Halab
Vệt lốp xe đạp cuối cùng trong lòng chảo Lop Nur
Sinh tồn

Vệt lốp xe đạp cuối cùng trong lòng chảo Lop Nur

Năm 2009, một tay đạp xe kỳ cựu 65 tuổi vào Lop Nur với 30 lít nước và không bao giờ ra. Con trai ông lần theo vệt lốp bảy ngày bảy đêm giữa gió cát.

· 19 phút đọc · Halab

Người con đi theo một đường kẻ mảnh trên cát.

Đó là vệt lốp xe đạp của cha anh.

Nó rộng chừng hai đốt ngón tay, chạy về phía đông, đôi chỗ đứt quãng rồi lại hiện ra sau một gờ đất.

Anh có ba người, một chiếc xe việt dã, và bảy ngày bảy đêm.

Anh cũng có gió.

Gió ở Lop Nur thổi gần như không nghỉ, và thứ đầu tiên nó xoá đi là những vết nông nhất.

Một dấu chân còn có chiều sâu. Một vệt bánh ô tô còn có chiều rộng.

Vệt lốp xe đạp thì chỉ là một nét kẻ, và nét kẻ là thứ dễ mất nhất trên đời.

Ngày 27 tháng 9 năm 2009, chiếc xe việt dã ra khỏi sa mạc.

Trên xe không có người thứ tư.

Bối cảnh

Lop Nur nằm ở phía đông Tân Cương, trong lòng chảo Tarim.

Nó từng là một cái hồ. Năm 1928, mặt nước còn rộng khoảng 3.100 km².

Rồi các hồ chứa ở thượng nguồn giữ lại nước, dòng chảy đổ vào cạn dần, và cái hồ biến mất.

Thứ còn lại là một lòng chảo muối khô, nứt nẻ, không cây, không người, mà người Trung Quốc quen gọi là "biển chết".

Lượng mưa ở đây dưới 50 mm mỗi năm. Lượng bốc hơi thì tới khoảng 2.728 mm.

Tức là mặt đất muốn lấy đi nhiều hơn khoảng năm mươi lần lượng trời cho.

Vùng không người Lop Nur là khu vực mà pháp luật Trung Quốc cấm tự ý đi vào.

Danh sách những người biến mất ở đây đã dài từ trước năm 2009: 1949, 1950, 1976, 1980, 1990, 1995, 1996, 1997, 2005.

Cái tên nặng nhất trong danh sách ấy là Dư Thuần Thuận.

Ông là nhà thám hiểm chuyên nghiệp, đi bộ một mình xuyên Lop Nur vào tháng 6 năm 1996, và chết vì kiệt sức do nhiệt.

Tháng 6, chưa phải tháng nóng nhất.

Người của bài này vào Lop Nur vào tháng 8.

Ông tên là Lục Đạm (陆淡), 65 tuổi, người Trịnh Châu, tỉnh Hà Nam.

Ở đây phải nói ngay một điều, vì nếu không nói thì cả câu chuyện sẽ bị hiểu sai ngay từ dòng đầu.

Ông không phải một ông già liều lĩnh nghe kể chuyện sa mạc rồi hứng lên đi.

Ông là một trong những tay đạp xe đường trường có tiếng nhất Trung Quốc thời ấy.

Năm 1971, ông dành trọn một năm lương để mua một chiếc Phượng Hoàng 28. Từ đó, ra khỏi nhà là ông đi xe đạp, gần như không dùng phương tiện nào khác.

Năm 1984, gần bốn mươi tuổi, ông phải vào Tứ Xuyên học tại chức. Cả nhà bảo đi tàu. Ông đạp xe, xuất phát sớm hơn một tuần, và tới đúng hẹn.

Thập niên 1980, ông đạp lên Mạc Hà ở cực bắc để xem cực quang, rồi đạp xuống Nghi Xương ngắm Tam Hiệp.

Năm 2005, mừng sinh nhật 60, ông đòi đạp xe lên Tây Tạng. Cả nhà phản đối, không ai cản được. Con trai cả xin nghỉ phép ba tháng để đi cùng cha. Tới Lhasa được một ngày thì nhà báo tin bố vợ mất, hai cha con phải bỏ dở, bắt tàu về.

