
Buổi phát quà cuối năm ở sân nhà văn hoá thôn, bà chủ tài trợ bắt tôi ôm thùng quà đứng chụp ảnh đi chụp lại ba lần, rồi cầm micro nói trước cả sân rằng có thế mới có mà ăn
"Bác cầm cái thùng lên cao chút nữa. Cao nữa. Đấy, mặt bác cười vào chứ, nhận quà mà mặt bác như đi đám ma thế kia thì ai người ta cho."
"Tôi cười rồi mà cô."
"Cười thế không ra cười. Cậu Vũ, chụp lại. Chụp lại đi."
"Vâng chị."
"Bác lùi lại nửa bước, để cái băng rôn nó vào khung. Không có băng rôn thì chụp làm gì."
Tôi lùi nửa bước. Cái thùng mì tôm với chai dầu ăn nặng hơn tôi tưởng, hai cánh tay tôi mỏi từ lúc nào.
"Chưa được. Cái nón bác đội lệch quá."
"Nón tôi nó rách vành, đội thẳng nó không đứng."
"Thế bác bỏ nón ra."
"Bỏ ra thì nắng."
"Tám giờ sáng tháng chạp mà nắng gì hả bác."
Tôi bỏ nón ra, cầm ở tay trái, tay phải ôm thùng quà.
Sân nhà văn hoá thôn hôm ấy có chừng hơn trăm người. Tôi biết là hơn trăm, vì phiếu của tôi số ba mươi bảy, mà lúc tôi tới thì người ta đã phát tới quá nửa cái danh sách dán ở cột.
"Chị ơi, chụp thế này được chưa ạ?"
"Đưa tôi xem."
Cậu Vũ đưa cái máy. Bà Chiêng cầm, xoay ngang, chau mày.
"Sao mặt bác ấy nó cứ trơ trơ ra thế nhỉ. Bác Miện ơi, bác cười được không?"
"Tôi cười rồi cô ạ."
"Thôi được. Cậu Vũ, chụp lần nữa. Lần này bác cúi đầu chút, kiểu cảm ơn ấy. Hai tay đỡ cái thùng."
"Cô cho tôi thôi được không?"
Bà Chiêng ngẩng lên.
"Bác nói gì cơ?"
"Tôi nói là tôi chụp hai lần rồi. Cô cho tôi cầm quà về."
"Bác vội à?"
"Tôi còn buổi chợ."
"Chợ gì mà chín giờ sáng còn chợ?"
"Chợ xép đầu làng cô ạ. Chín giờ tôi ra dọn hàng, mười giờ người ta đi làm đồng về, người ta mua."
Bà Chiêng đưa cái máy lại cho cậu Vũ, không nhìn tôi.
"Bác Miện này, tôi nói bác đừng giận."
"Cô nói đi ạ."
"Cả cái sân này hơn trăm người, ai cũng đứng chụp. Có mỗi bác kêu."
"Tôi không kêu. Tôi xin."
"Xin với kêu thì khác gì nhau."
Có mấy người ngồi ở dãy ghế nhựa quay lại nhìn.
Tôi đứng im, ôm cái thùng.
"Bác đứng lại chỗ cũ đi." Bà Chiêng nói. "Xong cái này thì bác về. Tôi cũng bận chứ tôi rỗi đâu."
Tôi đứng lại chỗ cũ.
"Cậu Vũ."
"Dạ."
"Chụp."
Đó là lần thứ ba.
Sau lần thứ ba, bà Chiêng cầm micro của cái loa kéo đặt ở góc sân.
Cái loa đó là loa của thôn, mượn ở nhà ông Trạm, mỗi lần có việc lại kéo ra. Dây điện chạy vắt ngang sân, người ta lấy mấy viên gạch chặn cho khỏi vướng chân.
"A lô. A lô. Bà con nghe rõ không ạ."
"Rõ rồi."
"Vâng. Cháu xin phép nói mấy câu."
Bà Chiêng năm nay bốn mươi tám, kém tôi sáu tuổi. Bà mặc áo khoác dài màu be, tóc uốn, đeo kính râm gài lên trên đầu.
"Thưa các bác các cô. Năm nay cơ sở nhà cháu lại xin phép được góp một chút với thôn mình. Một trăm hai mươi suất, mỗi suất một thùng mì, một chai dầu, một cân đường, với phong bì hai trăm nghìn."
Có tiếng vỗ tay.
"Cháu không dám nói là nhiều. Nhưng cháu nói thật lòng, nhà cháu năm nào cũng lo cho thôn này."
Vỗ tay to hơn.
"Cháu chỉ mong một điều thôi ạ." Bà Chiêng nói chậm lại. "Là bà con mình nhận thì nhận cho vui vẻ. Chứ có người cháu mời đứng chụp cái ảnh lưu niệm mà cứ như là cháu bắt người ta làm gì."
Cả sân im một nhịp.
"Cháu nói thẳng luôn. Cái ảnh ấy không phải chụp cho cháu. Chụp để năm sau cháu còn có cái mà đưa cho người ta xem, người ta mới tin, người ta mới góp tiếp. Chứ cháu nói suông ai tin cháu."
"Đúng rồi." Có người dưới sân nói vọng lên.
"Nhận của người ta thì cũng phải biết ơn cho phải phép chứ ạ. Có thế mới có mà ăn."
Tôi đứng ở mép sân, chỗ gốc xoan, tay vẫn ôm cái thùng.
Tôi không nhìn lên bục. Tôi nhìn xuống cái nón mê để dưới chân.
"Bác Miện."
Tôi ngẩng lên.
"Cháu gọi bác đấy. Bác ra đây cháu nói một câu."
Tôi không ra.
"Bác Miện ơi."
"Tôi nghe rồi cô."
"Bác ra đây cái đã."
Ông Đảnh ngồi ở cái bàn gỗ kê bên phải sân, chỗ có cuốn sổ và cái hộp bút. Ông ngẩng lên nhìn tôi, rồi nhìn lên bục.
"Chị Chiêng ơi." Ông nói. "Thôi để bác ấy về."
"Bác Đảnh cứ để cháu." Bà Chiêng cười vào micro. "Cháu có làm gì đâu, cháu nói vui thôi mà."
Tôi đặt cái thùng xuống đất, cúi nhặt cái nón, rồi đi ra giữa sân.
"Đấy, bác ra là được rồi." Bà Chiêng chìa micro về phía tôi. "Bác nói với bà con một câu đi."
"Nói gì hả cô?"
"Thì bác nói cảm ơn. Đơn giản thế thôi."
"Cảm ơn ai ạ?"
Bà Chiêng khựng lại nửa giây.
"Bác hỏi lạ nhỉ. Cảm ơn nhà tài trợ chứ cảm ơn ai."
Tôi cầm micro.
"Tôi cảm ơn."
Rồi tôi đưa lại.
"Ơ, thế thôi ạ?"
"Vâng."
"Bác nói dài một tí cho nó có đầu có đuôi. Bác nói là nhà bác khó khăn, được cô Chiêng giúp, bác biết ơn lắm."
