Halab
Lịch sử

Yersin: bỏ châu Âu về chết ở Nha Trang năm 1943

Alexandre Yersin tìm ra trực khuẩn dịch hạch trong túp lều rơm ở Hồng Kông năm 1894, rồi bỏ hẳn châu Âu về sống và mất ở Nha Trang. Vì sao ông ở lại?

· 8 phút đọc · Halab
Yersin: bỏ châu Âu về chết ở Nha Trang năm 1943
Ảnh: Réf. image : 03085 Yersin (Alexandre) 20e siècle Ouvrage : Recherches, découvertes et inventions de médecins suisses Edition : Bâle : Ciba Société, 1946 Cote : 160843 Empl. de l'image : p. 117 Technique : Impr. photomécanique - Photogravure / Wikimedia Commons (CC0) — nguồn · Ảnh: Vinhtantran (talk) / Wikimedia Commons (CC BY-SA 3.0) — nguồn

Một người vừa tìm ra thủ phạm gây ra những trận dịch giết hàng chục triệu người trong lịch sử. Cả châu Âu trải thảm mời ông về. Ông từ chối, quay lại một xóm chài miền Trung Việt Nam, và ở đó cho tới lúc chết — gần năm mươi năm sau.

Tên ông là Alexandre Yersin. Dân xóm Cồn, Nha Trang gọi ông bằng hai chữ ngắn gọn: Ông Năm.

Chàng học trò bỏ phòng thí nghiệm để đi biển

Yersin sinh năm 1863 ở vùng Vaud, Thụy Sĩ. Cha ông mất vì xuất huyết não chỉ vài tuần trước khi ông chào đời; mẹ ông một mình nuôi ba con.

Con đường sự nghiệp của ông đẹp đến mức khó tin. Hai mươi lăm tuổi có bằng tiến sĩ y khoa. Học vi trùng học với Robert Koch ở Đức. Vào thẳng phòng thí nghiệm của Louis Pasteur, cùng Émile Roux tìm ra độc tố bạch hầu.

Rồi năm 1890, ở tuổi 27, ông bỏ đi. Ông viết cho mẹ: *"Con sẽ không buồn nếu phải rời Paris vì con thấy chán ngấy kịch nghệ, đám thượng lưu làm con kinh tởm, và đời mà không đi thì còn gì là đời."*

Pasteur biết không giữ nổi, bèn viết thư giới thiệu cậu học trò làm bác sĩ tàu biển cho hãng Messageries Maritimes.

Bình nguyên xanh nhìn từ rừng thông

Con tàu ghé Nha Trang mỗi lượt đi và về. Yersin mê vịnh biển ấy. Năm 1891 ông xin thôi việc, dựng một ngôi nhà gỗ ở xóm Cồn và mở phòng khám.

Ông thu tiền người khá giả và chữa miễn phí cho người nghèo — dù chính ông thừa nhận thường không phân biệt nổi hai hạng người ấy. Ông viết cho mẹ: *"Con coi y học là thiên chức, là mục vụ. Đòi tiền để chữa trị cho bệnh nhân thì chẳng khác nào nói với người đó rằng: tiền hay mạng sống."*

Nhưng thứ kéo ông đi là những đỉnh núi mù sương phía sau xóm chài, chưa ai vẽ bản đồ. Ông tổ chức ba chuyến thám hiểm xuyên Trường Sơn. Nhật ký ngày 21/6/1893 ghi lại khoảnh khắc ông bước ra khỏi rừng thông:

"Tôi sững sờ khi đối diện một bình nguyên hoang vu giống như mặt biển tràn đầy những làn sóng màu xanh lá cây."

Đó là cao nguyên Lâm Viên. Vài năm sau, trên chính vùng đất ấy hình thành Đà Lạt.

Những chuyến đi không hề lãng mạn. Một lần bị cướp phục kích, ông lãnh một nhát chùy gãy xương chân và một mũi giáo đâm vào ngực. Toán cướp bỏ đi vì tưởng ông đã chết. Ông tự chỉ dẫn người ta cách rút mũi giáo và khử trùng, rồi nằm cáng tre nhiều ngày về tới Phan Rang.

Túp lều rơm và mấy đồng hối lộ ở Hồng Kông

Tháng 5/1894, dịch hạch bùng ở Hồng Kông. Chính quyền cử Yersin sang tìm nguyên nhân. Ông đến ngày 15/6/1894, một mình, hành lý gồm kính hiển vi, nồi hấp tiệt trùng và ít đồ nuôi cấy.

Ba ngày trước ông, nhà vi khuẩn học Nhật Bản Kitasato Shibasaburō đã tới cùng cả một êkíp. Người Anh dành hết điều kiện cho nhóm Nhật: phòng thí nghiệm trong bệnh viện, và toàn bộ tử thi. Yersin chỉ được đứng xem nhóm Kitasato làm việc.

Nên ông tự xoay. Với sự giúp đỡ của Vigano, một người Ý sống ở Hồng Kông, Yersin dựng một cái lán tre phủ rơm làm phòng thí nghiệm. Mẫu bệnh phẩm có được nhờ Vigano dúi tiền cho lính thủy Anh trông nhà xác.

