiên tới chín giờ."
"Cụ nói thế là rõ rồi ạ."
"Câu thứ hai. Nhà tôi cưới bốn hai mâm mà làm bốn mươi. Bà con nào phải ngồi ghép, nhà tôi có lỗi. Tôi xin lỗi bà con."
Bà cụ vịn gậy, cúi đầu xuống một cái.
Cả rạp nhốn nháo.
"Cụ ơi, cụ đừng làm thế!"
"Cụ đứng thẳng lên cụ ơi."
"Có gì đâu mà cụ phải xin lỗi."
"Cụ già rồi, cụ đừng cúi."
Bà cụ đứng thẳng lên.
"Con Rỡ."
"Dạ mẹ."
"Con ra đây cúi thay bà. Bà cúi một cái là đủ mệt rồi."
Bà Rỡ đứng im giữa rạp.
Rồi bà bước ra chỗ mẹ chồng đứng.
Bà cúi xuống. Bà cúi thấp, hai tay để trước bụng, giữ chừng ba giây.
"Cháu xin lỗi các bác các cô."
Không ai vỗ tay. Nhưng cũng không ai nói gì nữa.
Bà cụ quay sang tôi.
"Cô Thoan."
"Dạ cụ."
"Bây giờ cô làm nốt việc của cô đi."
"Vâng ạ."
Tôi quay vào bếp.
"Cô Nhài, bê hai mẹt xôi ra. Cô Vót, bê cá."
"Dạ."
"Bác Rịnh, bác chặt nốt ba con gà kia. Chặt to bản, bàn nào ghép người thì mình bù thêm miếng."
"Vâng chị."
"Cô Vót, bàn số một, số ba, số bảy là bàn ngồi mười người. Ba bàn ấy mình dọn thêm mỗi bàn một đĩa xôi với một bát canh."
"Lấy đâu ra hả chị?"
"Trong nồi thứ mười."
Chị Vót ngẩng lên.
"Chị lấy phần của các cụ à?"
"Không. Tôi lấy hai suất của tổ mình. Cô cứ mở ra, hai gói trên cùng bên phải."
"Thế trưa nay tổ mình ăn gì?"
"Ăn cơm với canh. Còn nồi canh với thùng cơm ở góc bếp."
Chị Vót đứng nhìn tôi.
"Làm đi cô. Người ta ngồi ghép người ta đói."
Một giờ mười lăm, cỗ ra xong hết.
Một giờ bốn mươi, khách bắt đầu về.
Tôi với ông Rịnh khiêng cái nồi quân dụng vào bếp. Trong nồi còn tám gói lá chuối.
Ông Rịnh ngồi bệt xuống cái ghế con, hai tay chống lên đầu gối.
"Chị này, ban nãy tôi đòi về, chị đừng để bụng. Tôi già rồi, tôi nghe cái câu ấy tôi tức."
"Tôi cũng tức bác ạ."
Ông ngẩng lên.
"Chị cũng tức à? Sao mặt chị cứ dửng dưng."
"Tôi mà tức ra mặt thì tay tôi run. Tay run thì tôi thái không đều. Thái không đều thì mâm nhiều mâm ít, người ta lại nói tôi lần nữa."
Ông Rịnh không nói gì.
Hai giờ, chị Vót với cái Nhài rửa xong đống bát. Chúng tôi ngồi ở sân sau, chỗ cạnh bức tường rào, trải một tấm bạt. Cơm nguội, canh còn ấm, một đĩa thịt kho với mấy miếng cháy cạnh.
"Chị Thoan, nhà người ta bảo mình ăn ở sân sau, giờ mình vẫn ngồi sân sau. Bà cụ nói giữa rạp thế rồi, mình lên nhà trên ngồi cũng được chứ."
Tôi và một miếng cơm.
"Cô Vót, mình xuống sân sau vì bà ấy đuổi, chứ có phải mình xin đâu. Bây giờ bà ấy sai thì bà ấy sai. Còn mình ngồi đâu là việc của mình."
"Em không hiểu."
"Ngồi đây mát. Có cái tường che nắng."
Cái Nhài bật cười, rồi lấy tay che miệng.
"Cô cười đi." Tôi nói. "Cười cho nó nhẹ người."
Hai giờ hai mươi, thằng Chiển xuống sân sau. Nó đã cởi com lê, chỉ còn áo sơ mi trắng, xắn tay lên tới khuỷu.