Tháng 8 năm 2006, ông đạp lên Tây Tạng lần nữa, hoàn thành nốt tâm nguyện.

Trước đó, ông từng cùng bạn vào Tân Cương, và bốn người đã đi vào Taklamakan, men theo sông Tarim về hướng đông, hơn hai mươi ngày sau mới ra khỏi sa mạc.

Năm 2008, sau động đất Vấn Xuyên, ông tới vùng thảm hoạ làm việc trong khả năng của mình, rồi theo đường Xuyên–Tạng đạp vào Tây Tạng lần thứ ba cùng ba đồng nghiệp.

Tới Lhasa, ông nói muốn đi tiếp sang Nepal. Ba người kia rút.

Đầu tháng 8 năm 2008, ông một mình vượt cao nguyên Thanh Tạng sang Nepal, ở lại năm ngày.

Chuyến đó, suốt nửa tháng gia đình không liên lạc được, vì vùng ông đi không có sóng.

Rồi ông về, bình an.

Chi tiết ấy sẽ trở lại ở phần sau của bài này, và nó là một trong những chi tiết tàn nhẫn nhất.

Theo gia đình ông, trong mười năm ông đạp trung bình 12.500 km mỗi năm.

Tờ Trịnh Châu Vãn Báo viết rằng ở Trung Quốc khi ấy chưa ai vượt được kỷ lục đạp xe chu du toàn quốc của ông.

Trong giới đạp xe, người ta quen gọi ông bằng biệt danh trên mạng là Diệu Đạm (妙淡). Cái tên ấy không xuất hiện trong ba bài báo năm 2009, chỉ còn trong ký ức của những người cùng đi.

Chuyện xảy ra

Ngày 27 tháng 4 năm 2009, Lục Đạm rời Trịnh Châu, rủ theo ba người bạn đạp xe.

Gia đình phản đối kịch liệt. Ông vẫn đi.

Đích đến là Lop Nur.

Tới rìa sa mạc, cả ba người bạn dừng lại. Họ không muốn đi tiếp.

Ông ở lại một mình.

Nửa tháng trước khi mất tin, ông gửi bưu điện về nhà cho vợ, bà Tập Anh Mai (习英梅), một tấm bản đồ.

Trên tấm bản đồ ấy, ông tự tay vẽ tuyến đường mình sẽ đi.

Nó tới tay bà trước khi bà biết ông mất tích.

Về sau, chính tấm bản đồ đó được đưa cho công an.

Một người đàn ông đã gửi về nhà tấm bản đồ nơi mình sẽ biến mất, và người nhận nó lúc ấy còn chưa biết mình đang cầm cái gì.

Trước khi rời Khố Nhĩ Lặc, ông gọi điện về cho vợ.

Ông nói ông mang theo ba mươi lít nước.

Đây là con số quan trọng nhất của toàn bộ câu chuyện, và nó được cả hai bài báo của Trịnh Châu Vãn Báo ghi lại độc lập, một bài ngày 11 tháng 9 và một bài ngày 29 tháng 9.

Ba mươi lít. Không phải ba lít.

Ông hẹn với bà: nửa tháng nữa ông sẽ ra ở khu vực Ngọc Môn Quan, phía đông, rồi gọi điện về.

Ông mang theo một máy định vị GPS và một chiếc điện thoại di động.

Cuộc gọi từ Khố Nhĩ Lặc là cuộc gọi cuối cùng.

Về ngày ông thực sự đi vào sa mạc, hai bài báo của cùng một toà soạn ghi hai mốc khác nhau: bài 11 tháng 9 viết ngày 9 tháng 8, bài 29 tháng 9 viết sáng sớm ngày 11 tháng 8.

Có một cách kể vừa đúng nguồn vừa đủ, và đó là cách kể của những cuốn sổ.

Về sau, khi công an lật từng cuốn sổ đăng ký lưu trú của các nhà trọ trong vùng, họ tìm được hai dòng.

