
Bà cụ lẫn xách gùi lên rẫy hái măng lúc bốn giờ mười chiều — và bên kia sống núi trời đã mưa từ giữa trưa
Bà cụ tám mươi ba tuổi bước qua cái cổng tre lúc bốn giờ mười chiều, tay xách chiếc gùi mây đã mục một bên quai, đi lên hướng đồi để hái măng cho kịp phiên chợ sáng mai.
Trên đỉnh đồi, phía bên kia sống núi, một mảng mây màu chì đã nằm đó từ giữa trưa và đang dày lên.
Cái xóm ấy nằm dưới chân một dãy đồi thấp, ba mươi mấy nóc nhà, lưng dựa vào rừng keo trồng.
Từ sân nhà nhìn lên, người ta thấy ba tầng.
Tầng dưới cùng là ruộng bậc thang bỏ hoang, cỏ tranh cao ngang thắt lưng.
Tầng giữa là keo, trồng thành hàng thẳng, thân nhẵn, tán kín tới mức giữa trưa dưới gốc vẫn tối.
Tầng trên cùng là đồi trọc, chỉ có đá và sim, và đó là chỗ nắng tắt sau cùng mỗi ngày.
Giữa tầng keo và tầng đồi trọc có một khe cạn chạy vòng, lòng khe đầy đá cuội tròn, khô suốt mùa.
Người trong xóm gọi nó là khe Đá Trắng, và mùa này không ai xuống đó, vì dưới lòng khe không có gì cả.
Bốn mươi năm trước, chỗ ấy chưa có keo.
Bốn mươi năm trước, chỗ ấy là rẫy.
*
Căn nhà cuối xóm lợp tôn, tường xây nửa gạch nửa ván, có một cái sân đất nện phẳng.
Trong nhà kê hai cái giường.
Giường ngoài của bà.
Giường trong của đứa cháu gái.
Trên vách, cạnh bàn thờ, treo một cái lịch bloc đã bóc quá nửa, và bên cạnh cái lịch là một tờ giấy học trò dán bằng băng dính, chữ viết to bằng bút lông.
Trên tờ giấy có ba dòng.
Dòng thứ nhất: bà ơi bà đừng ra khỏi cổng.
Dòng thứ hai: cơm ở nồi, thuốc trong hộp nhựa xanh, uống sau cơm chiều.
Dòng thứ ba: cháu là Diệu, cháu đi làm, tối cháu về.
Tờ giấy ấy dán ở đó bảy tháng.
Bà cụ đọc nó mỗi ngày vài lần, đọc rất chăm chú, đọc như đọc lần đầu.
*
Diệu hai mươi tuổi.
Nó làm ở xưởng may trong khu công nghiệp cách xóm mười một cây số, đi bằng chiếc xe đạp điện mua lại của người cùng chuyền, pin chai, sạc bảy tiếng chạy được hai mươi tám cây.
Ca chiều của nó bắt đầu lúc hai giờ và kết thúc lúc mười giờ đêm.
Trước khi đi, nó làm đủ một chuỗi việc, ngày nào cũng chừng ấy việc, theo đúng một thứ tự.
Nó xới cơm ra cái đĩa sâu lòng, đậy lồng bàn.
Nó rót nước vào phích, vặn nắp.
Nó lấy hộp nhựa xanh trong tủ ra, mở nắp, đếm hai viên thuốc huyết áp bỏ vào cái nắp chai để sẵn cạnh phích.
Nó khoá cái cổng tre bằng một sợi dây thép xoắn ba vòng, xoắn từ phía ngoài.
Rồi nó dắt xe ra đường, ngoái lại nhìn một lần.
Sáu tháng đầu, cách ấy đủ.
*
Hôm ấy, ba giờ chiều, bà cụ thức dậy sau giấc ngủ trưa.
Bà ngồi trên mép giường một lúc, hai bàn chân đặt xuống nền xi măng, tìm dép.
Rồi bà nhìn ra cửa.
Nắng ngoài sân đã ngả, đổ bóng cái cột hiên nằm xiên trên nền đất.
Bà cụ nhìn cái bóng ấy rất lâu, và trong đầu bà, cái bóng ấy nói một điều rất rõ ràng.
Nó nói rằng đã quá giờ.
Măng phải hái buổi chiều, luộc qua đêm, sáng gánh ra chợ mới kịp phiên.
Bà cụ đứng lên.
*
Bà mặc thêm một cái áo cánh mỏng màu nâu ra ngoài áo đang mặc.
Bà không lấy áo len, vì trong trí nhớ của bà bây giờ đang là tháng bảy, và tháng bảy thì trời oi tới tận khuya.
Bà lấy cái gùi mây treo ở vách bếp xuống.
Cái gùi ấy bà đan từ hồi con gái, đáy đã thủng một lỗ bằng nắm tay, quai bên trái nối bằng dây dù.
Bà xỏ tay vào quai, thử, rồi lại xách ở tay cho nhẹ.
Bà không cầm theo dao quắm, vì cái dao đó Diệu đã cất lên xà nhà từ mùa trước.
Bà đi ra sân, tới cái cổng tre.
Sợi dây thép xoắn ba vòng nằm ở phía ngoài, ngang tầm ngực.
Bà cụ luồn bàn tay qua khe hai thanh tre, tháo dây.
Bà tháo rất chậm, và bà tháo được, vì tay bà là tay của người đã buộc và tháo hàng vạn cái nút trong đời mình.
*
Trên đường xóm không có ai.
Bốn giờ chiều là giờ chết của xóm: người lớn đi làm, trẻ con chưa tan học, mấy nhà còn lại thì đóng cửa ngủ.
Có một con chó nằm dưới gốc mít, ngẩng đầu nhìn bà cụ đi qua, rồi lại gục xuống.
Bà cụ đi hết đường xóm, rẽ trái ở chỗ cây gạo cụt ngọn, và bắt đầu lên dốc.