"Cô muốn tôi nói câu đó?"
"Cháu muốn bác nói cái gì bác thấy đúng."
"Vậy tôi nói rồi ạ."
Bà Chiêng cầm lại micro, cười một tiếng vào loa. Cái cười ra ngoài loa nghe méo.
"Bà con thấy chưa. Bây giờ giúp người ta cũng khó."
Có tiếng ai đó cười hùa.
"Cháu nói thật, cháu chả trách bác Miện đâu. Nhưng mà được voi đòi tiên là cái tính người mình nó thế. Cho thì nhận, mà bảo đứng chụp cái ảnh thì lại tự ái."
Tôi cúi xuống nhấc cái thùng lên.
"Bác Miện, bác đi đâu đấy?"
"Tôi về ạ."
"Bác cứ đứng đấy đã, còn phần phong bì."
"Tôi lấy rồi cô. Lúc tám giờ, cô Hoè phát cho tôi ở bàn kia. Phiếu số ba mươi bảy."
Tôi đi được mấy bước thì bà Chiêng nói tiếp vào loa.
"Đấy, bà con thấy không ạ. Nhanh lắm."
Tôi đi qua chỗ ông Đảnh ngồi.
Ông đang cúi xuống cuốn sổ, tay cầm bút bi, không viết.
Cuốn sổ ấy bìa xanh, gáy dán băng dính đen, góc trên bên phải sờn ra một mảng trắng. Tôi biết cái sổ đó. Mười ba năm nay tháng nào tôi cũng nhìn thấy nó một lần.
"Bác Đảnh."
"Ừ, cô Miện."
"Bác cho tôi gửi."
Tôi rút trong túi áo ra tờ hai trăm gấp tư, đặt lên mặt bàn, cạnh cái hộp bút.
Ông Đảnh nhìn tờ tiền.
"Hôm nay mười bốn rồi cô ạ."
"Vâng. Tôi chậm bốn hôm."
"Không, ý tôi là... Cô Miện này, hôm nay cô đừng đóng."
"Sao thế bác?"
Ông Đảnh đặt bút xuống.
"Vì hôm nay cô là người đi nhận."
Tôi đứng im.
"Bác ghi rồi tôi về. Chín giờ tôi ra chợ."
Ông Đảnh cầm bút lên. Ông lật sổ, tìm dòng, viết. Ông viết chậm, chữ to.
"Tháng chạp. Cô Miện. Ba mươi nghìn."
"Vâng."
"Còn thừa một trăm bảy mươi."
"Bác giữ hộ tôi ba tháng sau luôn. Ba mươi nhân ba là chín mươi. Còn tám mươi bác cứ để đấy, tháng tư tôi bù thêm."
"Cô để tôi trả lại."
"Bác giữ đi. Tôi cầm về lại tiêu mất."
Ông Đảnh nhìn tôi một lúc, rồi ghi thêm mấy chữ.
"Cô Miện."
"Dạ."
"Hôm nay ngoài kia người ta nói cô, tôi có nghe."
"Tôi cũng nghe ạ."
"Cô không nói gì à?"
"Nói gì hả bác. Người ta cho quà mình mà."
Tôi ôm thùng quà đi ra cổng.
Ra tới gốc xoan thì cậu Vũ chạy theo.
"Bác ơi bác."
"Gì cháu?"
"Chị Chiêng bảo bác quay lại một tí."
"Còn gì nữa hả cháu?"
"Chị ấy bảo cái ảnh lúc nãy bị nhoè, phải chụp lại ạ."
Tôi đứng lại giữa cổng.
Cái cổng nhà văn hoá thôn xây bằng gạch, hai bên có hai cái trụ, trên trụ để hai chậu cây héo. Băng rôn đỏ căng ngang, chữ in vội, chữ "chương trình" bị dính mực một vệt.
"Cháu ơi."
"Dạ."
"Cháu chụp cả buổi sáng nay được bao nhiêu người rồi?"
"Dạ chắc bốn năm chục ạ."
"Bốn năm chục người mà có mỗi ảnh của bác nhoè à?"
Cậu Vũ gãi tai.
"Dạ tại... tại chị ấy bảo bác là ca khó chụp nhất."
"Ca khó chụp là sao?"
"Dạ, là bác trông không ra dáng."
"Không ra dáng gì?"
Cậu Vũ không trả lời.
"Cháu nói đi, bác không giận đâu."
"Dạ... không ra dáng người nghèo ạ."
Tôi cười.
"Bác nghèo thật đấy cháu."
"Dạ cháu biết. Chị ấy bảo bác mặc áo sạch quá, tóc chải gọn quá, người ta xem ảnh người ta không tin."
"Áo này bác giặt tối qua. Bác biết là hôm nay đông người."
Cậu Vũ đứng nhìn xuống chân.
"Bác thông cảm cho cháu. Cháu ăn tiền công của chị ấy."
"Bác không trách cháu. Cháu về bảo cô ấy là bác đi rồi."
"Chị ấy hỏi thì cháu nói sao ạ?"
"Cháu nói thật. Bác đi ra chợ."
Chợ xép đầu làng có bảy hàng. Hai hàng thịt, một hàng cá, ba hàng rau, một hàng tạp hoá.
Tôi bán rau ở đó mười tám năm. Cái mẹt tôi đặt trên hai viên gạch, sau lưng là bức tường rào nhà ông Trạm.
Chín rưỡi tôi tới. Bà Néo bán rau bên cạnh đã dọn xong.
"Chị Miện, chị đi lấy quà à?"
"Ừ."
"Được gì?"
"Thùng mì, chai dầu, cân đường, với hai trăm."
"Nhà tôi cũng có phiếu mà tôi chả đi."
"Sao chị không đi?"
Bà Néo bĩu môi.
"Đi rồi đứng cho người ta chụp à. Năm ngoái tôi đi rồi. Đứng chụp ba kiểu, xong về nhà con dâu tôi nó mở điện thoại ra nó bảo mẹ ơi mẹ lên mạng kìa."
"Rồi sao?"
"Rồi nó khóc. Nó bảo mẹ ơi con đi làm ngoài phố, người ta biết mẹ con là mẹ con thì con nhục lắm."
Tôi xếp rau ra mẹt. Cải ngọt, mồng tơi, mấy bó hành.
"Chị Miện."
"Ừ."
"Năm nay chị có bị chụp không?"
"Có."
"Mấy kiểu?"
"Ba."
Bà Néo ngồi phịch xuống cái ghế con.
"Ba cơ à? Sao lại ba?"
"Cô ấy bảo tôi cười không ra cười."
"Trời ơi cái nhà bà này."
"Chị đừng nói to."
"Tôi nói to đấy. Cái sân đấy hơn trăm người, sao không ai nói gì?"
"Người ta nhận quà chị ạ."
"Thì tôi cũng nhận. Nhưng nhận là nhận, chứ có phải bán mặt đâu."
Tôi buộc lại mấy bó hành cho gọn.