Dòng thứ nhất: ngày 9 tháng 8, Lục Đạm ngủ ở một nhà trọ trong Doanh Bàn cổ thành.

Dòng thứ hai: ngày 11 tháng 8, ông đăng ký ở một nhà trọ khác.

Sau dòng thứ hai, không còn dòng nào nữa.

Hai dòng mực trong sổ đăng ký nhà trọ ở một cổ thành giữa sa mạc là dấu vết cuối cùng còn lại của sáu mươi lăm năm một đời người.

Nhân viên nhà trọ ở Doanh Bàn nhớ thêm một chi tiết: trước khi đi, ông có hỏi đường lên hướng bắc, tới trung đoàn bộ Đoàn 35, một nông trường trong vùng.

Không có ghi chép nào cho biết ông có tiếp nước dọc đường hay không.

Điều duy nhất chắc chắn là ông rời điểm dân cư cuối cùng với ba mươi lít nước mang từ Khố Nhĩ Lặc.

Nửa tháng trôi qua. Không có cuộc gọi nào từ Ngọc Môn Quan.

Ở nhà, người ta chờ.

Và đây là chỗ chi tiết năm 2008 quay lại: năm ngoái ông cũng mất liên lạc nửa tháng, rồi vẫn về.

Nên gia đình chờ thêm. Rồi chờ thêm nữa.

Cuộc tìm kiếm

Về thời điểm gia đình chính thức báo công an, hai bài báo lại vênh nhau, và cả hai đều phải được ghi lại ở đây.

Bài ngày 11 tháng 9 dẫn lời bà Tập Anh Mai: bà báo án sáng ngày 8 tháng 9.

Bài ngày 14 tháng 9 dẫn lời một phó cục trưởng họ Bành: cục nhận được tin báo của bà từ ngày 26 tháng 8.

Có thể một mốc là lần báo từ xa qua điện thoại và một mốc là lần lập hồ sơ chính thức, nhưng đó chỉ là phỏng đoán, và nguồn không nói vậy.

Khoảng ngày 10 tháng 9, bà Tập Anh Mai tìm tới toà soạn Trịnh Châu Vãn Báo cầu cứu.

Báo liên hệ công an Khố Nhĩ Lặc và tờ Khố Nhĩ Lặc Vãn Báo. Hai toà soạn cách nhau ba nghìn cây số bắt đầu cùng tìm một người.

Ngày 10 tháng 9, công an Khố Nhĩ Lặc dùng điện thoại vệ tinh liên lạc với người trực ở Lâu Lan cổ thành, giữa sa mạc. Không ai thấy bóng dáng Lục Đạm.

Ngày 12 tháng 9, bà bay từ Trịnh Châu đi Urumqi, rồi tới Khố Nhĩ Lặc, hội quân với con trai cả là Lục Vũ Thần (陆雨辰), người đang làm việc ở Bắc Kinh.

Cùng ngày, công an lập chuyên án, do một chủ nhiệm họ Tiêu trực tiếp phụ trách. Thông báo phối tra được gửi tới phân cục công an hai huyện Nhược Khương và Uý Lê, và tới một đồn công an thuộc nông trường Đoàn 35 trong vùng.

Ngày 13 tháng 9, công an rà từng nhà trọ trong Doanh Bàn cổ thành, và tìm ra hai dòng sổ.

Ngày 14 tháng 9, Khố Nhĩ Lặc Vãn Báo mở hẳn một chuyên mục tìm người.

Phóng viên phụ trách chuyên mục, ông Trần Ngạn Cường, nói một câu mà đọc lại bây giờ vẫn lạnh sống lưng.

Ông nói rằng kể từ khi Dư Thuần Thuận chết năm 1996, nhiều năm liền không còn ai một mình đi vào sa mạc này nữa, và Lục Đạm là người đầu tiên trong chín năm.

Về chiếc GPS, công an cho biết nó cũng không giúp được gì, vì loại thiết bị ấy hết pin là coi như mất tác dụng.