Bà đi không nhanh nhưng đều, hai đầu gối hơi khuỵu ở mỗi bước xuống, kiểu bước của người gánh nặng suốt bốn chục năm.
Bà biết đường.
Bà biết rất rõ đường.
Trong đầu bà, hết dốc này thì tới cái ngã ba có bụi tre gai, rẽ phải qua ba thửa rẫy nhà ông Bảy, rồi men theo bờ đá tới rẫy nhà mình.
Rẫy nhà mình có hai cây mít và một cái chòi.
Măng thì mọc ở mé sau chòi, chỗ bụi tre lồ ô.
*
Bụi tre gai ở ngã ba đã bị chặt từ năm nào không ai nhớ.
Chỗ đó bây giờ là một cái trụ điện hạ thế bằng bê tông và một đống cành keo khô người ta gom lại chưa đốt.
Bà cụ đứng ở đó chừng nửa phút.
Rồi bà rẽ phải.
Bà rẽ phải vì bốn mươi năm trước, ở đây, phải là rẽ phải.
*
Diệu vào chuyền lúc hai giờ.
Chuyền của nó may cổ áo sơ mi, mỗi ngày ba trăm hai mươi cái, và người tổ trưởng dán một tờ giấy đếm ở đầu chuyền.
Bốn giờ mười lăm, điện thoại của nó rung trong túi tạp dề.
Máy để chế độ rung, và trong tiếng máy may thì rung cũng như không.
Nó không biết.
Người gọi là bà Ngát hàng xóm, gọi hai lần, rồi thôi.
Bà Ngát gọi vì lúc bốn giờ mười hai bà đi ra vườn sau và bà nhìn thấy cái cổng tre nhà Diệu mở toang, sợi dây thép còn treo lủng lẳng ở một bên.
Bà Ngát vào nhà, gọi hai tiếng, không có ai thưa.
Bà nhìn thấy đĩa cơm còn nguyên dưới lồng bàn.
Bà nhìn thấy hai viên thuốc huyết áp vẫn nằm trong cái nắp chai cạnh phích.
*
Bà cụ đi hết ba thửa rẫy nhà ông Bảy trong đầu mình, và bà đi ra tới bìa rừng keo.
Rừng keo trồng dày, hàng cách hàng hai mét, và giữa các hàng có lối đi của người tỉa cành.
Bà cụ đi vào một trong những lối đó.
Dưới tán keo, ánh sáng đổi màu.
Nó không tối hẳn, nó chỉ xanh đi, và mọi khoảng cách trở nên giống nhau.
Bà đi chừng ba trăm bước.
Rồi bà dừng lại, vì phía trước không còn lối.
Hàng keo ở đó bị đổ một mảng do gió năm ngoái, thân cây gãy nằm chồng lên nhau thành một mớ, cành khô chĩa ra tua tủa.
Bà cụ nhìn mớ cành ấy.
Trong đầu bà, chỗ này lẽ ra là bờ đá.
Bà đi vòng sang trái để tìm bờ đá.
*
Năm giờ kém mười, bà Ngát ra đứng ở đầu đường xóm và hỏi người đầu tiên đi qua.
Người đó là ông Chấp, đi xe máy chở hai bao cám.
"Ông có thấy bà cụ nhà con Diệu đi đâu không."
"Không. Sao vậy."
"Cổng mở, người không có trong nhà."
"Bà ngó trong buồng chưa."
"Ngó rồi. Ngó cả bếp, cả chuồng gà."
"Hay bả qua nhà nào ngồi chơi."
"Bà ấy có biết nhà ai đâu mà qua."
"Vậy đi hồi nào."
"Tôi thấy cổng mở lúc bốn giờ mười hai."
"Bốn giờ mười hai là mấy tiếng rồi."
"Gần một tiếng."
Ông Chấp dựng xe ngay giữa đường, không tắt máy.
Ông đi vào sân nhà Diệu, đứng nhìn quanh một vòng, rồi đi ra.
"Bà xuống cuối xóm hỏi mấy nhà kia coi. Tôi chạy lên trên."
"Trên nào."
"Trên dốc."
"Bà ấy tám mươi mấy, đi sao nổi lên dốc."
"Bà nói cho tôi nghe coi, đôi dép của bả còn trong nhà không."
"Không có."
"Vậy thì đi nổi."
Ông Chấp lên xe, quay đầu, chạy ngược lên phía cây gạo cụt ngọn.
Ông chạy tới chỗ dốc bắt đầu thì dừng lại, tắt máy, và ông đứng nghe.
Trên đồi không có tiếng gì.
Ông ngẩng lên nhìn đỉnh.
Mảng mây chì đã nuốt hết cái đỉnh, và dưới bụng mây có một vệt xám kéo dài xuống, thứ vệt mà người ở chân đồi ai cũng đọc được.
Bên kia sống núi trời đang mưa.
*
Trong rừng keo, bà cụ tìm bờ đá.
Bà đi vòng sang trái, rồi vòng thêm, và sau chừng hai trăm bước bà tới một chỗ đất trống.
Chỗ trống ấy có một cái gốc cây to bị cưa ngang, mặt cắt đã mục thành mùn.
Bà cụ đặt cái gùi xuống, ngồi lên gốc cây, và bà thở.
Bà thở bằng cả vai, mỗi hơi kéo dài, và giữa hai hơi có một quãng ngừng.
Bà đưa tay lên ngực áo, ấn xuống, giữ ở đó một lúc.
Rồi bà bỏ tay ra.
Bà nhìn quanh chỗ đất trống.
Bà thấy keo, keo, và keo.
Trong đầu bà, chỗ này là rẫy mía nhà ông Bảy, và hết rẫy mía thì nhìn xuống sẽ thấy nóc nhà mình.
Bà đứng lên, xách gùi, và đi tiếp về hướng bà tin là hướng xuống.
