Halab
Lịch sử

Togo chạy 420 km, Balto 89 km — tượng thuộc về Balto

Năm 1925, 20 người và 150 con chó kéo huyết thanh 1.085 km tới Nome. Balto có tượng ở New York, nhưng chặng dài và nguy hiểm nhất là của Togo.

· 8 phút đọc · Halab
Togo chạy 420 km, Balto 89 km — tượng thuộc về Balto
Ảnh: Copyright: Copyright © Carrie McLain Museum / AlaskaStock / Wikimedia Commons (CC0) — nguồn · Ảnh: Kingswang192 / Wikimedia Commons (CC BY 4.0) — nguồn

Con chó có tượng ở Công viên Trung tâm New York chạy 89 km. Con chó chạy 420 km, băng qua mặt vịnh đóng băng đang nứt trong bão, thì phải đợi tới năm 2001 mới có tượng riêng — và là tượng cỡ nhỏ, đặt ở một công viên khác.

Con thứ nhất tên Balto. Con thứ hai tên Togo. Đây là câu chuyện về việc lịch sử ghi công nhầm, và về một người đàn ông cay đắng vì chuyện đó suốt bốn mươi năm.

Một thị trấn bị khoá kín trong băng

Nome nằm cách Vòng Bắc Cực khoảng hai độ về phía nam, năm 1925 có 455 người bản địa Alaska và 975 người gốc châu Âu. Từ tháng 11 đến tháng 7, cảng đóng băng. Đường bộ duy nhất là Đường mòn Iditarod, dài 1.510 km từ cảng Seward.

Bác sĩ Curtis Welch, thầy thuốc duy nhất ở đây, phát hiện lô huyết thanh chống bạch hầu của bệnh viện đã hết hạn nên đặt lô mới — nhưng hàng không kịp tới trước khi cảng đóng băng.

Giữa tháng 1/1925, sau khi nhiều trẻ em chết vì thứ ban đầu bị chẩn đoán là viêm amidan, Welch xác nhận ca bạch hầu đầu tiên: một bé trai ba tuổi. Hôm sau, một bé gái bảy tuổi có cùng triệu chứng; ông thử tiêm huyết thanh hết hạn cho em, em qua đời sau vài giờ. Ngày 22/1, ông đánh điện tín cầu cứu đi khắp Alaska, với một câu lạnh người: một trận dịch bạch hầu gần như chắc chắn sẽ xảy ra ở đây, tôi cần gấp một triệu đơn vị huyết thanh.

Vì sao không chở thuốc bằng máy bay

Thị trưởng đề xuất chở thuốc bằng máy bay. Nhưng năm 1925, toàn Alaska chỉ có ba chiếc máy bay hai tầng cánh cũ đã tháo rời cất kho qua đông, buồng lái hở — loại đó không sống nổi trong thời tiết âm mấy chục độ. Hội đồng y tế bỏ phiếu tuyệt đối cho phương án chó kéo xe.

Ngày 26/1, người ta tìm được 300.000 đơn vị huyết thanh bị bỏ quên trong một bệnh viện ở Anchorage. Thuốc được bọc lọ thuỷ tinh, quấn chăn bông, nhét vào ống kim loại nặng khoảng 9 kg, rồi đưa bằng tàu hoả tới Nenana. Từ đó tới Nome còn 1.085 km, với 20 người lái xe chó và khoảng 150 con chó chờ sẵn.

Người đầu tiên, "Wild Bill" Shannon, rời Nenana lúc 9 giờ tối ngày 27/1 trong nhiệt độ âm 46 độ C. Ông chạy bộ bên cạnh xe cho ấm mà vẫn bị hạ thân nhiệt; tới trạm lúc 3 giờ sáng, mặt đã đen từng mảng vì bỏng lạnh, nhiệt kế chỉ âm 52 độ C. Ba con chó của ông chết sau đó. Một chi tiết ít ai để ý: phần lớn người lái xe chó ở đoạn giữa là người bản địa Athabaskan và Inupiat, đi hai phần ba tổng quãng đường, và bị báo chí thời đó bỏ qua gần như hoàn toàn.

Chặng của Togo: 420 km và mặt vịnh đang trôi ra biển

Leonhard Seppala là người lái xe chó giỏi nhất vùng — ba lần vô địch giải All-Alaska Sweepstakes. Ông được giao chặng dài và nguy hiểm nhất: từ Nome tới Nulato rồi quay về, trong đó có lối tắt băng qua vịnh Norton. Chó đầu đàn của ông là Togo, khi ấy đã 12 tuổi, làm đầu đàn bảy năm, và chỉ nặng khoảng 22 kg.

Vịnh Norton là chỗ chết: băng ở đó luôn chuyển động, và nếu gió đông thổi mạnh, cả mảng băng có thể bị đẩy ra biển cùng người và chó trên đó.