Đầu tháng 9, hai mẹ con tới huyện Uý Lê. Công an địa phương tổ chức lực lượng, có người dẫn đường, vào sa mạc tìm. Không thấy.

Rồi gia đình tự bỏ tiền.

Họ thuê xe việt dã. Họ thuê người dẫn đường, những người đã ra vào Lop Nur hàng trăm lần.

Ngày 19 tháng 9, Lục Vũ Thần cùng hai người nữa, trên một chiếc xe việt dã, đi vào lần thứ hai.

Họ tìm thấy vệt lốp xe đạp của ông.

Và họ đi theo nó.

Bảy ngày bảy đêm, ba người bám một đường kẻ mảnh trên cát, trong khi gió cát đang xoá nó đi nhanh hơn tốc độ họ đi.

Ngày 27 tháng 9, họ ra khỏi sa mạc. Không phát hiện được tung tích.

Ngày 28 tháng 9 là ngày thứ năm mươi kể từ khi Lục Đạm đi vào.

Ngày 29 tháng 9, tám người mê thám hiểm ở Trịnh Châu, do một ông họ Long tổ chức, cùng một phóng viên Trịnh Châu Vãn Báo lên đường.

Kế hoạch của họ là lái xe vào từ phía đông sa mạc, xuyên sang tây, tới vùng ông có thể mất tích, và dùng ống nhòm bội số cao rà từng khoảng.

Cùng lúc đó, Lục Vũ Thần nói anh sẽ lập tức tổ chức người vào sa mạc lần thứ ba, để hội quân với họ.

Đó là những gì báo chí ghi lại được.

Vì sao không ai tìm được

Câu trả lời bắt đầu từ một phép tính, và phép tính ấy nằm ở cân nặng.

Nước nặng đúng một ki-lô-gam mỗi lít.

Ba mươi lít nước là ba mươi ki-lô-gam.

Một chiếc xe đạp du lịch chở hàng, tính cả khung, túi, lều, thức ăn và dụng cụ sửa xe, thường đã nặng hai mươi tới hai mươi lăm ki-lô-gam trước khi đổ giọt nước nào vào.

Cộng ba mươi ki-lô-gam nước, tổng khối lượng rơi vào khoảng năm mươi tới sáu mươi ki-lô-gam, tức là quanh hoặc vượt giới hạn tải khuyến nghị của phần lớn xe đạp du lịch.

Đây là trần cứng của toàn bộ câu chuyện.

Ông không thể mang thêm nước nữa.

Không phải vì ông chủ quan, không phải vì ông coi thường sa mạc. Ba mươi lít gần như đã là mức tối đa vật lý mà một chiếc xe đạp chở được.

Hãy đặt ba phương tiện cạnh nhau.

Một chiếc xe việt dã đi cùng chặng đường ấy chở được hàng trăm lít nước và xăng dự phòng mà không hề hấn gì. Sai lầm trên xe việt dã còn cứu vãn được, vì lúc nào cũng quay đầu được.

Một người đi bộ mang mười tới mười lăm ki-lô-gam đã là rất nặng, tức chỉ vài ngày nước. Nhưng người đi bộ biết rõ điều đó, nên buộc phải tính trạm tiếp nước ngay từ khi vẽ tuyến.

Chiếc xe đạp nằm chính giữa, và chỗ chính giữa ấy là cái bẫy.

Nó cho ông nhiều nước hơn hẳn một người đi bộ, đủ để sinh ra cảm giác an toàn.

Nhưng nó không cho đủ để đi sâu vào rồi còn đi ra.

Chiếc xe đạp cho ông vừa đủ nước để vào quá sâu, và không đủ để quay ra.

Rồi tới nghịch lý thứ hai, và nghịch lý này mới là thứ đảo ngược mọi thứ.

Trên cát mềm, lực cản lăn tăng vọt, vì bánh xe lún xuống và phải liên tục leo ra khỏi cái hố do chính nó vừa tạo. Bánh xe đạp hẹp, áp suất tiếp xúc cao, nên lún sâu hơn bánh ô tô.

Hệ quả là trong vùng cát mềm và địa hình yardang, người đi xe đạp gần như không đạp được. Phần lớn thời gian là dắt bộ.