"Bác Thoan, bác ăn cơm ạ?"
"Ừ. Anh ăn chưa?"
"Cháu chưa. Cháu chả nuốt được."
"Anh phải ăn. Chiều còn lại mặt."
Nó ngồi xuống mép tấm bạt.
"Cháu xin lỗi bác. Cháu bê cái nồi ra."
Tôi để bát cơm xuống.
"Mẹ anh bảo anh bê, anh bê. Anh làm con thì anh phải nghe mẹ."
"Nhưng bác đã bảo cháu đừng bê."
"Tôi là người ngoài."
"Bác không phải người ngoài."
"Tôi là người nhà anh thuê nấu cỗ."
Thằng Chiển ngồi im một lúc.
"Mẹ cháu ở trong nhà từ nãy tới giờ, mẹ cháu không ra. Cháu vào cháu gọi, mẹ cháu bảo mẹ mệt."
"Anh để mẹ anh nghỉ."
"Cháu sợ mẹ cháu nghĩ quẩn."
Tôi nhìn thằng bé.
"Mẹ anh không nghĩ quẩn đâu. Mẹ anh vừa vay tám chục triệu cưới vợ cho anh. Người vay tám chục triệu thì người ta phải sống mà trả."
Nó cười một tiếng, cái cười méo.
"Bác nói buồn cười."
"Tôi nói thật."
"Bác cầm tiền công chưa ạ? Để cháu vào cháu lấy."
"Anh đừng lấy. Hôm nay mẹ anh không có tâm trí đâu mà đếm tiền. Mai kia tôi qua."
"Nhỡ mẹ cháu không đưa?"
"Thì tôi qua lần nữa."
Tôi cầm bát cơm lên.
"Anh Chiển, nhà anh còn tám gói lá chuối trong bếp. Tối nay anh mang giùm tôi cho tám cụ, được không?"
"Bác đổi chuyện."
"Ừ. Tôi đổi. Anh mang đi, bà anh dặn từ hôm kia rồi. Nhà cụ Nhượng thì đưa tận tay con dâu cụ, đừng để ngoài hiên, nhà ấy có con chó."
"Vâng."
Ba giờ chiều, chúng tôi thu dọn.
Nồi niêu xếp vào hai cái sọt buộc sau xe. Bếp than tổ ong dập lửa, xếp gọn vào góc. Bạt gấp lại, buộc dây.
Tôi đang buộc cái sọt thì có tiếng gậy.
Cốc. Cốc.
Bà cụ Nhỡ đi ra sân sau.
"Cụ ơi, cụ ra đây làm gì. Sân sau bẩn lắm."
"Cô Thoan."
"Dạ cụ."
Bà cụ đứng nhìn cái xe máy của tôi. Xe cũ, sơn tróc, yên vá bằng băng dính đen.
"Cô đi cái xe này bao lâu rồi?"
"Cháu mua lại của người ta, chín năm rồi ạ."
"Chở nồi được không?"
"Được cụ ạ. Buộc chặt thì được."
Bà cụ rút trong túi áo ra một cái phong bì.
"Cô cầm cái này."
"Cụ, tiền công cháu để chị Rỡ trả."
"Cái này không phải tiền công. Là tiền tôi mua mười suất lá chuối."
Tôi lùi lại nửa bước.
"Cháu không lấy đâu. Cháu gói mười suất ấy là gói trong phần bốn tám cân thịt nhà mình, cháu không mua thêm ở đâu."
"Tôi biết."
"Vậy cụ đừng đưa."
"Cô Thoan này. Tôi tám mươi tám tuổi. Tôi không thích nợ ai."
"Cụ không nợ cháu."
"Ban nãy giữa rạp, cô có thể nói một câu là xong. Cô không nói. Cô để cho người ta nói cô, để cái ngày cưới của cháu tôi nó còn ra ngày cưới."
Tôi đứng im.
"Cái đó là cô cho tôi vay. Bây giờ tôi trả. Cô cầm."
Tôi không đưa tay ra.
Bà cụ đứng nhìn tôi một lúc lâu. Rồi bà thở ra.
"Cô này bướng."
"Cháu không bướng ạ."
"Ừ, cô không bướng." Bà cụ cất cái phong bì vào túi áo. "Thế thì tôi nói cô cái khác."
"Cụ nói ạ."