Seppala rời Nome ngày 27/1, băng qua vịnh, chạy 270 km về hướng đông và tưởng mình còn phải đi hơn 160 km nữa — ông không biết kế hoạch đã đổi. Gần Shaktoolik, ông phóng ngang qua một người đang gỡ rối dây cương; người đó, Henry Ivanoff, phải chạy theo hét lên rằng huyết thanh đang ở đây.

Seppala nhận ống thuốc khi trời sắp tối và bão đang tới. Ông phải chọn: đi vòng, mất trọn một ngày; hoặc băng ngang mặt băng trong đêm, khi không nhìn thấy dấu hiệu băng nứt. Ông chọn băng ngang.

Nhiệt độ ước chừng âm 34 độ C, nhưng gió cấp bão đẩy nhiệt độ cảm nhận xuống khoảng âm 65 độ C. Togo dẫn đoàn đi thẳng trong bóng tối tới trạm ở Isaac's Point lúc 8 giờ tối; riêng hôm đó đoàn chạy 135 km. Họ ngủ vài giờ rồi đi tiếp lúc 2 giờ sáng — và trong lúc họ ngủ, toàn bộ mảng băng vừa băng qua đã bị gió thổi trôi ra biển.

Chưa hết: sau đó còn phải leo núi Little McKinley, 1.500 mét tổng độ cao dồn trong 13 km. Tới Golovin chiều 1/2, Seppala trao huyết thanh cho Charlie Olsen, sau khi đội của ông đã đi khoảng 420 km.

Chặng của Balto: 89 km cuối và toàn bộ ánh đèn sân khấu

Olsen bị gió thổi văng khỏi đường mòn, bỏng lạnh nặng hai bàn tay khi cố đắp chăn cho chó. Gunnar Kaasen nhận thuốc từ ông rồi đợi tới 10 giờ tối cho bão ngớt; bão chỉ mạnh thêm, tuyết sắp lấp kín đường, nên ông xuất phát ngược gió. Balto là chó của Seppala, nhưng Seppala coi nó là chó hạng hai và đã thiến nó lúc sáu tháng tuổi. Kaasen nghĩ khác, và chọn nó dẫn đoàn.

Đêm đó tầm nhìn kém đến mức có lúc Kaasen không thấy nổi con chó buộc gần xe nhất. Xe lật, ống huyết thanh văng ra vùi trong tuyết; ông phải lột găng, mò bằng tay trần và bị bỏng lạnh. Tới Point Safety lúc 3 giờ sáng ngày 2/2, ông thấy người của chặng cuối đang ngủ, nên không đánh thức mà tự đi nốt 40 km còn lại, về tới Nome lúc 5 giờ 30 sáng. Toàn tuyến 1.085 km đi hết khoảng 127 giờ rưỡi — kỷ lục thế giới thời đó.

Huyết thanh thì đông cứng, và được xử lý bằng cách đơn giản nhất: ở mỗi trạm nghỉ, người lái xe chó đưa ống thuốc lại gần lò sưởi ủ ấm rồi mới đi tiếp. Khi Kaasen về tới Nome, cả 300.000 đơn vị đều nguyên vẹn, không lọ thuỷ tinh nào vỡ; thuốc rã đông xong và sẵn sàng dùng vào khoảng trưa.

Còn số người chết ở Nome thì các nguồn lệch nhau: con số chính thức chỉ ở mức năm đến bảy người, nhưng chính bác sĩ Welch về sau ước tính còn ít nhất khoảng một trăm ca nữa trong các khu trại của người bản địa ngoài thị trấn, vì nhiều gia đình chôn con mà không khai báo. Con số đẹp đẽ trong sách sử là con số của phần dân cư được đếm.

Những điều nhiều người kể sai

  • "Balto chạy suốt chặng đường cứu Nome." Hiểu lầm dai nhất. Đội Balto chạy 89 km chặng cuối; đội Togo chạy khoảng 420 km. Cơ quan Công viên Quốc gia Mỹ ghi thẳng: dù Balto được ghi công, chính Togo mới dẫn đoàn qua chặng nguy hiểm nhất.
  • "Bức ảnh Balto về tới Nome là ảnh chụp lúc đó." Không. Những tấm ảnh nổi tiếng nhất về cảnh Kaasen và Balto tới nơi là ảnh dựng lại, chụp muộn hơn trong ngày, và đoạn phim thời sự cũng vậy.
  • "Balto là chó đầu đàn duy nhất của đội cuối." Seppala ban đầu chọn con Fox dẫn đội này; Kaasen mới đưa Balto lên đồng dẫn đoàn. Sau này Seppala còn khẳng định Fox mới là con dẫn thật, và Balto được chọn làm ngôi sao vì cái tên nổi bật trên tít báo hơn.
  • "Đây là chiến công của một con chó." Có 20 người lái xe chó và khoảng 150 con chó, nhiều con chết trên đường; người bản địa Alaska đi hai phần ba quãng đường và gần như bị xoá khỏi câu chuyện.