"Chị hiền quá đấy."
"Không phải hiền đâu chị. Là tôi thấy cãi ra thì cũng chẳng được gì. Người ta cho tôi thùng mì thật mà."
"Thùng mì bao nhiêu tiền?"
"Chắc hơn trăm."
"Hơn trăm mà chị đứng ba lần."
"Thì tôi cũng chưa mất gì."
Trưa hôm đó thằng Túc nhà tôi về.
Nó hai mươi hai tuổi, học xong cao đẳng nghề trên tỉnh, đang làm ở một xưởng cơ khí ngoài thị trấn, hai tuần về một lần.
Nó dựng xe máy ở sân, nhìn cái thùng mì để ở góc nhà.
"Mẹ được quà à?"
"Ừ."
"Mẹ đi từ mấy giờ?"
"Tám giờ."
"Đông không mẹ?"
"Đông."
Nó vào bếp rửa mặt. Rồi nó quay ra.
"Mẹ."
"Ừ."
"Con nghe thằng Bằng nó kể."
Tôi đang nhặt rau. Tôi nhặt tiếp.
"Bằng nào?"
"Bằng con bà Néo. Nó với con học cùng cấp hai."
"Nó kể gì?"
"Nó bảo sáng nay ở sân nhà văn hoá có người bắt mẹ đứng chụp ảnh ba lần."
"Ừ."
"Ừ là sao hả mẹ?"
"Là đúng."
Thằng Túc đứng ở cửa bếp.
"Ai bắt mẹ?"
"Cô Chiêng."
"Chiêng nào?"
"Cô chủ cơ sở làm bún khô ngoài phố huyện. Cô ấy tài trợ."
"Sao mẹ không về?"
"Mẹ có về mà."
"Con hỏi là sao mẹ không về ngay từ lần đầu."
Tôi để rổ rau xuống.
"Con ngồi xuống đây mẹ nói."
Nó ngồi xuống cái ghế đẩu.
"Cái thùng quà ấy con thấy chưa?"
"Rồi."
"Nó là thật. Mì thật, dầu thật, đường thật. Cái phong bì hai trăm cũng thật."
"Con biết."
"Mẹ đi nhận thì mẹ chịu cái phần đứng chụp. Có gì đâu."
"Có gì đâu?" Nó ngẩng lên. "Mẹ ơi, ba lần."
"Ba lần thì cũng mất có mười lăm phút."
"Không phải mười lăm phút. Cái ảnh nó nằm trên mạng cả năm. Nó đăng lên trang của cơ sở nó, năm ngoái con xem rồi. Toàn ảnh người trong thôn mình cầm thùng mì đứng cạnh nó."
"Thì nó cho thật mà con."
"Cho thật thì cho. Sao phải chụp?"
Tôi nhìn thằng con tôi.
Nó có cái sống mũi giống bố nó. Bố nó mất năm nó tám tuổi, cách đây mười bốn năm, đi phụ hồ ngã giàn giáo.
"Túc."
"Dạ."
"Con nghe mẹ nói một câu."
"Dạ."
"Người ta cho mình cái gì thì mình nhận cái đó. Còn cái người ta nói thì mình để ngoài tai."
"Mẹ để ngoài tai được không?"
"Được."
"Mẹ nói dối con."
Tôi cầm rổ rau lên.
"Mẹ không nói dối. Mẹ chỉ không muốn làm to chuyện."
"Con không bảo mẹ làm to chuyện. Con bảo mẹ đừng đi nữa."
"Đi đâu?"
"Sang năm đừng đi nhận nữa."
Tôi vo gạo.
"Sang năm tính sau con ạ."
Ba hôm sau, tôi đang dọn hàng thì cô Hoè cán bộ thôn ra chợ.
Cô Hoè bốn mươi mấy, làm ở ban công tác mặt trận thôn, hôm phát quà cô ngồi bàn phát phong bì.
"Chị Miện."
"Cô Hoè."
"Chị bán được không?"
"Được ít thôi cô."
Cô Hoè đứng nhìn cái mẹt rau.
"Chị ơi, em ra đây có việc."
"Cô nói đi ạ."
"Cô Chiêng có nhắn em."
"Nhắn gì cô?"
Cô Hoè ngập ngừng.
"Cô ấy bảo sang tuần làm thêm một đợt nữa. Mười lăm suất, cho các hộ đặc biệt khó khăn, suất to hơn, có cả chăn. Cô ấy bảo em ghi tên chị vào."
Tôi ngẩng lên.
"Tôi nhận đợt trước rồi mà cô."
"Vâng, em cũng bảo thế. Nhưng cô ấy bảo đợt này khác."
"Khác thế nào?"
"Cô ấy bảo... " Cô Hoè nhìn xuống. "Cô ấy bảo đợt này có nhà báo trên huyện về."
Tôi lấy cái khăn lau mặt mẹt.
"Cô ghi tên tôi vào rồi à?"
"Em chưa ghi. Em ra hỏi chị trước."
"Cô đừng ghi."
"Nhưng cô ấy hỏi em thì em nói sao?"
"Cô nói là tôi không nhận."
Cô Hoè đứng im một lúc.
"Chị Miện này."
"Dạ."
"Em nói cái này chị đừng giận."
"Cô nói đi."
"Nhà chị đúng là hộ khó khăn. Danh sách của thôn có tên chị từ năm chị mất anh Kỳ. Chị không nhận thì cũng phí."
"Tôi không nói là tôi không khó khăn."
"Vậy sao chị không nhận?"
Tôi xếp lại mấy bó rau cho ngay hàng.
"Cô Hoè, cô cho tôi hỏi. Cái đợt mười lăm suất ấy, người ta có bắt chụp ảnh không?"
Cô Hoè không trả lời.
"Cô cứ nói thật với tôi."
"Có ạ. Cô ấy bảo lần này chụp kỹ hơn, có cả quay phim."
"Vậy cô gạch tên tôi ra."
"Chị Miện."
"Cô ghi cho nhà chị Néo. Nhà ấy có bà cụ nằm một chỗ, cần chăn hơn tôi."
Cô Hoè cầm quyển sổ nhỏ, ghi.
"Chị Miện này, em hỏi thật."
"Cô hỏi đi."
"Chị có ghét cô Chiêng không?"
Tôi nghĩ một lúc.
"Không cô ạ."
"Thật không chị?"
"Thật. Cô ấy cho thật mà. Một trăm hai mươi suất, mỗi suất hai trăm với thùng quà, tính ra cũng mấy chục triệu. Tiền của cô ấy chứ tiền của ai."
"Vậy sao chị..."
"Tôi chỉ không muốn đứng thêm lần nữa thôi."
Chiều hôm đó ông Đảnh đạp xe qua chợ.
Ông bảy mươi mốt tuổi, người gầy, đi cái xe đạp khung ngang cũ, sau poóc-ba-ga buộc cái cặp da đen.
"Cô Miện."
"Bác Đảnh."
Ông dựng xe, đứng cạnh mẹt rau.