Từ khoảnh khắc mặt đường chuyển sang cát mềm, chiếc xe thôi làm phương tiện và trở thành một khối năm mươi ki-lô-gam phải đẩy đi.

Ông mất toàn bộ lợi thế của xe đạp mà giữ nguyên toàn bộ bất lợi: tiêu hao thể lực cao hơn một người đi bộ tay không, trong khi tốc độ không hơn.

Và bỏ chiếc xe lại thì cũng là bỏ luôn ba mươi lít nước.

Ông bị trói vào chính chiếc xe của mình.

Bây giờ mới tới phần nhiệt.

Người trên xe đạp phơi toàn thân dưới nắng, không mái che, không điều hoà, và hứng thêm bức xạ nhiệt phản lên từ mặt đất, vốn nóng hơn không khí rất nhiều.

Có một bản ghi đo đạc gần bối cảnh này nhất: tại trạm quan trắc Tazhong trong lòng sa mạc Taklamakan, thuộc cùng bồn địa Tarim, mùa hè nhiệt độ mặt đất được ghi nhận có thể lên tới 80°C. Đó là số đo trên cát của một sa mạc khác trong cùng lòng chảo, không phải số đo tại Lop Nur ngày ông đi, vì lòng chảo Lop Nur không có trạm khí tượng nào.

Ở đây phải nói rõ về tờ báo hồi ấy.

Trịnh Châu Vãn Báo tính rằng mỗi người cần ít nhất 1,5 lít nước một ngày, nên ba mươi lít là đủ cho hai mươi ngày.

Phép tính ấy dùng mức của một người ngồi yên trong bóng mát, ở khí hậu ôn hoà.

Số liệu sinh lý học nói chuyện khác hẳn.

Đo thực địa trên người đi bộ trong môi trường sa mạc khô nóng cho tốc độ đổ mồ hôi khoảng 1,2 lít mỗi giờ. Sổ tay sinh tồn sa mạc của quân đội Mỹ ghi rằng người làm việc nặng dưới nắng ở 43°C cần khoảng 19 lít nước một ngày, và trên 38°C thì phải uống một lít mỗi giờ.

Nếu lấy mức 1,2 lít một giờ và mười tiếng ban ngày đẩy xe, riêng mồ hôi đã là khoảng mười hai lít trong một ngày, chưa tính mất qua hô hấp.

Đây là tính toán suy ra từ số liệu chung, không phải số đo trên người ông. Nhưng hướng của nó thì không thể chối.

Ba mươi lít không phải là chuyện của hai mươi ngày.

Trong sa mạc tháng 8, vừa đẩy vừa đi, nó là chuyện của vài ngày tới hơn một tuần.

Và đây là bi kịch cốt lõi: kể cả bản thân ông có tính theo kiểu 1,5 lít một ngày, thì phép tính ấy đã sai ngay từ lúc ông còn đang xếp đồ.

Cách cái nóng giết người cũng không giống hình dung thông thường.

Cơ thể người hạ nhiệt chủ yếu bằng bay hơi mồ hôi. Ở nơi cực khô, mồ hôi bay hơi tức thì. Việc làm mát rất hiệu quả, nhưng nó đốt nước cực nhanh, và người ta không thấy mình ướt, nên đánh giá thấp lượng nước đã mất.

Khi mất khoảng 5% trọng lượng cơ thể, người ta mệt lả, đau đầu, chóng mặt, và khả năng phán đoán giảm sút. Đây là chỗ nguy hiểm nhất, vì người ta bắt đầu ra quyết định sai trong khi vẫn còn đi được.

Khi cạn nước, cơ thể buộc phải ngừng đổ mồ hôi để giữ thể tích máu. Đúng khoảnh khắc ấy, kênh làm mát duy nhất bị đóng lại và thân nhiệt lõi tăng vọt.

Đó là sốc nhiệt. Y văn ghi rằng ở thể do gắng sức, tỷ lệ tử vong vượt 50% nếu không được cấp cứu kịp, và tổn thương thần kinh cùng đa cơ quan xảy ra trong vòng vài chục phút tới vài giờ, không phải vài ngày.