Cái giá của việc được nhớ nhầm

Balto thành ngôi sao: có phim, có tour diễn tạp kỹ, có chìa khoá thành phố do thị trưởng Los Angeles trao. Ngày 17/12/1925, tượng đồng Balto do Frederick Roth tạc được dựng ở Công viên Trung tâm — chưa đầy một năm sau cuộc chạy. Đáng nói là dòng chữ trên tấm bia dưới chân tượng đề tặng "tinh thần bất khuất của những con chó kéo xe" chứ không riêng con nào. Người khắc chữ đã công bằng hơn người kể chuyện.

Chuyện sau đó thì xấu. Balto và đồng đội bị bán cho một gánh xiếc lưu động, rồi rơi vào một nhà trưng bày rẻ tiền ở Los Angeles, bị xích vào một chiếc xe trượt tuyết, gầy trơ xương. Năm 1927, trẻ con Cleveland góp cả tiền mua sữa để chuộc cả đàn về. Balto chết ngày 14/3/1933; tiêu bản của nó vẫn trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Cleveland.

Seppala thì không nguôi. Ông đưa Togo đi lưu diễn năm 1926 để đòi lại danh dự cho nó; Togo được Roald Amundsen trao huy chương vàng tại Madison Square Garden. Trong hồi ký, Seppala viết một câu vừa nhũn nhặn vừa cay: ông mong mình không bao giờ tước công của bất kỳ con chó nào — nhưng ông thấy bực vì bức tượng dựng cho Balto, bởi nếu có con chó nào xứng đáng được nhắc tên riêng thì đó là Togo.

Togo được trả lại tên, chậm bảy mươi năm

Togo nghỉ hưu ở Poland Spring, bang Maine. Seppala tự tay cho nó đi ngày 5/12/1929, khi nó 16 tuổi, vì đau khớp và mù một phần; ông ở bên nó lúc đó. Năm 1960, ông nói câu được Cơ quan Công viên Quốc gia Mỹ chép lại: tôi chưa từng có con chó nào hơn Togo, sức bền, lòng trung thành và trí khôn của nó không thể tốt hơn được nữa.

Tiêu bản Togo được đưa về Alaska nhờ chiến dịch viết thư của học sinh, hôm nay nằm trong tủ kính tại bảo tàng của giải Iditarod ở Wasilla; bộ xương thuộc Bảo tàng Peabody, Đại học Yale. Mãi tới năm 1997 nó mới có tượng, đặt cạnh tượng Balto ở sở thú Cleveland. Năm 2011, tạp chí Time gọi Togo là con vật anh hùng nhất mọi thời đại.

Nhưng có một chi tiết khép lại câu chuyện đẹp hơn mọi bức tượng. Giải Iditarod ngày nay có một giải thưởng mang tên Leonhard Seppala, trao cho người đua chăm sóc chó tốt nhất mà vẫn giữ được thành tích. Không phải giải cho người về nhất. Giải cho người đối xử tử tế nhất với những con chó đã kéo mình đi.

Câu hỏi thường gặp

Togo và Balto, con nào mới thật sự cứu Nome?

Cả hai đều góp phần, nhưng công lớn nhất thuộc về Togo. Đội của Togo và Leonhard Seppala chạy khoảng 420 km, gồm đoạn băng qua mặt băng vịnh Norton trong bão đêm. Đội của Balto chạy 89 km chặng cuối vào thị trấn. Ngoài ra còn 18 người lái xe chó khác, phần lớn là người bản địa Alaska, đi hai phần ba tổng quãng đường.

Huyết thanh có bị đông đá trên đường không?

Có, thuốc đông cứng vì nhiệt độ xuống tới âm 50 độ C. Cách xử lý là ủ ấm: tại mỗi trạm nghỉ dọc đường, người lái xe chó đưa ống kim loại đựng thuốc lại gần lò sưởi trước khi đi tiếp. Khi tới Nome, cả 300.000 đơn vị đều nguyên vẹn, không lọ thuỷ tinh nào vỡ, và được rã đông xong vào khoảng trưa cùng ngày.

Hiện có thể xem tiêu bản Togo và Balto ở đâu?

Tiêu bản Balto được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Cleveland, bang Ohio, sau khi nó chết năm 1933. Tiêu bản Togo nằm trong tủ kính tại bảo tàng của Ban tổ chức giải Iditarod ở Wasilla, Alaska, được đưa về nhờ chiến dịch viết thư của học sinh Alaska. Bộ xương Togo thuộc Bảo tàng Peabody, Đại học Yale.

Chia sẻ:FacebookTelegram

Đọc tiếp