"Tháng sau nhà bà Riếc xóm ngoài có giỗ. Bà ấy hỏi tôi mấy lần là nên thuê ai."
"Vâng."
"Tôi bảo bà ấy là thuê cô Thoan."
"Cháu cảm ơn cụ."
"Tôi chưa nói xong. Tôi bảo bà ấy: cô Thoan nấu cỗ hai mươi năm, đám nào cũng ra đủ món. Còn hôm nay nhà tôi nó nói cô ấy cái gì thì bà đừng nghe."
"Cụ..."
"Bà ấy hỏi tôi là nói cái gì. Tôi bảo là chuyện nhà tôi, bà đừng hỏi."
Bà cụ chống gậy quay đi được hai bước rồi dừng lại.
"Cô Thoan, con dâu tôi nó hư."
"Cụ đừng nói thế."
"Nó hư thật. Nhưng nó khổ. Nó về làm dâu nhà tôi năm nó hai tư. Ba mươi năm nay nó chưa được cái đám nào cho ra đám. Chồng nó mất sớm, một mình nó nuôi hai đứa."
"Cháu biết ạ."
"Cho nên cái đám cưới hôm nay nó muốn to."
"Cháu hiểu."
"Cô hiểu thật à?"
Tôi buộc nốt cái dây sọt.
"Cụ ơi, cháu nấu cỗ hai mươi năm. Nhà nào cũng muốn to. Nhà càng khó thì càng muốn to."
"Ừ."
"Có nhà bán cả con lợn giống để làm bốn mươi mâm."
"Rồi sao?"
"Rồi ăn xong người ta về, cỗ hết, còn cái nợ ở lại."
Bà cụ đứng im.
"Cô nói câu ấy với con Rỡ nhà tôi từ hôm mười tám thì có được không?"
"Cháu có nói ạ. Cháu bảo chị ấy là bốn hai mâm thì nấu bốn hai, ghép mâm khách nhớ lâu lắm."
"Nó bảo sao?"
"Chị ấy bảo cháu là cô cứ làm việc của cô."
Bà cụ gõ gậy xuống nền một cái nhẹ.
"Ừ."
Ba giờ hai mươi, chúng tôi dắt xe ra ngõ.
Rạp đang được tháo. Mấy thanh niên trong xóm tháo cột, cuộn bạt.
Bà Rỡ đứng ở hiên nhà, tay cầm cái chổi.
Tôi dắt xe đi ngang.
"Bà Thoan."
Tôi dừng lại.
"Chị Rỡ."
Bà ta bước xuống sân. Bà đã thay áo dài gấm, mặc cái áo phông cũ với quần vải.
"Cô về à?"
"Vâng. Xong việc rồi tôi về."
"Tiền công của cô."
"Chị cứ giữ."
"Tôi giữ làm gì."
"Hôm nay chị bận. Mai kia tôi qua."
"Bao nhiêu?"
Tôi nghĩ một nhịp.
"Bốn mươi hai mâm, mỗi mâm một trăm hai mươi nghìn tiền công. Là năm triệu lẻ bốn mươi nghìn ạ."
Bà Rỡ ngẩng phắt lên.
"Bốn mươi hai mâm? Cô nấu có bốn mươi."
"Vâng, tôi nấu bốn mươi."
"Vậy sao cô tính bốn hai?"
"Vì tôi đi chợ mua rau, mua gia vị, thuê thêm người rửa bát theo bốn hai mâm. Hôm mười tám chị đưa tôi tờ giấy có vết đỏ, hôm mười chín tôi mới ngồi cộng lại, mới biết là hai mâm ấy chị không mời bớt khách."
"Cô tính rõ ràng nhỉ."
"Tôi phải tính rõ. Không tính rõ thì tôi lỗ."
"Vậy mà cô không nói."
"Nói thì chị cũng không đổi. Còn năm hôm nữa là cưới."
Bà Rỡ cầm cái chổi, xoay xoay cái cán trong tay.
"Bà Thoan, cô có ghét tôi không?"
Tôi đứng dựa vào cái yên xe.
"Lúc chị bắt tôi mở nồi, tôi ghét. Lúc chị bảo tôi xuống sân sau ăn cơm thừa, tôi ghét hơn."
"Vâng."
"Nhưng lúc chị hét lên là chị vay tám chục triệu, thì tôi hết ghét."