Hướng ấy đi lên.
*
Diệu tan ca sớm.
Nó không tan ca.
Người tổ trưởng gọi nó ra khỏi chuyền lúc năm giờ mười, cầm điện thoại của chính bà ta đưa cho nó, vì máy Diệu đã reo tám cuộc trong tạp dề mà nó không nghe.
Diệu áp máy vào tai, đứng giữa lối đi giữa hai dãy máy may.
Nó nghe được chừng mười giây.
Rồi nó đưa trả cái máy, cởi tạp dề, vắt lên lưng ghế.
"Chị ơi em xin về."
"Về là về luôn hả."
"Bà em đi lạc."
"Lạc là sao. Bà em bao nhiêu tuổi."
"Tám mươi ba."
"Đi một mình hả."
"Dạ."
"Nhà em có ai ở nhà không."
"Không có ai hết."
"Em còn hai trăm cái."
"Em xin chị."
Người tổ trưởng nhìn nó ba giây.
"Đi đi. Mà em nghe chị nói cái này."
Diệu đã quay đi được hai bước.
"Tháng này em nghỉ giữa ca lần thứ ba rồi đó."
*
Diệu ra bãi xe, mở khoá, và nó nhìn cái đồng hồ nhỏ trên tay lái.
Năm giờ mười bốn.
Pin xe còn hai vạch trên năm.
Mười một cây số.
Nó tính rất nhanh và nó ra được con số: đủ về, không đủ đi thêm.
Nó đạp chân chống lên và chạy.
Đường từ khu công nghiệp về xóm có một đoạn dài bốn cây chạy dọc kênh, gió tạt ngang, và chiếc xe điện chở một người nhẹ như nó thì bị gió đẩy lệch.
Nó cúi thấp người xuống, bấm ga hết cỡ.
Trên trời phía trước mặt, đỉnh đồi của xóm nó đã không còn nhìn thấy nữa.
Chỉ còn một khối xám nuốt lấy chỗ lẽ ra là đỉnh.
*
Bà cụ đi lên, và đất dưới chân bà đổi.
Từ đất mềm phủ lá keo, nó thành đất lẫn sỏi.
Rồi thành đá.
Rồi hết keo.
Bà cụ bước ra khỏi rừng keo và đứng trên tầng đồi trọc.
Ở đây gió mạnh hơn hẳn, thổi một chiều, thổi từ phía bên kia sống núi sang, và gió mang theo một thứ mùi.
Mùi đất ướt.
Bà cụ hít vào, và bà nhận ra cái mùi ấy, vì bà đã ngửi nó suốt sáu mươi mùa.
Trong đầu bà, cái mùi ấy có nghĩa là mai trời mát, măng lên nhiều.
Bà đi ngang qua tầng đồi trọc, tìm chỗ xuống.
Ở mé bên kia, đất hụt xuống thành một cái dốc đá, và dưới chân dốc là lòng khe Đá Trắng.
Bà cụ nhìn xuống lòng khe.
Bà nhận ra nó.
*
Đây là chỗ duy nhất trên cả sườn đồi mà bốn mươi năm không đổi.
Đá cuội tròn, trắng, xếp thành một dải chạy vòng theo chân đồi.
Ngày trước, đi làm rẫy về, người ta đi trong lòng khe cho mát chân và cho đỡ vướng cỏ tranh.
Đi trong lòng khe chừng nửa tiếng thì tới cái vũng, và qua vũng thì có lối rẽ lên bờ, và lên bờ là về tới xóm.
Bà cụ đứng trên miệng dốc đá, nhìn xuống, và lần đầu tiên trong cả buổi chiều, khuôn mặt bà giãn ra.
Bà đã tìm được đường về.
Bà ngồi xuống, chống một tay, và bà tụt xuống dốc đá bằng mông, từng nấc một, đúng cái cách người đàn bà bốn mươi tuổi vẫn tụt xuống đó với gánh măng trên vai.
Cái gùi mây tuột khỏi tay bà ở nấc thứ ba, lăn xuống trước, nằm nghiêng dưới lòng khe.
*
Sáu giờ kém mười lăm.
Diệu về tới đầu xóm.
Trước sân nhà nó có bốn người đứng: bà Ngát, ông Chấp, vợ ông Chấp, và một người đàn ông tên Hoành làm nghề cưa keo thuê.
Diệu dựng xe, không khoá, chạy vào nhà.
Nó nhìn giường ngoài.
Chăn gấp vuông ở đầu giường, không có ai.
Nó nhìn vách bếp.
Chỗ treo cái gùi mây trống trơn, chỉ còn cái đinh và một vệt sạm hình tròn trên vách.
Diệu chạy ngược ra sân.
"Cái gùi mây."
"Sao con."
"Bà lấy cái gùi đi rồi."
*
Bốn người đứng ngoài sân nhìn nhau.
Ông Hoành là người nói trước.
"Vậy là bả đi hái măng."
"Măng gì bây giờ."
"Không phải bây giờ. Là hồi xưa."
"Sao chú biết."
"Đàn bà đi chơi thì không xách gùi. Xách gùi là đi làm."
"Bà em có nói gì đâu."
"Bả nói với bả. Con đâu có nghe được."
Ông Hoành làm cưa keo trên đồi này tám năm, và ông biết rõ một điều mà mấy người kia không nghĩ ra ngay.
"Trên đó bây giờ không có măng. Cả cái sườn đó trồng keo hết rồi, từ hồi tôi chưa vô làm."
"Vậy bả lên đó làm gì."
"Bả không biết là không có."
"Rồi lên tới nơi không thấy măng thì bà quay về chứ chú."
"Về đường nào."
"Đường bà đi lên."
"Con nhỏ này. Đường bả đi lên là đường trong đầu bả. Ngoài đồi làm gì có đường đó."
Diệu không nói lại câu nào.