"Cô cho tôi bó mồng tơi."
"Bác lấy đi ạ. Tôi không lấy tiền bác."
"Cô này. Bán hàng mà cứ cho thế thì lấy gì mà ăn."
"Bác giữ tiền của tôi trong quỹ rồi mà."
Ông Đảnh cười.
"Cái đấy là cái khác."
Ông rút tờ mười nghìn đặt xuống mẹt.
"Cô Miện."
"Dạ."
"Hôm nọ ở sân, cô về sớm nên cô không biết."
"Có chuyện gì hả bác?"
"Sau khi cô về, cô Chiêng nói thêm mấy câu nữa."
"Vâng."
"Cô ấy nói là năm nay thôn mình được như thế này là nhờ có người có tâm."
"Vâng."
"Rồi cô ấy nói là quỹ khuyến học của thôn, năm nay cũng nhờ cô ấy mới có tiền phát thưởng cho các cháu."
Tôi dừng tay.
"Cô ấy nói thế à?"
"Nói đúng câu đó. Có loa, cả sân nghe."
"Rồi bác nói gì?"
"Tôi không nói gì. Tôi ngồi ở bàn, tôi nghe."
"Sao bác không nói?"
Ông Đảnh nhìn tôi.
"Cô Miện, cô hỏi tôi câu ấy à? Cô ngồi đấy nghe người ta nói cô cả buổi sáng, cô có nói gì đâu."
"Tôi khác bác. Bác giữ sổ. Bác là trưởng ban."
"Ừ. Tôi giữ sổ." Ông Đảnh gật đầu. "Cho nên tôi mới không nói."
"Tôi không hiểu bác ạ."
"Cái sổ nó không phải để tôi mang ra cãi nhau ngoài sân. Nó là để đối chiếu."
"Đối chiếu với cái gì?"
"Với lời người ta nói."
Ông cầm bó mồng tơi lên, rồi lên xe đạp.
"Bác Đảnh."
"Ừ."
"Bác đừng nói với ai chuyện tôi đóng quỹ."
Ông dừng chân trên bàn đạp.
"Sao thế cô?"
"Mười ba năm nay bác có nói với ai đâu."
"Tại chưa ai hỏi."
"Vậy có ai hỏi thì bác cũng đừng nói."
"Vì sao?"
"Vì tôi ngại."
Ông Đảnh nhìn tôi khá lâu.
"Cô Miện, cô ngại cái gì?"
"Ba chục nghìn một tháng thì có gì mà nói hả bác. Người ta cho cả trăm triệu người ta còn chả nói."
"Người ta nói đấy chứ. Người ta vừa nói xong."
Tôi cười.
"Vâng. Nhưng tôi thì tôi không nói."
Ông Đảnh đạp xe đi.
Đi được một quãng ông quay lại.
"Cô Miện."
"Dạ bác."
"Mùng bốn tháng giêng thôn mình phát thưởng khuyến học."
"Vâng, năm nào chả có."
"Năm nay làm ở sân nhà văn hoá."
"Vâng."
"Cô ra nhé."
"Nhà tôi có cháu nào đi học đâu mà tôi ra."
"Cô cứ ra."
Từ hôm ấy tới Tết còn hơn ba tuần.
Chợ Tết đông, tôi bán được hơn. Có hôm tôi bán hết mẹt từ mười một giờ.
Thằng Túc về ăn Tết. Nó mang về cho tôi cái áo khoác, dày, có mũ, màu xanh sẫm.
"Con mua bao nhiêu?"
"Mẹ đừng hỏi."
"Con nói mẹ nghe."
"Ba trăm."
"Ba trăm cơ à?"
"Mẹ mặc đi. Mẹ mặc cái áo cũ mấy năm rồi."
"Áo cũ mẹ còn mặc được."
"Con biết. Nhưng con mua rồi."
Tôi treo cái áo lên móc.
"Mẹ không mặc à?"
"Mẹ để dành."
"Để dành đến bao giờ?"
"Đến hôm nào có việc."
Mùng bốn tháng giêng, tôi ra sân nhà văn hoá.
Tôi mặc cái áo thằng Túc mua.
Sân hôm đó kê chừng năm chục cái ghế nhựa. Trên cái bàn gỗ dài phủ khăn đỏ có mấy chồng vở, mấy hộp bút, với một cái phong bì to.
Cái loa kéo vẫn ở góc sân, vẫn cái dây điện chặn gạch.
Băng rôn đỏ căng ngang, năm nay in đẹp hơn, không dính mực.
Bọn trẻ ngồi hàng đầu, đứa nào cũng mặc áo mới. Phụ huynh ngồi phía sau.
Tôi ngồi hàng cuối, sát mép sân, chỗ gốc xoan.
Chỗ tôi đứng chụp ảnh hôm tháng chạp cách chỗ tôi ngồi đúng ba bước chân.
Tám giờ rưỡi, ông trưởng thôn khai mạc.
Tám giờ bốn lăm, ông Đảnh lên đọc báo cáo quỹ khuyến học.
Ông cầm cuốn sổ bìa xanh, kẹp thêm một tờ giấy đánh máy.
"Kính thưa bà con. Kính thưa các cháu."
"Năm nay quỹ khuyến học của thôn ta thu được tổng cộng bốn mươi mốt triệu tám trăm nghìn."
Có tiếng xuýt xoa.
"Chi phát thưởng cho ba mươi hai cháu, hết ba mươi hai triệu. Còn lại chín triệu tám chuyển sang năm sau."
"Sổ sách tôi vẫn giữ như mọi năm. Bà con ai muốn xem thì ra bàn tôi, tôi mở."
Ông xuống.
Chín giờ, tới phần phát thưởng.
Chín giờ hai mươi, cô Hoè cầm micro.
"Thưa bà con, tiếp theo chương trình, chúng ta xin trân trọng mời cô Chiêng, chủ cơ sở sản xuất ngoài phố huyện, là nhà tài trợ của thôn ta, lên có đôi lời."
Bà Chiêng lên. Hôm nay bà mặc áo dài, cậu Vũ vẫn đi theo, tay cầm máy.
"Cháu xin chào bà con."
"Cháu xin phép nói ngắn thôi, cháu biết bà con còn về ăn Tết."
"Năm nay cháu vui lắm. Vui vì cái quỹ khuyến học của thôn mình nó lên được bốn mươi mốt triệu. Bà con biết mấy năm trước nó có bao nhiêu không ạ? Có hơn hai chục thôi."
"Cháu không dám nhận công. Nhưng cháu nói thật, nhà cháu năm nào cũng lo cho thôn này. Từ hồi bố cháu còn sống cơ."
Có tiếng vỗ tay.
"Cháu nghĩ thế này ạ. Cái thôn mình nó nghèo, mà nghèo thì phải có người đứng ra. Không có người đứng ra thì các cháu nhỏ lấy đâu ra vở mà viết."
Vỗ tay to hơn.
Ông Đảnh ngồi ở bàn, cuốn sổ bìa xanh để trước mặt, hai tay đặt lên sổ.