Cho nên cái chết trong sa mạc thường không phải là lả đi từ từ suốt nhiều ngày. Nó là đi bình thường, rồi đột ngột lú lẫn, rồi sụp xuống.

Cần nói rõ: không có kết luận pháp y nào về Lục Đạm. Đây là cơ chế chung của cơ thể người trong điều kiện đó, không phải mô tả điều đã xảy ra với ông.

Còn một điều nữa mà cái nóng ở đây làm được: nó không tha ban đêm. Mùa hè ở vùng này, đêm vẫn còn rất nóng, nghĩa là không có khung giờ nào để cơ thể hồi phục.

Cuối cùng là lý do vì sao đội tìm kiếm không thấy gì.

Họ đi tìm một người trên một mặt phẳng muối và cát rộng bằng vài tỉnh, không cây, không mốc, không đường.

Manh mối duy nhất họ có là một đường kẻ rộng vài phân mà gió xoá mỗi ngày.

Và họ bắt đầu đi tìm sau khi đường kẻ ấy đã nằm ngoài trời hơn một tháng.

Những điều nhiều người kể sai

Ông mang 3 lít nước. Sai, và đây là cái sai nặng nhất. Ông mang 30 lít (三十升水), chính miệng ông nói với vợ qua điện thoại trước khi rời Khố Nhĩ Lặc, được hai bài báo độc lập của Trịnh Châu Vãn Báo ghi lại. Con số 3 lít sinh ra từ việc nghe nhầm "ba mươi lít" thành "ba lít" khi chép lời một video, và nó phá huỷ toàn bộ câu chuyện: 3 lít biến một tay đạp xe kỳ cựu tính toán sai thành một kẻ tự sát ngớ ngẩn. Sự thật ngược lại và đau hơn nhiều: 30 lít gần như là toàn bộ lượng nước một chiếc xe đạp có thể chở, ông đã mang mức tối đa vật lý, và mức tối đa ấy vẫn không đủ.

Người ta đã tìm thấy ông ngày 26 tháng 9, "ngày thứ 44", bên chiếc xe đổ nghiêng với hai săm nổ, chiếc áo đỏ bạc trắng, ba chai nước tiểu và cuốn nhật ký dừng ở ngày 25 tháng 8. Không một chi tiết nào trong đoạn kết ấy có nguồn. Nó lan truyền từ các video kể chuyện, và nó mâu thuẫn trực tiếp với tư liệu: bài báo ngày 29 tháng 9 năm 2009 cho biết tới ngày 28 tháng 9, tức ngày thứ năm mươi, ông vẫn mất tích; con trai ông vừa ra khỏi sa mạc sau bảy ngày bảy đêm tìm không thấy; và đoàn tám người Trịnh Châu mới lên đường vào ngày 29. Nếu ông đã được tìm thấy ngày 26, sẽ không có ai lên đường ngày 29.

Dòng cuối nhật ký của ông là "đã hết nước 5 ngày". Câu này chỉ xuất hiện trong một bài du ký năm 2017 của một người đi Lop Nur, và chính tác giả bài đó không dẫn xuất xứ. Nó là lời lưu truyền trong giới đi Lop Nur, không phải dữ kiện. Cùng loại với nó là chuyện ông được chôn tại một nơi tên Hàm Thuỷ Tuyền, cũng không xác minh được.

Ông nói "tôi đi Thái Dương Mộ" rồi mất tích, sau khi đi qua một danh sách dài các địa danh. Báo chỉ xác nhận bốn mốc: xuất phát từ Khố Nhĩ Lặc, hai đêm trọ ở Doanh Bàn cổ thành và một nhà trọ khác, có hỏi đường lên trung đoàn bộ Đoàn 35, và dự định ra ở khu vực Ngọc Môn Quan. Toàn bộ lộ trình chi tiết còn lại, cùng câu thoại kia, không xác minh được. Cũng vậy: ông rủ 3 người bạn đi cùng chứ không phải 13; năm 2005 con trai ông xin nghỉ phép ba tháng chứ không bỏ việc; và chiếc GPS ông mang, theo lời công an, chẳng cho được thông tin giá trị nào, vì loại thiết bị ấy hết pin là mất tác dụng.