"Bả không quay về đâu. Bả đi tìm cho ra cái rẫy."
Diệu đứng dựa vào cột hiên.
Nó nhìn lên đồi.
Đỉnh đồi lúc này không còn phân biệt được với trời.
*
Ông Chấp ngẩng lên, nheo mắt, rồi ông nói một câu và không ai đáp lại.
"Bên kia mưa lâu rồi đó."
Bốn người cùng nhìn về hướng sống núi.
Vệt xám dưới bụng mây đã chuyển thành một bức màn liền, và bức màn ấy phủ kín cả sườn bên kia.
Ông Hoành quay sang Diệu.
"Bà nội con hồi trẻ đi rẫy đường nào."
"Con không biết."
"Con không biết thiệt hả."
"Bà kể hoài mà con không nhớ."
Diệu nói câu đó rồi nó im, và nó đứng thẳng người lên khỏi cái cột.
"Bà kể có bụi tre gai. Bà kể rẫy nhà mình có hai cây mít."
Ông Hoành gật đầu một cái.
"Bụi tre gai ở ngã ba. Chặt lâu rồi. Mà rẫy hai cây mít thì tôi biết chỗ."
"Chỗ nào chú."
"Chỗ đó bây giờ là lô keo số bốn."
"Xa không chú."
"Đi thẳng thì bốn chục phút. Mà bả không đi thẳng."
"Bà đi vòng hả chú."
"Bả đi theo cái bờ đá không còn nữa. Đi theo cái không còn thì đi tới đâu cũng được."
Vợ ông Chấp đứng cạnh đó, hai tay ôm lấy khuỷu tay mình.
"Trời sắp tối rồi mấy người."
"Tôi biết."
"Kêu thêm người đi."
"Kêu rồi."
*
Sáu người lên đồi lúc sáu giờ.
Ông Hoành đi đầu, cầm một cái đèn pin đội đầu và một con dao quắm.
Ông Chấp và hai người nữa mới tới, mỗi người một đèn pin cầm tay.
Bà Ngát ở lại xóm, đứng ở sân nhà Diệu, để hễ bà cụ mò về thì có người.
Diệu đi thứ hai, sau ông Hoành.
Nó không có đèn pin.
Nó cầm điện thoại của nó, bật đèn màn hình, và pin máy là hai mươi hai phần trăm.
Tới chỗ cây gạo cụt ngọn, ông Hoành dừng lại, và ông chia người.
"Hai chú theo lối tỉa cành lô ba, đi ngang. Tôi với con nhỏ này đi lô bốn."
"Còn ông Chấp."
"Ông chạy xe vòng đường mòn dưới chân, tới chỗ cống, đứng đó soi lên. Bả mà xuống được thì xuống chỗ đó."
*
Bảy giờ kém hai mươi, ánh sáng còn lại trên đồi rút về một dải.
Dải ấy nằm vắt ngang tầng đồi trọc, cao nhất, và mỗi phút nó lại hẹp đi.
Ở tầng keo bên dưới, trời đã tối hẳn.
Diệu đi sau ông Hoành, bước vào chân người đi trước, và nó gọi.
Nó gọi bà, ba tiếng một, cách quãng đều.
Tiếng gọi đi vào giữa các hàng keo và bị nuốt sau hai chục mét, vì thân keo dày và tán keo kín.
Ông Hoành bảo nó gọi ngắn hơn và to hơn.
Nó gọi ngắn hơn và to hơn.
Được nửa tiếng thì giọng nó bắt đầu vỡ ở cuối mỗi tiếng.
*
Bà cụ ngồi trong lòng khe Đá Trắng.
Bà đã đi được chừng hai trăm mét dọc lòng khe, và bà ngồi xuống nghỉ trên một hòn đá to bằng cái nong.
Cái gùi mây bà đặt cạnh chân.
Trong gùi không có gì.
Bà cụ ngồi, hai bàn tay đặt trên đùi, và bà nhìn dọc lòng khe về phía trước.
Trời tối, nhưng đá cuội trong lòng khe thì trắng, và cái dải trắng ấy vẫn nhìn thấy được, chạy vòng đi và mất hút ở chỗ khe uốn.
Bà cụ nhìn cái dải trắng đó và bà biết mình đang ở đâu.
Đây là đường về.
Bà chỉ cần nghỉ một lát.
*
Cái lạnh xuống theo sương.
Sương ở đây không tới từ trên trời.
Nó dâng lên từ lòng khe, từ chỗ đá tiếp đất, mỏng như khói, và nó dâng rất chậm, chậm tới mức người ngồi trong đó không biết mình đang chìm dần vào nó.
Đầu tiên nó phủ ngang mắt cá chân bà cụ.
Rồi nó phủ tới đầu gối.
Cái áo cánh mỏng màu nâu bắt hơi nước, và nó nặng dần, và nó dính vào lưng bà.
Bà cụ đưa hai tay ôm lấy hai cánh tay mình.
Bà làm động tác ấy mà không nghĩ tới nó.
Cách chỗ bà ngồi tám cây số về phía thượng nguồn, ở bên kia sống núi, mưa đã rơi liên tục hai tiếng bốn mươi phút trên một lưu vực rộng.
Nước từ đó không đi đâu khác được.
Nó đi vào những cái khe.
*
Ông Hoành dừng lại ở lô keo số bốn, chỗ mảng cây đổ do gió.
Ông soi đèn xuống đất, đi chậm, và ông đi hai vòng.
Vòng thứ hai, ông ngồi thụp xuống.
"Con lại đây."
Diệu chạy tới.
Ông Hoành chiếu đèn vào một chỗ đất mềm giữa hai gốc keo.
Trên đó có một vết lõm dài, mờ, in hình một bàn chân đi dép nhựa, mũi hướng lên dốc.
"Của bà hả chú."
"Của người già. Người già đi thì gót lún trước, mũi nhẹ. Con coi cái gót nó sâu hơn."