"Bà con cho cháu nói thêm một câu nữa ạ." Bà Chiêng nói. "Câu này cháu nói không phải để trách ai."
Cả sân im.
"Hồi tháng chạp cháu về phát quà, cháu có mời một bác đứng chụp cái ảnh lưu niệm. Bác ấy không chịu. Bác ấy còn bỏ về giữa chừng."
Tôi ngồi im ở hàng cuối.
"Cháu không nói tên ai đâu ạ. Cháu chỉ muốn nói là bà con mình nên hiểu cho người đi làm từ thiện. Người ta bỏ tiền ra, người ta cũng cần cái ảnh để người ta báo cáo, để năm sau người ta còn xin được người khác."
"Đúng rồi."
"Chứ nhận quà xong quay đi thì cháu buồn lắm ạ."
Ông Đảnh đứng dậy.
Ông đứng dậy chậm, tay chống lên mặt bàn. Cái ghế nhựa kêu một tiếng trên nền xi măng.
"Chị Chiêng."
Bà Chiêng quay lại.
"Dạ bác."
"Chị vừa nói một câu, tôi muốn hỏi lại cho rõ."
"Bác cứ hỏi ạ."
"Chị nói là nhà chị năm nào cũng lo cho thôn này."
"Vâng ạ."
"Chị nói cái quỹ khuyến học năm nay lên được bốn mươi mốt triệu là nhờ có người đứng ra."
"Cháu nói thế ạ. Cháu có nói sai đâu."
Ông Đảnh cầm cuốn sổ bìa xanh lên.
"Chị Chiêng, chị cho tôi mượn cái micro."
Bà Chiêng đưa micro. Bà đưa nhanh, kiểu người ta đưa cho người lớn tuổi.
Ông Đảnh cầm micro bằng tay trái, tay phải giở sổ.
"Thưa bà con. Tôi giữ cái sổ này từ tháng giêng năm hai nghìn mười ba. Đến nay là mười ba năm."
"Trong sổ này ghi từng người, từng tháng, từng đồng."
"Hôm nay có nhà tài trợ ở đây, có bà con ở đây, tôi xin phép mở ra đọc mấy dòng cho rõ."
Bà Chiêng cười.
"Bác cứ đọc ạ. Cháu có gì mà giấu."
"Vâng."
Ông Đảnh lật tới trang cuối.
"Mục đóng góp của cơ sở nhà chị Chiêng."
Ông đưa quyển sổ ra xa một chút.
"Ngày mười hai tháng chạp năm hai nghìn hai mươi lăm. Cơ sở của chị Chiêng đóng góp vào quỹ khuyến học ba triệu đồng."
"Đấy ạ." Bà Chiêng gật đầu về phía dưới sân.
"Tôi chưa đọc hết."
"Vâng."
"Trước ngày mười hai tháng chạp năm hai nghìn hai mươi lăm, trong sổ này không có dòng nào mang tên cơ sở của chị."
Cả sân im.
"Bác đọc lại giùm cháu?"
"Tôi đọc lại. Mười ba năm tôi giữ sổ, cơ sở của chị đóng một lần. Ngày mười hai tháng chạp vừa rồi. Ba triệu."
"Chắc bác ghi thiếu."
"Có thể lắm." Ông Đảnh nói. "Chị cứ ra đây xem cùng tôi. Sổ để trên bàn, tôi không cất."
Bà Chiêng không bước ra.
"Bác Đảnh." Bà nói. "Cháu nói là nhà cháu lo cho thôn này. Cháu có nói riêng cái quỹ đâu ạ. Nhà cháu phát quà Tết mấy năm nay, mỗi năm cả trăm suất."
"Đúng. Cái đó tôi ghi nhận."
"Vâng."
"Nhưng ban nãy chị đứng đây, chị nói là cái quỹ khuyến học lên được bốn mươi mốt triệu là nhờ có người đứng ra."
"Cháu nói chung chung mà bác."
"Chị nói câu đó xong thì cả sân vỗ tay. Bà con vỗ tay là bà con hiểu theo một nghĩa."
Có tiếng người phía dưới.
"Bác Đảnh nói đúng đấy."
"Thế thì cái bốn mươi mốt triệu ở đâu ra hả bác?"
Ông Đảnh đặt cuốn sổ xuống bàn.
"Bà con hỏi thì tôi trả lời."
"Cái quỹ này mười ba năm nay có một trăm chín mươi bảy người đóng góp. Người nhiều nhất là ông Trạm, một lần năm triệu, hồi ông ấy bán con bò."
"Còn người đóng đều nhất..."
Ông Đảnh dừng lại.
Tôi ngồi ở hàng cuối. Tôi đứng dậy.
"Bác Đảnh."
Cả sân quay lại.
"Cô Miện."
"Bác cho tôi xin."
"Cô nói gì cô?"
"Bác đừng đọc."
Ông Đảnh nhìn tôi. Từ chỗ tôi đứng tới cái bàn gỗ ấy chừng hai chục bước.
"Cô Miện, cô ra đây."
"Tôi đứng đây được ạ. Bác đừng đọc tên tôi. Tôi không muốn."
Cả sân im.
Bà Chiêng nhìn tôi, rồi nhìn ông Đảnh.
"Bác Đảnh, cái bác kia là ai ạ?"
Ông Đảnh không trả lời bà.
Ông nói vào micro, nói với cả sân.
"Thưa bà con. Cô Miện vừa xin tôi đừng đọc."
"Mười ba năm nay tháng nào cô ấy cũng ra bàn tôi. Tháng nào cô ấy cũng dặn tôi đúng một câu: bác đừng nói với ai."
"Tôi nghe cô ấy mười ba năm rồi."
"Hôm nay tôi không nghe nữa."
Ông giở sổ.
"Cô Miện, bán rau chợ xép đầu làng. Bắt đầu đóng tháng giêng năm hai nghìn mười ba."
"Từ tháng giêng năm hai nghìn mười ba đến hết năm hai nghìn mười tám, sáu năm, bảy mươi hai tháng, mỗi tháng hai chục nghìn."
"Bảy mươi hai nhân hai chục là một triệu bốn trăm bốn mươi nghìn."
"Từ tháng giêng năm hai nghìn mười chín đến hết tháng chạp năm hai nghìn hai mươi lăm, bảy năm, tám mươi tư tháng, mỗi tháng ba chục nghìn."
"Tám mươi tư nhân ba chục là hai triệu năm trăm hai mươi nghìn."
Ông ngẩng lên.
"Cộng hai khoản là ba triệu chín trăm sáu mươi nghìn."
Không ai nói gì cả.
"Một trăm năm mươi sáu tháng. Không tháng nào thiếu."
"Có tháng cô ấy đóng chậm mười ngày, tôi hỏi thì cô ấy bảo hôm rằm mưa, cô ấy không bán được rau."
"Có tháng cô ấy đưa tôi hai trăm nghìn, bảo tôi giữ hộ mấy tháng sau, vì cô ấy sợ cầm về lại tiêu mất."
