Halab
Lịch sử

Nguyễn Trường Tộ: hàng chục bản điều trần bị xếp lại

Nguyễn Trường Tộ gửi hàng chục bản điều trần xin canh tân đất nước rồi mất ở tuổi 41. Ông đề nghị những gì, và triều đình Tự Đức thực sự đã làm gì?

· 8 phút đọc · Halab
Nguyễn Trường Tộ: hàng chục bản điều trần bị xếp lại
Ảnh minh hoạ do AI dựng lại (không phải ảnh tư liệu gốc). · Ảnh: The original uploader was Docteur Rieux at Vietnamese Wikipedia. / Wikimedia Commons (Public domain) — nguồn

Một người đàn ông xứ Nghệ đề nghị triều đình dạy học bằng tiếng Việt thay vì chữ Hán, mở trường kỹ thuật, khai mỏ, vay tiền nước ngoài và đặt sứ quán ở Paris. Ông viết những điều đó vào thập niên 1860 — trước khi Nhật Bản bắt đầu công cuộc Duy tân Minh Trị.

Tên ông là Nguyễn Trường Tộ. Ông mất năm 41 tuổi, và gần như không có đề nghị nào của ông được thi hành.

Người giỏi nhất vùng không được đi thi

Ông sinh ở làng Bùi Chu, huyện Hưng Nguyên, Nghệ An, trong một gia đình Công giáo nhiều đời. Năm sinh thì các nguồn không thống nhất — thường ghi khoảng 1830, có nghiên cứu đưa ra khoảng 1827–1830.

Ông học chữ Hán với cha và các thầy đồ trong vùng, giỏi đến mức người ta gọi ông là "Trạng Tộ". Nhưng cánh cửa duy nhất để một người có chữ bước vào chính trường thời ấy — khoa cử — đóng chặt với ông vì ông theo đạo Công giáo và không bỏ đạo.

Vậy là ông đi dạy học, rồi được mời dạy chữ Hán ở Nhà chung Xã Đoài. Tại đây, giám mục người Pháp Gauthier — người Việt gọi là Ngô Gia Hậu — nhận ra trí thông minh của ông và dạy ông tiếng Pháp, tiếng Latin cùng kiến thức khoa học phương Tây.

Đó là điều làm ông khác mọi trí thức Việt Nam cùng thời. Theo nhà nghiên cứu Mark McLeod, vào thời điểm sớm như vậy, không người Việt nào khác kết hợp được sâu sắc cả hai truyền thống học vấn Đông và Tây như ông.

Ông đã đi những đâu — chỗ nhiều sách nói sai

Đây là điểm cần cẩn thận, vì rất nhiều tài liệu phổ thông khẳng định chắc nịch rằng ông từng sang Pháp và Ý những năm 1859–1860. Sự thật là giới nghiên cứu còn tranh luận.

Năm 1941, học giả Đào Duy Anh viết hẳn một bài mang tên *"Nguyễn Trường Tộ học ở đâu?"*, chỉ ra rằng không có bằng chứng vững chắc nào cho chuyến đi ấy, ngoài một văn bản chữ Nôm không chính thức do con cháu ông đưa ra đầu thế kỷ 20. Sau này, linh mục Trương Bá Cần đối chiếu hồ sơ lưu trữ của Hội Thừa sai Paris và xác định giám mục Gauthier chắc chắn không sang Pháp trong hai năm đó.

Điều kiểm chứng được là: Gauthier đưa ông sang Hồng Kông, Penang và vài nơi khác ở Đông Nam Á, nơi Hội Thừa sai có chủng viện. Ở đó ông đọc sách báo tiếng Pháp và sách phương Tây dịch sang chữ Hán.

Chuyến đi châu Âu chắc chắn là năm 1867, khi ông cùng Gauthier đáp tàu L'Orne sang Pháp theo lệnh triều đình. Có khả năng trong chuyến này ông đã sang Rôma yết kiến Giáo hoàng Piô IX — nhưng chi tiết đó cũng chỉ được nêu ở mức "có lẽ".

Bao nhiêu bản điều trần? Không ai chốt được con số

Từ khoảng năm 1861 đến khi mất năm 1871, ông liên tục gửi điều trần lên vua Tự Đức và triều đình Huế. Con số thì mỗi nguồn một khác.

Có tài liệu nói khoảng 30 bản. Có tài liệu dẫn công trình *Nguyễn Trường Tộ — con người và di thảo* của linh mục Trương Bá Cần và nói ông tập hợp được 58 bản. Tài liệu học thuật tiếng Anh thì thận trọng hơn, chỉ ghi "hơn mười lăm bản điều trần quan trọng".