"Mới hay cũ hả chú."
"Mới. Đất còn tơi, chưa se mặt."
"Bà đi qua đây hồi nào."
"Chừng hai tiếng. Không hơn."
Diệu quỳ xuống, đưa tay ra, nhưng không chạm vào vết chân.
Nó ngước lên nhìn hướng mũi bàn chân.
Hướng ấy là hướng lên.
*
"Sao bà lại đi lên."
Ông Hoành không trả lời ngay.
Ông đứng dậy, tắt đèn pin, và ông đứng trong bóng tối chừng năm giây để mắt quen.
Rồi ông chỉ tay lên, về phía tầng đồi trọc, nơi dải sáng cuối cùng còn sót lại một vệt bằng ngón tay.
"Tại bả không đi lên. Bả đang đi về."
"Đi về mà đi lên hả chú."
"Hồi trước từ rẫy về xóm, người ta không đi đường mình đang đi. Người ta đi vòng qua trên kia rồi tuột xuống khe."
Diệu đứng im.
"Xuống khe rồi đi trong khe về tới cống, lên bờ là tới xóm."
"Vậy giờ bà ở dưới khe."
Ông Hoành bật đèn lên và ông bắt đầu đi nhanh.
"Nếu bả nhớ tới đó thì bả ở dưới khe."
"Sao bà nhớ được cái khe mà không nhớ con."
"Cái khe nó nằm trong đầu bả lâu hơn con."
Diệu đi theo, hai tay vén cành.
"Chú ơi dưới khe có nước rồi phải không."
"Có."
"Nhiều không chú."
"Con đừng hỏi cái đó."
*
Từ lô keo số bốn lên tầng đồi trọc mất hai mươi phút đi bộ của người khoẻ.
Ông Hoành đi trước, chặt cành ngáng đường bằng dao quắm, không nói.
Diệu đi sau, và đến giữa dốc thì nó bắt đầu không theo kịp.
Hai bắp chân nó cứng lại, và mỗi lần đặt chân xuống là một lần đau nhói ở bên hông trái.
Nó không dừng.
Nó chuyển sang bò bằng cả hai tay ở đoạn dốc cuối, bám vào rễ keo mà kéo mình lên.
Cái điện thoại trong túi áo nó rơi ra ở đoạn đó.
Nó nghe tiếng máy đập vào đá, và nó nghe tiếng máy trượt xuống dốc.
Nó không quay lại nhặt.
*
Lên tới tầng đồi trọc, gió tạt thẳng vào mặt hai người.
Ông Hoành đứng lại, xoay người một vòng, và ông soi đèn xuống mé bên kia.
Luồng đèn với xuống được chừng mười lăm mét rồi tan trong sương.
Ông tắt đèn.
"Nghe."
Hai người đứng im.
Gió đi qua đám sim, tạo một tiếng rào khô.
Dưới tiếng gió, còn một thứ tiếng nữa.
Nó rất nhỏ.
Nó không phải tiếng gió, vì tiếng gió lên xuống theo cơn, còn thứ tiếng này thì đều, không nghỉ.
Ông Hoành quay sang Diệu, và ông nói một câu, giọng bình thường, không to hơn lúc nãy.
"Nước về rồi."
*
Trong lòng khe, bà cụ nghe thấy tiếng đó trước hai người trên đỉnh chừng mười phút.
Bà nghe nó ở phía sau lưng, phía trên nguồn.
Trong đầu bà, tiếng nước chảy trong khe vào tháng bảy là một tin mừng.
Nó có nghĩa là năm nay không hạn.
Bà cụ đứng dậy khỏi hòn đá, xách cái gùi, và bà đi tiếp về phía cái dải đá trắng.
Bà đi chậm hơn lúc nãy nhiều.
Hai đầu gối bà không còn gập hết được, và bà phải đặt cả bàn chân xuống mỗi bước.
Đi được chừng ba chục bước, bà thấy dưới chân mình có nước.
Nước mỏng, lạnh, chảy luồn qua khe giữa những hòn cuội, chưa ngập hết mu bàn chân.
Bà cụ dừng lại, và bà cúi xuống nhìn.
Rồi bà làm một việc.
Bà cởi đôi dép nhựa ra, xách lên tay, và bà lội chân không, vì lội khe thì phải chân không mới bám được đá.
*
Ông Hoành chạy dọc mép tầng đồi trọc, tìm chỗ xuống.
Ông tìm được cái dốc đá và ông soi xuống.
Dưới chân dốc, ánh đèn chạm vào lòng khe, và lòng khe không còn trắng.
Nó đen và nó động.
"Ở đây có xuống được không chú."
"Xuống được. Mà xuống rồi đi ngược lên nguồn thì không được."
"Sao vậy."
"Nước nó xuống, mình đi lên, không kịp."
Ông Hoành ngồi xuống mép dốc, thở, và ông tính.
Ông tính bằng cách nhìn dọc lòng khe về phía hạ nguồn, ước quãng, rồi nhìn ngược lên nguồn.
"Bả xuống khe ở đâu đó trên kia. Bả đi xuôi về phía cống. Mình chặn ở cống thì gặp."
"Còn nếu bà ngồi lại."
Ông Hoành không đáp câu đó.
Ông đứng lên và bắt đầu chạy dọc theo mép khe về phía hạ nguồn.
*
Nước trong khe Đá Trắng lên không giống nước sông.
Nó không dâng đều.
Nó tới thành từng đợt, mỗi đợt đẩy một lớp lá mục và cành khô đi trước, và giữa hai đợt thì mặt nước lại rút xuống một chút, đủ để người đứng trong đó tưởng là nó đang cạn đi.
Đợt thứ nhất tới chỗ bà cụ lúc bà đi được chừng năm chục bước chân không.
Nó ngập tới mắt cá.
Đợt thứ hai tới sau đó chừng bốn phút.