"Tháng gần nhất là tháng chạp vừa rồi. Ngày mười bốn."
Ông Đảnh dừng lại.
"Ngày mười bốn tháng chạp là hôm phát quà ở cái sân này."
Có tiếng ghế nhựa kéo lê.
"Cô ấy đóng lúc mấy giờ hả bác?"
Ông Đảnh nhìn xuống sổ.
"Tôi ghi giờ, vì hôm ấy tôi ghi kỹ. Chín giờ kém năm."
"Chín giờ kém năm là lúc nào?"
"Là lúc cô ấy vừa ở giữa sân đi ra."
Cả sân quay lại nhìn tôi.
Tôi đứng ở hàng ghế cuối, dưới gốc xoan. Tôi mặc cái áo khoác xanh thằng Túc mua ba trăm nghìn.
Tôi không biết để tay vào đâu, nên tôi để hai tay xuôi xuống.
Bà Chiêng đứng trên bục, một tay còn giữ vạt áo dài.
"Bác Đảnh."
"Vâng chị."
"Bác đọc cái đó ra làm gì?"
Ông Đảnh đặt bút xuống.
"Chị Chiêng, ban nãy chị nói là chị buồn vì có người nhận quà xong quay đi."
"Vâng."
"Người đó là cô Miện."
"Cháu có nói tên đâu ạ."
"Chị không nói tên. Nhưng hôm ấy cả sân này nhìn cô ấy đứng chụp ba lần. Chị nói tới đấy là ai cũng biết là ai."
Bà Chiêng không đáp.
"Tôi ngồi ở bàn hôm ấy. Tôi nghe hết." Ông Đảnh nói. "Tôi nghe chị nói có thế mới có mà ăn. Tôi nghe chị nói được voi đòi tiên."
"Bác..."
"Chị nói với người đóng quỹ khuyến học của thôn này lâu nhất."
Cậu Vũ đứng ở mép bục, cái máy ảnh buông xuống ngang bụng, không giơ lên.
"Cháu không biết." Bà Chiêng nói. "Cháu thật là không biết ạ."
"Tôi tin chị." Ông Đảnh nói. "Tôi cũng không trách chị chuyện không biết. Cái tôi trách là chị không biết mà chị vẫn nói."
Bà Chiêng đứng im giữa bục.
Bà Néo ở hàng thứ ba đứng dậy.
"Cho tôi hỏi một câu."
"Bà nói đi."
"Cái sổ ấy có tên tôi không?"
Ông Đảnh lật.
"Có. Bà Néo, đóng bốn lần, tổng một trăm hai mươi nghìn."
"Vâng. Tôi đóng ít. Nhưng tôi hỏi cái này."
Bà Néo quay xuống dưới sân.
"Hôm tháng chạp có ai trong này đứng ra nói giùm chị Miện một câu không?"
Không ai trả lời.
"Tôi cũng không." Bà Néo nói. "Tôi ở nhà. Tôi biết mà tôi không đi."
Bà ngồi xuống.
Ông trưởng thôn cầm cái micro thứ hai.
"Thôi, bà con ơi. Hôm nay là ngày vui của các cháu."
"Bác Đảnh, bác cất sổ đi bác."
Ông Đảnh gấp cuốn sổ lại.
"Vâng. Tôi cất."
Ông đặt sổ xuống bàn, tay vẫn để lên bìa.
"Nhưng tôi xin nói nốt một câu rồi tôi ngồi xuống."
"Bác nói đi."
Ông Đảnh quay xuống sân.
"Tôi làm cái việc giữ sổ này mười ba năm. Không lương, không phụ cấp, tự tôi xin làm."
"Việc của tôi là ghi. Ai đóng bao nhiêu tôi ghi bấy nhiêu. Không ghi thêm, không ghi bớt."
"Mười ba năm tôi chưa mở sổ ra giữa sân lần nào."
"Hôm nay tôi mở, không phải vì tôi ghét ai."
"Mà vì tôi nghe một câu nói sai, mà cái sổ trong tay tôi thì nó nói đúng."
Ông ngồi xuống.
Bà Chiêng vẫn đứng trên bục.
Bà đứng thêm chừng mươi giây, rồi bà đi xuống. Bà đi xuống bằng ba bậc, tay vịn vào thành bục.
Bà không đi ra cổng.
Bà đi về phía hàng ghế cuối, chỗ tôi đứng.
Cả sân nhìn theo.
"Bác Miện."
"Cô Chiêng."
"Cháu..."
Bà dừng lại.
"Cô nói đi ạ."
"Cháu không biết nói cái gì."
"Vậy cô đừng nói."
Bà Chiêng đứng đó. Tôi thấy mắt bà đỏ, nhưng bà không khóc.
"Bác Miện, cháu hỏi bác một câu được không?"
"Cô hỏi đi."
"Hôm tháng chạp, sao bác không nói?"
"Nói gì hả cô?"
"Bác nói với cháu là bác có đóng quỹ. Cháu đã không dám mở miệng."
Tôi cầm cái nón trên tay.
"Cô Chiêng."
"Dạ."
"Tôi đóng ba chục nghìn một tháng."
"Vâng."
"Cô cho một trăm hai mươi suất."
"Vâng."
"Tôi lấy cái ba chục nghìn của tôi ra mà nói với cô thì nó thành cái gì?"
Bà Chiêng không đáp.
"Nó thành tôi khoe. Mà cái đó thì tôi không khoe được."
"Nhưng cháu đã nói bác cái câu ấy."
"Câu nào ạ?"
"Cháu bảo có thế mới có mà ăn."
"Vâng. Cô có nói."
"Bác không giận cháu à?"
Tôi nghĩ một lúc.
"Lúc đó thì tôi có giận."
"Bây giờ ạ?"
"Bây giờ tôi thấy mệt hơn là giận."
Bà Chiêng cúi đầu xuống.
"Cháu xin lỗi bác."
"Vâng."
"Cháu nói thật lòng đấy ạ."
"Tôi tin cô."
"Bác tin thật à?"
"Tin. Cô đi từ trên bục xuống tận đây, có hơn trăm người nhìn. Cái đó không dễ."
Bà Chiêng ngẩng lên.
"Bác Miện, cơ sở nhà cháu năm nay ế. Bún khô bây giờ người ta làm máy, giá rẻ hơn cháu. Cháu còn nợ, cháu phải giữ mấy cái mối ngoài tỉnh."
"Vâng."
"Mấy cái mối ấy, người ta thích làm ăn với người có tiếng. Cho nên cháu mới..."
Bà dừng.
"Cháu mới cần cái ảnh."
"Tôi hiểu ạ."
"Bác hiểu thật à?"
"Tôi bán rau ngoài chợ mười tám năm. Tôi cũng phải để cái mẹt của tôi cho nó đẹp thì người ta mới ghé."
Bà Chiêng cười một tiếng, cái cười méo mó.
"Bác nói thế cháu lại càng..."
"Cô Chiêng."
"Dạ."