Sự chênh lệch có lý do đời thường: có bản là điều trần lớn về quốc sách, có bản chỉ là thư báo cáo tình hình; một số bản đã thất lạc, trong đó có "Tế cấp luận" viết năm 1863.

Nên cách nói chính xác là: hàng chục bản, viết đều đặn suốt mười năm, đề tài gần như không lặp lại.

Những đề nghị nghe như của một thế kỷ sau

Đọc lại nội dung mới thấy vì sao người ta gọi ông là người đi trước thời đại.

  • Về giáo dục: bỏ lối học từ chương máy móc, đưa các môn khoa học vào chương trình, và điều táo bạo nhất — dùng quốc văn, tức chữ Nôm, để dạy học, soạn sách và viết cả giấy tờ hành chính. Đề nghị bỏ chữ Hán ra khỏi công văn, ở giữa một triều đình Nho học.
  • Về kinh tế: khai hoang, bảo vệ rừng, thăm dò tài nguyên, khai mỏ, lập cơ sở sản xuất và đào tạo thợ kỹ thuật, mở đường bộ và đường thủy cho hàng hóa lưu thông.
  • Về tài chính: đo đạc lại ruộng đất, kê khai nhân khẩu, đánh thuế cao vào người giàu và hàng xa xỉ nhập khẩu, vay tiền nước ngoài.
  • Về bộ máy: tinh giản quan lại, xác định rõ chức năng từng vị trí để bớt người ăn lương mà không rõ làm gì. Ông còn lập luận rằng muốn quan lại thanh liêm thì phải cho họ con đường làm giàu chính đáng.
  • Về ngoại giao: không chỉ quan hệ với Pháp mà đặt bang giao với Anh, Tây Ban Nha và nhiều nước khác, đào tạo thông dịch viên, lập lãnh sự ở Sài Gòn và sứ quán tại Pháp.

Ông cũng không ảo tưởng. Trong một bản tấu, ông viết thẳng rằng nếu đối xử tử tế thì người phương Tây cũng đối xử tử tế lại, còn nếu không thì họ sẽ biến nước ta thành thuộc địa.

Những điều nhiều người kể sai

  • "Triều đình vứt xó hết, không dùng ông việc gì." Không đúng. Vua Tự Đức nhiều lần vời ông vào chầu, có lần tiếp ở nhà Tả Vu trong Tử Cấm thành. Tháng 1/1867 triều đình cử ông cùng giám mục Gauthier sang Pháp mua sách vở, máy móc và thuê chuyên gia về mở trường kỹ thuật ở Huế. Ông còn được giao xử lý vụ mua tàu London, và từng giúp Tổng đốc Nghệ An đào kênh Sắt.
  • "Ông chưa bao giờ được ai trong triều ủng hộ." Trong bản tấu ngày 28/12/1870, Viện Cơ mật dâng lên vua Tự Đức đã ghi nhận ông "cũng có lòng với ta" và tán thành đề nghị của đại thần Trần Tiễn Thành, chỉ xin bàn kỹ hơn cho chắc. Vấn đề không phải không ai nghe, mà là bàn mãi không ra quyết định.
  • "Chuyến đi Pháp năm 1867 thất bại vì triều đình bỏ mặc." Thực tế phức tạp hơn. Phái đoàn mua được sách vở, máy móc và đưa về nước đầu năm 1868. Nhưng giữa lúc họ còn ở châu Âu, quân Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ. Không khí trong nước xoay chiều, triều đình lệnh cắt bớt mua sắm và về sớm. Máy móc mang về bị cất kho.
  • "Ông chỉ biết ngồi viết." Ông là một kiến trúc sư thực thụ. Khoảng 1862–1864 ông thiết kế và chỉ đạo xây tu viện Dòng Thánh Phaolô ở Sài Gòn, công trình kiểu châu Âu đến nay vẫn còn. Năm 1871, nghe tin Pháp thua Phổ, ông đề nghị nhân cơ hội thu hồi Nam Kỳ và xin đích thân cầm quân.

Cái chết ở tuổi 41

Đầu năm 1871 ông được gọi gấp ra Huế. Triều đình bàn đi tính lại: sứ bộ không được cử đi, kế hoạch quân sự không được duyệt. Sau mấy tháng không có việc làm, ông xin về Xã Đoài.

Ngày 22/11/1871 ông đột ngột qua đời, mới 41 tuổi. Con trai ông khi ấy mười tám tháng.

Nguyên nhân cái chết cũng là chỗ các nguồn không thống nhất. Nhiều chứng cứ cho thấy ông mất vì xuất huyết dạ dày. Riêng giám mục Gauthier, trong lá thư đầu tháng 11/1871, cho rằng học trò cũ của mình là nạn nhân của một âm mưu đầu độc. Không kết luận nào được chứng minh dứt khoát.