Nó ngập tới giữa bắp chân, và nó có sức đẩy.
Bà cụ khựng lại, xoay ngang người, và bà chống cái gùi mây xuống lòng khe làm gậy.
Cái gùi mềm, nó bẹp xuống dưới sức nặng của bà, nhưng nó chạm đáy và nó đủ để bà đứng vững.
Bà cụ đứng như thế, một tay chống gùi, một tay xách đôi dép, cho tới khi đợt nước đi qua.
*
Ở dưới chân đồi, chỗ cống, ông Chấp dựng xe máy ngang đường mòn và bật đèn pha.
Luồng đèn pha chiếu thẳng vào miệng cống, một cái ống bê tông tròn to bằng thân người, chỗ khe Đá Trắng chui qua đường mòn để đổ ra ruộng.
Lúc ông tới, trong cống khô.
Bảy giờ hai mươi, trong cống có nước, cao chừng một gang.
Bảy giờ ba mươi lăm, nước trong cống đã lên quá nửa ống, và nó chảy ra ngoài ruộng thành một tiếng ù liên tục.
Ông Chấp đứng ở miệng cống, soi đèn pin ngược vào trong lòng khe.
Ông soi được chừng ba chục mét.
Ông gọi.
Ông gọi bằng tất cả sức của mình, gọi tên bà cụ theo cách người trong xóm vẫn gọi, và tiếng ông đi vào lòng khe rồi dội lại chính vào mặt ông.
Không có gì đáp.
Ông rút điện thoại, gọi cho vợ ở nhà.
"Bà kêu thêm người. Kêu hết. Nước lên cống rồi."
"Kêu bao nhiêu."
"Bao nhiêu cũng được. Kêu cả xóm dưới."
"Rồi bảo người ta mang gì."
"Đèn. Với dây thừng. Dây dài."
"Có thấy bà cụ chưa ông."
"Chưa."
"Trời ơi."
"Bà cứ kêu người đi. Đừng nói câu đó nữa."
*
Bà cụ không xuống tới cống.
Bà không xuống được, vì ở khúc khe uốn, chỗ dải đá trắng mất hút, lòng khe hẹp lại còn bằng nửa và hai bên là vách đất dựng.
Ở chỗ hẹp ấy nước chảy nhanh gấp đôi.
Bà cụ đứng ở đầu khúc hẹp, chống gùi, nhìn vào.
Rồi bà lùi lại.
Bà lùi ba bước, rồi bà quay người, đi ngược lên chừng chục bước, tới chỗ có một tảng đá lớn nhô lên giữa lòng khe.
Tảng đá ấy cao hơn mặt nước lúc này chừng hai gang.
Bà cụ bám hai tay lên mặt đá, và bà trèo lên.
Bà trèo hết ba lần mới lên được, và ở lần thứ hai, bàn chân trái bà trượt trên rêu, và cạnh đá cứa vào mặt ngoài bàn chân một đường.
Bà không nhìn cái vết đó.
Bà ngồi lên tảng đá, kéo hai chân lên, và bà ôm cái gùi mây vào lòng.
*
Tám giờ.
Trên đồi có bảy cái đèn pin.
Số người trong xóm lên đồi đã thành mười một, vì bà Ngát gọi được thêm mấy nhà ở xóm dưới.
Họ chia làm hai tốp.
Tốp thứ nhất đi men mép khe phía trên nguồn, soi xuống.
Tốp thứ hai ở dưới cống với ông Chấp.
Diệu đi với tốp thứ nhất, sau ông Hoành.
Nó đi chân trần từ đoạn dốc đá, vì một chiếc dép của nó đã tuột ở đó và nó không tìm lại được trong tối.
Ông Hoành soi đèn xuống lòng khe, đi ba chục bước lại dừng, tắt đèn, nghe, rồi bật lại.
Cứ như thế mười một lần.
Lần thứ mười hai, ông tắt đèn và ông không bật lại ngay.
Trong bóng tối ấy, Diệu nghe thấy một thứ tiếng lẫn trong tiếng nước.
Nó không phải tiếng người.
Nó là tiếng gõ.
*
Tiếng gõ đi thành từng chuỗi ba tiếng, ngừng, rồi lại ba tiếng.
Nó rất nhỏ và nó chìm hẳn mỗi khi có một đợt nước đi qua.
Ông Hoành xoay đầu hai lần để định hướng.
Rồi ông chỉ tay xuống, chếch về phía hạ nguồn.
"Dưới kia."
Hai người tụt xuống mép khe bằng cách bám rễ cỏ tranh, trượt hết một quãng vách đất, và họ rơi xuống lòng khe ở chỗ nước ngập ngang bắp chân.
Ông Hoành đi trước, một tay cầm đèn, một tay dò vách đá.
Đi được chừng bốn chục mét, luồng đèn của ông chạm vào một khối tối nhô lên giữa dòng.
Trên khối tối ấy có một cái bóng người ngồi co, và cái bóng ấy đang cầm một hòn cuội gõ vào mặt đá.
*
Bà cụ ngừng gõ khi ánh đèn chạm vào mặt bà.
Bà đưa một tay lên che mắt.
Diệu lội tới trước ông Hoành.
Nước ăn tới trên đầu gối nó và đẩy ngang, và nó phải nghiêng người về phía thượng nguồn để đứng.
Nó tới sát tảng đá, đưa hai tay lên.
"Bà."
Bà cụ bỏ tay che mắt xuống, nhìn nó.
Bà nhìn rất lâu, và trong cái nhìn ấy không có chỗ nào là nhận ra.
"Cô là ai."
"Con là Diệu."
"Diệu nào."
Diệu đứng trong nước, hai tay vẫn giơ lên.
"Con là cháu bà."
"Cháu bà nào."
"Cháu bà. Con ở với bà."
"Tôi ở một mình."
"Bà ơi bà đưa tay cho con."