"Tôi nói cô một câu rồi tôi về."
"Bác nói đi ạ."
"Cô cần cái ảnh thì cô cứ chụp. Tôi không cấm."
"Vâng."
"Nhưng cô đừng bắt người ta cười."
Bà Chiêng đứng im.
"Người ta cầm cái thùng của cô, người ta đã cúi rồi. Cô bắt người ta cười nữa thì nặng lắm."
"Vâng."
"Tôi nói thế thôi."
Tôi đội cái nón lên.
"Bác Miện."
"Dạ."
"Cái đợt mười lăm suất tuần trước, cháu có bảo cô Hoè ghi tên bác. Bác gạch tên bác ra."
"Vâng, tôi có gạch."
"Bác gạch rồi bác ghi tên nhà bà Néo."
"Tôi thấy nhà ấy có cụ nằm một chỗ."
Bà Chiêng nhìn tôi.
"Bác..."
"Cô đừng nói nữa. Cô nói nữa thì lát cả sân người ta lại nhìn tôi."
Tôi đi ra cổng.
Đi tới gốc xoan thì ông Đảnh gọi.
"Cô Miện."
"Bác."
Ông đứng lên, cầm cuốn sổ bìa xanh đi ra.
"Cô giận tôi không?"
"Tôi có xin bác."
"Cô có xin. Tôi vẫn đọc."
"Vâng."
"Cô nói đi. Cô giận thì cô cứ nói."
Tôi đứng nhìn cái sân. Ghế nhựa còn kê nguyên, bọn trẻ đang ôm vở với hộp bút chạy ra chỗ bố mẹ.
"Bác Đảnh."
"Ừ."
"Tôi không giận bác."
"Thật không cô?"
"Thật. Nhưng tôi hỏi bác một câu."
"Cô hỏi."
"Sao bác phải đọc?"
Ông Đảnh cầm cuốn sổ bằng cả hai tay.
"Cô Miện, cái sổ này nó không phải của tôi."
"Vâng."
"Nó cũng không phải của cô."
"Vâng."
"Nó là của cái thôn này."
Ông gõ ngón tay lên bìa sổ.
"Ban nãy có người đứng trước cả trăm người, nói một câu không đúng với cái ghi trong này. Tôi mà ngồi im thì từ mai cái sổ này nó chỉ còn là quyển vở."
"Vâng."
"Cô xin tôi đừng đọc tên cô. Tôi nghe cô mười ba năm rồi. Nhưng hôm nay tôi không nghe được."
"Tôi hiểu ạ."
"Cô hiểu thật không?"
"Hiểu ạ. Nhưng tôi vẫn ngại."
Ông Đảnh cười.
"Ngại mấy hôm rồi thôi."
"Vâng."
"Cô Miện."
"Dạ."
"Tháng giêng cô nhớ ra bàn tôi."
"Vâng. Ba chục nghìn."
"Ừ. Ba chục nghìn."
Tôi về tới nhà thì gần trưa.
Thằng Túc đang bổ củi ở sân.
"Mẹ đi đâu về?"
"Mẹ ra nhà văn hoá."
"Có việc gì hả mẹ?"
"Phát thưởng khuyến học."
"Nhà mình có ai được thưởng đâu."
"Bác Đảnh bảo mẹ ra."
Nó bổ nốt khúc củi, dựng rìu vào tường.
"Mẹ."
"Ừ."
"Mẹ mặc cái áo con mua."
"Ừ."
"Sao hôm nay mẹ mặc?"
"Mẹ bảo là để hôm nào có việc mẹ mới mặc."
"Hôm nay có việc gì?"
Tôi treo cái nón lên vách.
"Không có việc gì con ạ."
Chiều hôm ấy cô Hoè ra nhà tôi, cầm quyển sổ nhỏ.
"Chị Miện, em ra xin lỗi chị."
"Cô có làm gì đâu."
"Hôm tháng chạp em ngồi bàn phát phong bì. Em nhìn thấy hết. Em không nói câu nào."
"Cô ngồi bàn, cô có việc của cô."
"Chị ơi." Cô Hoè ngồi xuống bậc thềm. "Lúc ấy em nghĩ là thôi, người ta tài trợ, mình nói ra thì sang năm người ta không về nữa, cả thôn thiệt."
"Cô nghĩ đúng đấy."
"Chị bảo em nghĩ đúng?"
"Ừ. Cô lo cho cả thôn thì cô nghĩ thế là đúng."
"Nhưng chị thì sao?"
"Tôi thì tôi có mất gì đâu. Tôi vẫn được thùng mì với hai trăm."
Cô Hoè ngồi im một lúc lâu.
"Chị Miện, năm sau chị vẫn nhận quà chứ?"
"Cô ghi tên tôi vào danh sách hộ khó khăn từ năm tôi mất anh Kỳ, đúng không?"
"Vâng, mười bốn năm rồi."
"Cô gạch tôi ra đi."
"Chị nói gì cơ?"
"Cô gạch tên tôi ra khỏi cái danh sách ấy."
"Chị Miện, chị đừng làm thế."
"Nhà tôi vẫn khó. Nhưng thằng Túc nó đi làm rồi, tháng nào nó cũng gửi về. Trong thôn còn mấy nhà khó hơn tôi."
"Chị nói tên đi em ghi."
"Nhà bà cụ Thời ở xóm dưới. Nhà chú Bảy có đứa con tật. Còn nhà nào nữa thì cô rành hơn tôi."
Cô Hoè cầm bút, không viết.
"Chị làm thế người ta lại bảo chị tự ái."
"Cô cứ để người ta bảo."
Gần tối thì có tiếng ô tô ngoài đầu ngõ.
Ngõ nhà tôi hẹp, ô tô không vào được. Bà Chiêng đi bộ vào, một mình, không có cậu Vũ.
Bà xách một cái túi.
"Bác Miện."
"Cô Chiêng."
"Cháu vào được không ạ?"
"Cô vào đi."
Bà bước qua cái ngưỡng cửa xi măng. Nhà tôi có ba gian, gian giữa kê cái bàn với hai cái ghế gỗ.
"Cô ngồi."
"Vâng."
Bà đặt cái túi lên bàn.
"Cháu mang biếu bác."
"Cô mang về đi."
"Bác chưa xem mà."
"Tôi không cần xem."
Bà Chiêng để tay lên cái túi.
"Bác Miện, cháu không phải mang sang để chuộc lỗi."
"Vậy cô mang sang để làm gì?"
"Cháu cũng không biết ạ."
Tôi rót nước ra hai cái chén.
"Cô uống nước."
Bà cầm chén nước lên, không uống.
"Từ trưa tới giờ cháu nghĩ mãi một chuyện. Nếu hôm nay bác Đảnh không mở cái sổ ra, thì cả đời cháu không biết."
"Vâng."
"Cháu vẫn sẽ về đây phát quà. Vẫn sẽ bắt người ta đứng chụp. Vẫn sẽ nói cái câu ấy. Mà cháu sẽ không thấy có gì sai cả."