Kết

Có một câu hỏi mà bài này không trả lời được, vì tư liệu không trả lời được.

Sau ngày 29 tháng 9 năm 2009, hồ sơ im lặng.

Không có bản tin nào cho biết tám người Trịnh Châu tìm thấy gì. Không có bản tin nào về chuyến đi lần thứ ba của người con. Không có một nguồn kiểm chứng được nào cho biết Lục Đạm đã từng được tìm thấy.

Điều duy nhất còn lại là mốc cuối cùng mà báo chí ghi được: một người đàn ông sáu mươi lăm tuổi đi vào Lop Nur đầu tháng 8, và tới ngày thứ năm mươi, ông vẫn ở trong đó.

Ông không phải người thiếu kinh nghiệm.

Ông có mười năm mỗi năm 12.500 cây số, ba lần Tây Tạng, một lần xuyên Taklamakan, một lần một mình vượt Thanh Tạng sang Nepal.

Chính chuỗi đó đưa ông vào đây.

Năm 2008, ông mất liên lạc nửa tháng rồi vẫn về. Nên năm 2009, khi nửa tháng trôi qua mà không có cuộc gọi nào từ Ngọc Môn Quan, ở nhà người ta chờ thêm.

Mọi thứ đều đã đúng rất nhiều lần trước đó. Đó là lý do lần này không ai kịp.

Còn ba thứ ở lại.

Một tấm bản đồ vẽ tay, gửi bưu điện từ sa mạc về Trịnh Châu, tới tay người vợ trước khi bà biết cần đến nó, rồi được giao cho công an.

Hai dòng mực trong sổ đăng ký nhà trọ, ngày 9 và ngày 11 tháng 8.

Và một đường kẻ mảnh trên cát, mà một người con đã đi theo bảy ngày bảy đêm, trong khi gió xoá nó nhanh hơn anh đi.

Nguồn

Bài viết tổng hợp từ các nguồn sau. Ảnh trong bài là ảnh minh hoạ do AI tạo, không phải ảnh hiện trường.

  • 六旬老人骑单车只身进入罗布泊后失踪(图) — 郑州晚报, 11/9/2009 — http://news.sina.com.cn/s/2009-09-11/065418627096.shtml
  • 6旬老人骑单车入罗布泊失踪 家人欲进沙漠寻人 — 郑州晚报, 14/9/2009 — http://news.sina.com.cn/s/2009-09-14/063418643979.shtml
  • 本报记者今日出发进沙漠寻人 — 郑州晚报, 29/9/2009 — http://news.sina.com.cn/c/2009-09-29/072116376140s.shtml
  • 罗布泊 — Wikipedia tiếng Trung (bối cảnh Lop Nur, cái chết của Dư Thuần Thuận 1996, quy định cấm vào vùng không người) — https://zh.wikipedia.org/zh-hans/罗布泊
  • Lop Nur — Wikipedia tiếng Anh (địa lý, lòng hồ muối khô, diện tích 1928) — https://en.wikipedia.org/wiki/Lop_Nur
  • Water Requirements During Exercise in the Heat — National Academies / Institute of Medicine (tốc độ đổ mồ hôi, ngưỡng mất nước) — https://www.nationalacademies.org/read/2094/chapter/8
  • US Army FM 3-05.70 — Desert Survival, chương 13 (nhu cầu nước khi làm việc nặng dưới nắng) — https://landsurvival.com/13.htm
  • Characteristics of land-atmosphere interaction parameters in hinterland of the Taklimakan Desert (nhiệt độ mặt đất mùa hè trong bồn địa Tarim) — https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC7283264/
  • Expert consensus on standardized diagnosis and treatment for heat stroke (cơ chế và tỷ lệ tử vong của sốc nhiệt) — https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC4704265
Chia sẻ:FacebookXThreadsTelegram

Đọc tiếp