"Cô đứng đó chi. Nước nó cuốn."
"Bà đưa tay cho con cái đã."
Bà cụ nhìn xuống mặt nó, rồi nhìn xuống hai bàn tay nó, rồi nhìn ra dòng nước quanh chân nó.
Rồi bà cụ nói một câu khác hẳn.
"Nước lớn rồi. Cô lội ra làm chi. Lên đây."
*
Ông Hoành lội tới, đứng cạnh Diệu.
Ông không trèo lên đá.
Ông đứng dưới, ngửa mặt lên, và ông nói to, nói chậm, nói từng cụm ngắn.
"Bà ơi. Con là thằng Hoành cưa keo. Con đưa bà về nhà."
"Về đâu."
"Về xóm mình."
"Đường về ở đằng kia."
Bà cụ chỉ tay xuống khúc khe hẹp, chỗ nước đang xối trắng.
"Đi trong khe tới cống là tới."
Ông Hoành nhìn theo tay bà chỉ.
"Đúng rồi bà. Mà bữa nay khe có nước. Mình đi trên bờ."
"Trên bờ cỏ tranh cắt chân."
"Cỏ tranh người ta dọn hết rồi bà."
"Dọn hồi nào."
"Dọn lâu rồi. Con dọn."
"Cậu dọn thiệt hả."
"Con cưa keo trên này tám năm, bà. Con dọn thiệt."
Bà cụ im.
Bà nhìn ông Hoành, và bà nhìn cái dao quắm giắt sau lưng ông.
Rồi bà gật đầu.
*
Đưa bà cụ xuống khỏi tảng đá mất mười phút.
Ông Hoành đứng dưới nước, dang hai tay, và bà cụ tụt xuống bằng cách xoay người úp vào mặt đá.
Chân bà chạm nước, và bà rụt lên.
Nước bây giờ đã lên tới ngang đùi ông Hoành.
Ông cõng bà.
Bà cụ vòng hai tay qua cổ ông, và một tay bà vẫn giữ cái quai gùi mây.
Diệu đi bên cạnh, một tay đỡ lưng bà, một tay bám vào vai ông Hoành để khỏi bị nước đẩy.
Ba người đi ngược dòng chừng hai chục mét, tới chỗ vách đất thấp nhất.
Ở đó có mấy người tốp trên đã thả xuống một sợi dây thừng buộc quanh gốc keo.
*
Người ta kéo bà cụ lên bờ bằng sợi dây thừng ấy, có hai người ghì ở trên và ông Hoành đẩy ở dưới.
Lên tới bờ, bà cụ được đặt ngồi trên một mảnh áo mưa trải xuống đất.
Có người cởi áo khoác trùm lên vai bà.
Có người rót nước nóng trong bình giữ nhiệt ra nắp cốc, đưa tới.
Bà cụ cầm cái nắp cốc bằng hai tay, và hai bàn tay bà run tới mức nước sánh ra ngoài.
Người ta phải giữ giúp bà.
Bà uống được ba ngụm.
Rồi bà đặt cốc xuống, và bà quay đầu tìm cái gùi mây.
Cái gùi nằm cạnh chân bà.
Bà kéo nó lại gần, đặt lên đùi, và bà giữ tay trên đó.
*
Diệu ngồi thụp xuống bên cạnh bà, trên đất ướt.
Nó thở dốc, cả người run, và tóc nó dính bết vào cổ.
Nó không nói gì trong một lúc lâu.
Rồi nó đưa tay ra, và nó nắm lấy bàn chân trái của bà cụ, cái bàn chân có vết cứa ở mặt ngoài.
Nó nắm rất nhẹ.
Bà cụ nhìn xuống, thấy một cô gái trẻ đang ngồi dưới đất ôm bàn chân mình.
Bà cụ đưa bàn tay còn lại lên, đặt lên đầu cô gái ấy, và bà vuốt tóc.
"Con gái nhà ai mà tối rồi còn lên rẫy."
Diệu cúi gằm mặt xuống.
Nó không đáp.
Bà cụ vuốt tóc nó thêm mấy cái nữa.
"Tóc ướt hết trơn rồi nè."
"Dạ."
"Chân con đâu, dép con đâu."
"Con rớt mất một chiếc."
"Rớt ở đâu."
"Ở trên dốc."
"Mai sáng đi kiếm. Đừng kiếm ban đêm."
"Dạ."
"Về đi con. Sương xuống rồi."
*
Người ta khiêng bà cụ xuống bằng một cái võng buộc vào hai đòn tre, đi hết bốn mươi phút.
Về tới sân nhà, đèn trong nhà đã bật hết.
Bà Ngát nấu sẵn một nồi nước gừng.
Người ta thay quần áo khô cho bà cụ, đắp chăn, và cho bà uống hai viên thuốc huyết áp đã nằm trong cái nắp chai từ hai giờ chiều.
Bà cụ nằm được một lúc thì ngủ.
Bà ngủ với một tay đặt lên cái gùi mây để cạnh gối.
Ngoài sân, mười mấy người đàn ông ngồi hút thuốc trên bậc thềm và trên xe máy dựng.
Không ai về ngay.
Họ ngồi tới gần mười một giờ, nói chuyện lặt vặt, và cứ một lúc lại có người ngoái nhìn vào trong buồng.
*
Sáng hôm sau, nước trong khe Đá Trắng đã rút hết.
Lòng khe lại trắng như cũ, chỉ khác là trên dải cuội có một lớp cành khô và lá mục dạt thành vệt, vắt ngang, cao hơn mặt đá chừng hơn nửa mét.
Ông Hoành đi lên đó lúc bảy giờ.
Ông đứng ở chỗ tảng đá bà cụ ngồi đêm qua và ông ước lượng bằng mắt.
Cái vệt rác dạt nằm cao hơn mặt tảng đá đúng một gang tay.