Tôi ngồi xuống ghế đối diện.
"Cô Chiêng, cái ba triệu cô đóng vào quỹ hôm mười hai tháng chạp, ai bảo cô đóng?"
Bà Chiêng đặt chén nước xuống.
"Không ai bảo cả."
"Vậy sao cô đóng?"
"Vì hôm mười ba cháu hẹn cậu Vũ về quay. Cháu nghĩ là mình về quay mà mình chưa đóng đồng nào vào quỹ của thôn thì cũng kỳ."
"Vâng."
"Bác nghĩ cháu tệ lắm phải không ạ?"
"Không. Cô đóng ba triệu là ba triệu thật. Ba mươi hai cháu trong thôn được thưởng, trong đó có phần tiền của cô."
"Nhưng cháu đóng vì cái máy quay."
"Vâng. Nhưng bọn trẻ nó cầm quyển vở nó có hỏi đâu."
Bà Chiêng nhìn xuống mặt bàn.
"Bác Miện, cháu hỏi bác câu cuối rồi cháu về. Mười ba năm bác đóng ba chục nghìn một tháng, bác đóng vì cái gì?"
Tôi nghĩ khá lâu.
Ngoài sân, thằng Túc đang xếp củi vào góc.
"Năm hai nghìn mười ba thằng Túc nhà tôi vào lớp bốn. Cô giáo nó bảo tôi là cháu học được, chị cố cho cháu học."
"Vâng."
"Lúc ấy tôi không biết cố là cố thế nào. Nhà tôi chồng mất được một năm, tôi bán rau, một ngày lãi được bốn năm chục."
"Vâng."
"Rồi cuối năm đó thôn phát thưởng khuyến học. Thằng Túc nó được một quyển vở với cái bút. Nó cầm về nó để lên bàn thờ bố nó."
Bà Chiêng ngẩng lên.
"Nó bảo con để đây cho bố con xem."
Tôi cầm chén nước.
"Hôm sau tôi ra gặp bác Đảnh. Tôi bảo bác cho tôi đóng vào quỹ."
"Bác đóng cho con bác à?"
"Không. Thằng Túc nó được thưởng rồi. Nó không được thưởng nữa thì thôi."
"Vậy bác đóng cho ai?"
"Tôi cũng không biết cho ai. Tôi chỉ nghĩ là năm sau cũng có đứa nào đó nó cầm quyển vở về, nó để lên bàn thờ nhà nó."
Bà Chiêng không nói gì.
Bà ngồi thêm một lúc, rồi bà xách cái túi đứng dậy.
"Cháu về ạ."
"Vâng."
"Bác Miện."
"Dạ."
"Cháu xin phép sang năm cháu vẫn về thôn mình."
"Cô cứ về."
"Cháu vẫn quay ạ."
"Vâng."
"Nhưng cháu quay cái bàn của bác Đảnh."
Tôi tiễn bà ra tới đầu ngõ.
Cái ô tô đỗ dưới gốc tre, cậu Vũ ngồi trong xe, thấy chúng tôi thì mở cửa xuống.
"Bác ơi."
"Gì cháu?"
"Hôm nọ cháu... cháu chụp bác ba lần."
"Bác nhớ."
"Cháu xin lỗi bác."
"Cháu ăn tiền công người ta, cháu làm việc của cháu."
"Dạ."
"Nhưng cháu này."
"Dạ."
"Lần sau cháu chụp ai, cháu đừng bảo người ta là người ta trông không ra dáng."
Cậu Vũ cúi đầu.
"Dạ cháu nhớ."
Xe đi rồi, tôi đứng ở đầu ngõ một lúc.
Trời tối, gió tháng giêng còn lạnh.
Sáng hôm sau tôi vẫn dậy lúc bốn giờ.
Tôi cắt rau ở mảnh vườn sau nhà, bó lại, xếp vào hai cái sọt. Năm rưỡi tôi đạp xe ra chợ.
Bà Néo đã dọn hàng.
"Chị Miện, tôi hỏi thật. Chị có thấy nhẹ người không?"
Tôi xếp mẹt rau lên hai viên gạch.
"Nhẹ gì hả chị?"
"Thì cả thôn biết rồi. Người ta biết chị là người đóng quỹ nhiều nhất."
"Không phải nhiều nhất chị ạ. Ông Trạm đóng một lần năm triệu."
"Thì đều nhất. Chị có thấy nhẹ không?"
Tôi ngồi xuống cái ghế con.
"Nói thật với chị, hôm qua lúc bác Đảnh đọc, tôi chỉ mong có cái lỗ nào tôi chui xuống."
"Sao lại thế?"
"Tại tôi không muốn ai biết."
"Chị lạ nhỉ. Việc tốt mà."
"Không phải việc tốt chị ạ."
"Thế là gì?"
Tôi nhìn ra ngoài chợ. Trời hửng, mấy người đi làm đồng đã ra tới đầu đường.
"Là việc của tôi thôi."
Chín giờ tôi bán hết chỗ cải. Mười một giờ tôi thu mẹt, buộc hai cái sọt lên xe đạp.
Trên đường về, tôi đi ngang sân nhà văn hoá.
Ghế nhựa người ta xếp lại thành chồng, để dựa vào tường. Cái loa kéo đã trả về nhà ông Trạm. Băng rôn đỏ vẫn còn căng, một đầu tuột dây, phất phơ.
Ông Đảnh đang đứng ở sân, tay cầm cái ghế nhựa cuối cùng.
"Cô Miện."
"Bác Đảnh."
"Cô đi chợ về à?"
"Vâng."
"Bán được không?"
"Hết cải. Còn hành."
Ông đặt cái ghế lên chồng ghế.
"Cô Miện."
"Dạ."
"Tôi hỏi cô cái này."
"Bác hỏi ạ."
"Cô còn ngại không?"
Tôi đứng một chân chống xuống đất, một chân trên bàn đạp.
"Còn ạ."
"Ừ."
"Nhưng bác cứ giữ sổ."
Ông Đảnh cười.
"Tôi giữ chứ."
Tôi đạp xe về.
Hai cái sọt sau xe còn mấy bó hành. Cái nón mê đội trên đầu, vành vẫn rách, đội thẳng nó vẫn không đứng.
Chỗ tôi đứng chụp ảnh hôm tháng chạp, bây giờ chỉ là một khoảng xi măng, có vệt nước ai đó vừa rửa ghế.
Tôi đạp qua, không dừng lại.
Cái mà người ta đọc lên trước cả trăm người, mười ba năm nay tôi cứ tưởng là chuyện của riêng tôi với ông Đảnh và cuốn sổ.
Hoá ra nó là chuyện của cả cái thôn này. Chỉ có tôi là người sau cùng biết.
Tháng giêng năm nay tôi vẫn ra bàn ông Đảnh, vẫn ba chục nghìn.
Không phải vì hôm ấy người ta đọc tên tôi.
Mà vì trước hôm ấy mười ba năm, chưa ai đọc tên tôi cả, tôi vẫn cứ ra.