Bà Rỡ đứng im.
"Sao lại hết?"
"Vì tôi cũng đã đứng ở chỗ chị đứng. Năm hai mươi ba tuổi tôi cưới, nhà tôi làm mười hai mâm. Mẹ chồng tôi bảo mười hai mâm thì đừng mời hàng xóm, mời họ thôi."
"Rồi sao?"
"Tôi mời họ. Hàng xóm không mời. Sau đấy mười năm tôi đi chợ vẫn có người nhắc: cái nhà ấy cưới xong không mời tôi miếng trầu."
Bà Rỡ nhìn xuống cái chổi trong tay.
"Cho nên tôi biết cái sợ của chị."
"Nhưng cô không làm như tôi."
"Tôi không có cái để làm. Chị có sạp hàng ngoài chợ, chị có cái nhà ba gian mái bằng. Tôi đi ở thuê, tôi chở nồi bằng cái xe này."
Bà Rỡ ngẩng lên nhìn cái xe máy của tôi. Yên vá băng dính, sơn tróc từng mảng ở chỗ để chân.
"Chị Rỡ, tôi về. Chiều tối tôi còn phải rửa nồi, mai tôi có đám giỗ dưới xóm bên, mười tám mâm."
Tôi nổ máy xe.
"Bà Thoan."
"Dạ."
"Cái tờ giấy ấy."
"Tôi vẫn giữ."
"Cô... cô giữ làm gì nữa?"
Tôi tắt máy xe.
"Chị Rỡ, tôi giữ giấy của tất cả các nhà tôi nấu. Hai mươi năm, tôi có ba hộp giấy để ở gầm giường."
"Giữ để làm gì?"
"Để nhỡ nhà nào bảo tôi thiếu món thì tôi có cái đối chiếu."
"Còn nhà tôi?"
"Nhà chị cũng thế."
"Cô đưa lại tôi được không?"
Tôi rút tờ giấy trong túi áo ra.
Tôi mở ra, nhìn một lần nữa. Chỗ vết bút đỏ gạch lên con số bốn mươi hai, nét gạch dứt khoát, gạch hai lần.
Tôi gấp lại làm tư.
"Chị cầm đi."
Bà Rỡ đưa tay ra.
Bà cầm tờ giấy, không mở, nắm trong lòng bàn tay.
"Cô không sợ tôi quỵt tiền công à?"
"Tôi sợ chứ."
"Vậy sao cô vẫn đưa?"
"Vì cái giấy đó bây giờ nó không còn để đối chiếu nữa."
"Chứ để làm gì?"
"Để chị đọc lại một mình."
Tôi nổ máy xe.
"Bà Thoan."
"Dạ."
"Mai kia cô qua lấy tiền, cô qua buổi chiều. Buổi sáng tôi ra chợ."
"Vâng."
"Cô qua thì cô vào nhà, đừng đứng ngoài ngõ."
"Vâng ạ."
Tôi đi.
Chị Vót đi xe sau tôi, chở cái Nhài. Ông Rịnh đi xe của ông, buộc hai cái chảo gang hai bên.
Ra tới đầu ngõ, tôi ngoái lại một lần.
Rạp đã tháo được nửa. Cái nền xi măng lộ ra, chỗ đặt cái nồi quân dụng ban nãy còn một vòng ướt.
Bà cụ Nhỡ ngồi ở cái phản ngoài hiên. Con mèo tam thể nằm ở đầu phản.
Bà cụ giơ tay lên. Tôi cúi đầu một cái.
Đường về xóm tôi có một đoạn qua cánh đồng. Ba giờ rưỡi chiều, nắng còn gắt, nhưng có gió.
"Chị Thoan ơi." Chị Vót đi song song, nói với sang. "Chị chậm thôi, nồi nó xóc."
"Ừ."
"Chị Thoan."
"Gì?"
"Chị có tiếc không?"
"Tiếc cái gì?"
"Tiếc cái phong bì bà cụ đưa."
Tôi cười.
"Cô nhìn thấy à?"
"Em đứng ở cửa bếp em nhìn."
"Có tiếc."
"Ơ, chị cũng tiếc à?"
"Tiếc chứ. Trong đấy chắc phải có mấy trăm."
"Vậy sao chị không cầm?"
Tôi giữ tay lái. Đường có ổ gà.
"Cô Vót, mười suất lá chuối ấy tôi gói lúc mấy giờ?"