Ông đứng ở đó chừng hai phút.
Rồi ông đi xuống, và ông không kể chuyện đó cho Diệu.
*
Ba hôm sau, người ta đóng cho cái cổng tre một cái then mới.
Then gỗ, cài ở phía ngoài, thấp, ngang tầm đầu gối.
Ông Hoành làm cái then đó, và ông làm nó thấp có chủ ý.
"Cài thấp thì bà không cúi xuống được."
"Bà cúi được mà chú."
"Cúi được nhưng cúi lâu là chóng mặt. Chóng mặt thì bà bỏ."
"Sao chú không làm cái khoá."
"Khoá thì phải giấu chìa. Giấu chìa là có ngày con quên."
"Con không quên đâu."
"Ai cũng nói vậy hết."
Diệu đứng nhìn cái then một lúc.
Rồi nó gật đầu.
Từ hôm đó, cái cổng tre nhà nó có một cái then mà chính người trong nhà phải cúi gập người mới mở được.
*
Diệu nghỉ việc ở xưởng may.
Nó không bị đuổi.
Nó tự lên xin nghỉ vào sáng thứ hai, và người tổ trưởng ký giấy cho nó, không hỏi thêm câu nào.
Cái ca chiều hai giờ tới mười giờ đêm là cái ca không ai trông bà được.
Nó xin được chân đóng gói ở một kho hàng ngoài thị trấn, cách nhà bốn cây, làm từ sáu giờ sáng tới hai giờ chiều.
Lương ít hơn tháng cũ một triệu ba.
Nó tính lại mọi khoản trong một buổi tối, ngồi ở bàn dưới bóng đèn, viết ra mặt sau một tờ lịch bloc đã bóc.
Nó tính ra rằng đủ, nếu không ốm.
*
Cái mất thứ hai thì không tính ra bằng con số.
Từ đêm ấy, bà cụ không đi ra tới cổng nữa.
Bà không đòi lên rẫy, không nhắc tới măng, không nhắc tới phiên chợ.
Bà ngồi ở bậu cửa phần lớn thời gian trong ngày, mặt quay ra sân, và bà nhìn lên đồi.
Bà nhìn cái sườn đồi trồng keo ấy hàng giờ, và trong mắt bà không có gì cả.
Có hôm Diệu hỏi bà đang nhìn gì.
Bà cụ quay lại, nhìn nó một lúc, rồi bà lắc đầu.
"Bà quên rồi."
Bà nói câu đó bằng giọng bình thường, giọng của người báo lại một chuyện đã xong.
*
Cái gùi mây thì Diệu không cất đi.
Nó treo lại đúng chỗ cũ trên vách bếp, chỗ cái đinh và vệt sạm hình tròn.
Bà Ngát có lần bảo nó cất quách đi cho khuất mắt, kẻo bà cụ nhìn thấy lại nhớ ra.
Diệu không cất.
Nó vá cái lỗ thủng ở đáy gùi bằng một mảnh nan tre chuốt mỏng, luồn qua luồn lại, đan lại theo đúng kiểu đan cũ.
Nó ngồi vá hết một buổi tối và nó vá hỏng hai lần trước khi được.
Vá xong, nó treo lên, và nó đứng lùi ra nhìn.
Cái chỗ vá lộ hẳn ra, vì nan tre mới thì vàng, còn nan cũ thì đã đen.
*
Chừng nửa tháng sau, có một buổi chiều bà cụ tự đứng dậy khỏi bậu cửa và đi vào bếp.
Diệu đang nhặt rau ngoài giếng, nghe tiếng chân, chạy vào.
Bà cụ đứng trước vách bếp, ngửa mặt nhìn cái gùi mây treo trên đinh.
Bà đưa tay lên, sờ vào chỗ vá.
Bà sờ đi sờ lại chỗ nan tre mới, rất lâu, bằng đầu ngón tay.
Rồi bà quay lại, và bà nhìn thấy đứa cháu gái đứng ở cửa bếp.
Bà cụ chỉ vào chỗ vá trên cái gùi.
"Cái này ai làm."
"Con làm."
"Con làm hồi nào."
"Hồi tháng trước."
Bà cụ quay lại nhìn cái gùi thêm một lần nữa.
Rồi bà hạ tay xuống, và bà nói một câu, và bà nói nó rất thản nhiên, như nói một chuyện ai cũng biết.
"Vá kiểu này là kiểu của bà."
*
Diệu đứng ở cửa bếp, tay còn cầm nắm rau.
Nó không dám cử động.
Bà cụ đi ngang qua nó, ra bậu cửa, ngồi xuống chỗ cũ, mặt quay ra sân.
Ngoài kia trời đang xuống chiều, và cái bóng của cột hiên lại đổ xiên trên nền đất, y hệt cái bóng của buổi chiều hôm ấy.
Bà cụ nhìn cái bóng đó.
Bà nhìn nó một lúc lâu, rồi bà quay đầu vào trong nhà và bà gọi.
Bà không gọi tên ai cả.
Bà chỉ nói vọng vào, bằng cái giọng của người đang bận, người còn một việc phải làm cho xong trước khi trời tối.
"Có ai ở nhà không."
Diệu đứng trong bếp, một tay vịn vào cạnh bàn.
Nó thưa.
Nó thưa to, rõ, và nó phải thưa hai lần, vì lần thứ nhất tiếng nó không ra khỏi được cổ họng.
"Dạ có. Con ở nhà."
Bà cụ ngoài bậu cửa gật đầu một cái, rồi bà quay mặt trở ra sân.
Bà ngồi đó cho tới khi trời tối hẳn, và suốt quãng ấy bà không hỏi thêm gì nữa, còn đứa cháu gái thì đứng trong bếp không dám bước ra, vì đó là lần đầu tiên trong bảy tháng bà nó gọi vào nhà như gọi một người mà bà biết chắc là đang có ở đó.