Con trai ông, Nguyễn Trường Cửu, chép lại rằng trước khi mất cha mình làm một câu thơ:

"Một kiếp sa chân, muôn kiếp hận / Ngoảnh đầu cơ nghiệp ấy trăm năm."

Ngôi mộ và cái nhìn của hậu thế

Ban đầu mộ ông chỉ là một nấm đất thấp bên bãi đá mài ven sông làng Bùi Chu.

Năm 1943 — hơn bảy mươi năm sau khi ông mất — giáo sư Nguyễn Lân đứng ra kêu gọi xây lăng mộ cho ông, và gửi 133 đồng, trong đó 110 đồng là tiền bán 900 cuốn sách ông viết về Nguyễn Trường Tộ. Nhờ đó ngôi mộ được xây lại bằng đá cẩm thạch Thanh Hóa. Năm 1992 khu mộ được xếp hạng di tích quốc gia.

Giáo sư Nguyễn Huệ Chi cho rằng ông đã gợi ra những cách nghĩ cởi mở và táo bạo mà "hàng thế kỷ về sau vẫn đáng để suy gẫm", nhưng vì "sinh không gặp thời" nên rốt cuộc không đóng được vai trò nào trong lịch sử ngoài vai trò làm chứng.

Nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng thì chỉ ra rằng trong các bản điều trần có cả những chủ trương không tưởng, và ông nóng vội. Nhưng điều đáng quý là ông không mệt mỏi: gửi mà không có hồi âm, rồi lại gửi tiếp, suốt mười năm.

Vì sao câu chuyện này vẫn còn đáng kể

Có một chi tiết dễ bị bỏ qua: người viết hàng chục bản kế sách giữ nước ấy là một người mà chính thể chế khoa cử đã không cho phép dự thi.

Ông không có chức tước, không có phe cánh, không có bổng lộc để mất. Ông cũng biết rõ mình bị nghi kỵ — vừa vì là người Công giáo, vừa vì từng làm phiên dịch cho phía Pháp, việc mà nhiều nhà nho cùng thời lên án gay gắt. Trong bài "Trần tình", ông tự nhận mình mang ba tội: phận hèn mà bàn việc lớn, ở trong vòng người ta mà ôm chí khác, bị nghi kỵ mà vẫn dâng ý kiến.

Biết thế, ông vẫn viết. Và ông viết ra một câu đáng giữ lại: *người xưa xét người không xét ở thành bại, mà xét ở chỗ có hay không có tấm lòng.*

Tính theo thành bại thì ông thua sạch. Trường kỹ thuật không mở. Máy móc nằm trong kho. Chữ quốc văn phải đợi nhiều thập niên nữa mới vào trường học.

Nhưng những gì ông đề nghị — học kỹ thuật, mở cửa buôn bán, cải cách thi cử, bảo vệ rừng, đào tạo người biết ngoại ngữ — nghe vẫn không hề cũ. Đó có lẽ là điều đáng nể nhất ở một người nhìn thấy trước thời đại mình: phải rất lâu sau, người ta mới hiểu ông đang nói gì.

Câu hỏi thường gặp

Nguyễn Trường Tộ gửi bao nhiêu bản điều trần?

Các nguồn ghi khác nhau nên không có con số dứt khoát. Một số tài liệu nói khoảng ba mươi bản, tài liệu khác dẫn công trình của linh mục Trương Bá Cần và nêu con số năm mươi tám, trong khi nghiên cứu tiếng Anh chỉ ghi hơn mười lăm bản quan trọng. Chênh lệch là do cách phân loại giữa điều trần lớn và thư báo cáo, cùng việc một số bản đã thất lạc.

Nguyễn Trường Tộ có thật sự từng sang Pháp và Ý không?

Chuyến đi chắc chắn là năm 1867, khi ông theo giám mục Gauthier sang Pháp theo lệnh triều đình để mua sách vở và máy móc. Trong chuyến này có thể ông đã tới Rôma yết kiến Giáo hoàng Piô IX. Còn chuyến đi châu Âu những năm 1859 đến 1860 mà nhiều sách phổ thông nhắc tới thì bị Đào Duy Anh và Trương Bá Cần bác bỏ vì thiếu bằng chứng.

Triều đình Tự Đức có dùng Nguyễn Trường Tộ không?

Có, nhưng không nhất quán. Vua Tự Đức nhiều lần vời ông vào chầu, cử ông sang Pháp năm 1867 để chuẩn bị mở trường kỹ thuật, giao ông xử lý vụ mua tàu London và cấp ngựa cùng chi phí đi lại. Tuy nhiên phần lớn đề nghị cải cách của ông không được thi hành, trường kỹ thuật không bao giờ mở, số máy móc mua về bị cất kho.

Chia sẻ:FacebookTelegram

Đọc tiếp