"Bốn giờ sáng ạ. Lúc em còn đang nhóm bếp."
"Ừ. Bốn giờ sáng, chưa ai nhìn thấy."
"Vâng."
"Lúc đó tôi gói không phải để lấy tiền."
"Vâng."
"Bây giờ tôi cầm tiền thì cái lúc bốn giờ sáng ấy nó thành cái khác."
Chị Vót không nói gì nữa.
Đi thêm một quãng, chị lại nói với sang.
"Chị Thoan, mai đám nhà bà Chượm mười tám mâm, chị định làm mấy món?"
"Bảy món. Thịt kho sáu miếng một mâm."
"Vâng."
"Cô Vót, mai cô đi sớm hơn nửa tiếng."
"Sao thế chị?"
"Nhà bà Chượm có cụ ông nằm liệt trong buồng. Mình gói riêng một suất."
Chị Vót im một nhịp.
"Chị vẫn gói ạ? Nhỡ người ta lại bảo chị..."
"Thì tôi lại mở nồi ra."
Về tới xóm thì gần bốn giờ.
Tôi dỡ nồi xuống, xếp vào cái sân gạch nhỏ trước cửa phòng trọ. Tôi thuê hai gian của nhà bà Đãi, ở đây mười một năm.
Tôi rửa nồi tới sáu giờ. Nồi nào cũng phải cọ hết mỡ, phơi úp cho khô, không thì hôm sau nấu lên có mùi.
Cái nồi quân dụng thứ mười, tôi rửa sau cùng.
Rửa xong tôi úp nó vào chỗ cũ, cạnh cái chum nước.
Bảy giờ tối, thằng con tôi gọi điện. Nó làm công nhân ngoài khu công nghiệp, một tháng về một lần.
"Mẹ ăn cơm chưa?"
"Rồi."
"Hôm nay mẹ nấu đám cưới hả mẹ?"
"Ừ."
"Bao nhiêu mâm?"
"Bốn mươi."
"To đấy."
"Ừ, cũng to."
"Có mệt không mẹ?"
Tôi ngồi xuống bậc cửa.
"Cũng như mọi đám thôi con."
"Người ta trả tiền chưa?"
"Mai mẹ qua lấy. Hôm nay nhà người ta bận."
"Mẹ cứ hay dễ."
"Ừ."
"Mẹ, bao giờ mẹ nghỉ nấu? Mẹ năm mươi bảy rồi."
"Còn khoẻ thì mẹ còn nấu."
"Con gửi tiền về mẹ có tiêu đâu."
"Mẹ để cho con."
"Con bảo mẹ tiêu mà."
"Ừ ừ. Thôi con đi ngủ đi, mai còn đi làm."
Tôi tắt máy, ngồi ở bậc cửa thêm một lúc.
Ngoài sân, mười mấy cái nồi úp ngược, ướt nước, dưới ánh đèn dây tóc nhìn đen sì.
Hai mươi năm nay tôi nấu chừng hơn tám trăm đám. Đám cưới, đám giỗ, đám mừng nhà mới, đám tang.
Tôi không nhớ hết. Nhưng cái nồi thứ mười thì đám nào tôi cũng để ở góc bếp.
Có nhà biết, có nhà không.
Hôm nay là lần đầu tiên có người bắt tôi mở nó ra giữa đám đông.
Tôi vào nhà, lấy cái hộp giấy dưới gầm giường ra.
Trong hộp là giấy tờ của các nhà, xếp theo năm, buộc dây chun.
Tôi tìm cái chỗ để tờ giấy của nhà bà Rỡ, rồi tôi nhớ ra là tôi đưa lại rồi.
Chỗ ấy trống một khe.
Tôi đóng nắp hộp, đẩy vào gầm giường.
Sáng mai ba giờ tôi phải dậy. Đám nhà bà Chượm mười tám mâm, bảy món, có một suất gói lá chuối để riêng.
Lá chuối tôi cắt sẵn chiều nay, để trong thúng. Sáng mai hơ lửa hai lượt cho mềm rồi mới gói được.
Người ta thuê tôi nấu cỗ. Người ta không thuê tôi cái nồi thứ mười.
Nhưng cái nồi ấy tôi vẫn để ở góc bếp, và tôi vẫn sẽ để, cho tới ngày tôi không nhấc nổi nó nữa.