Trong túp lều đó, ông đặt mẫu lên kính và viết:

"Ở cái nhìn đầu tiên, tôi nhận ra một thứ hổ lốn toàn vi khuẩn giống hệt nhau. Đó là những chiếc que nhỏ mập, hai đầu tròn."

Ông công bố phát hiện ngày 20/6/1894, năm ngày sau khi tới Hồng Kông.

Có một chi tiết trớ trêu ít người kể: cái phòng thí nghiệm tồi tàn ấy lại là lợi thế. Trực khuẩn dịch hạch mọc tốt hơn ở nhiệt độ thấp, và túp lều rơm thì mát hơn phòng thí nghiệm được sưởi ấm.

Vì sao vi khuẩn mang tên Yersin

Đây là chỗ câu chuyện hay bị kể thành một chiều, nên cần nói cho công bằng.

Kitasato tìm thấy vi khuẩn trước Yersin, ngày 14/6. Nhưng ông làm việc theo lối khác: xét nghiệm máu và mổ tử thi rất kỹ, mà bỏ qua hạch bạch huyết sưng, chính là nơi vi khuẩn tập trung dày nhất.

Mô tả của Kitasato sau đó rối. Ông nói vi khuẩn của mình bắt màu Gram dương và di động; Yersin mô tả Gram âm và bất động. Kitasato còn tả vi khuẩn trong máu hình cầu đôi, trong hạch lại hình que — mâu thuẫn khiến nhiều người cho rằng mẫu nuôi cấy của ông đã bị nhiễm phế cầu khuẩn. Yersin thì mô tả đúng ngay từ đầu, và gửi chủng vi khuẩn về Paris cho Albert Calmette kiểm chứng độc lập.

Nhưng công bằng với Kitasato: một phân tích hình thái học công bố năm 1976 kết luận rằng ông đã khảo nghiệm đúng trực khuẩn dịch hạch ở Hồng Kông cuối tháng 6 đầu tháng 7/1894, và không nên phủ nhận đóng góp đó.

Yersin còn làm một việc quan trọng hơn: ông là người đầu tiên chứng minh vi khuẩn ở chuột bệnh và ở người bệnh là một. Đó là mấu chốt để hiểu đường lây.

Tên khoa học của vi khuẩn đổi nhiều lần — Bacterium pestis, Bacillus pestis, Pasteurella pestis — trước khi mang tên Yersinia pestis. Các nguồn ghi năm chốt tên khác nhau, nên chỉ chắc chắn được điều này: ông nhận vinh dự đó sau khi đã qua đời.

Người ở lại: cao su, canhkina và một trường thuốc

Người Anh muốn giữ ông ở lại Hồng Kông. Ông từ chối, về Nha Trang.

Năm 1895 ông lập phòng thí nghiệm ở đây, về sau thành Viện Pasteur Nha Trang. Nhưng làm huyết thanh cần ngựa, cần bò, cần tiền — mà tiền thì không ai cho. Nên nhà vi khuẩn học đi làm nông dân.

Ông nhập cây cao su Hevea brasiliensis, trồng thử nhiều lần, thành công từ khoảng năm 1899, và bán mủ cho hãng Michelin ngay từ những vụ đầu. Cây cao su đến hôm nay vẫn là một nguồn lợi của Việt Nam — nó vào nước này qua tay một người trồng nó để nuôi phòng thí nghiệm.

Năm 1915 ông lên Hòn Bà trồng thử cây canhkina lấy ký ninh chữa sốt rét. Nhờ những vườn cây đó, Đông Dương tự lo được nhu cầu ký ninh trong Thế chiến thứ hai.

Năm 1902, Toàn quyền Paul Doumer mời ông ra Hà Nội mở trường thuốc. Ông làm hiệu trưởng đầu tiên của Trường Y khoa Hà Nội — tiền thân Đại học Y Hà Nội. Khóa đầu 29 sinh viên. Ông nhận xét về họ: *"Họ rất chăm học, có những người xuất sắc ngang với những sinh viên giỏi nhất bên Pháp."* Hai năm sau, khi mọi thứ vào guồng, ông xin nghỉ và về lại Nha Trang.

Ở tuổi tám mươi, ông học lại tiếng Latin và tiếng Hy Lạp để dịch Virgile và Platon. Ông đặt kính thiên văn trên sân thượng để đoán bão — và khi bão đến thì gọi dân làng chài vào nhà ông trú, phát đồ ăn cho họ.

Những điều nhiều người kể sai

  • "Yersin là người Pháp." Ông sinh ở Thụy Sĩ. Ông nhập quốc tịch Pháp cuối thập niên 1880 vì một lý do rất thực dụng: thời đó chỉ công dân Pháp mới được hành nghề y ở Pháp.
  • "Ông một mình tìm ra trực khuẩn, Kitasato không có công gì." Không đúng. Kitasato tìm thấy vi khuẩn trước vài ngày và giới nghiên cứu ngày nay không phủ nhận đóng góp của ông. Khác biệt nằm ở chỗ mô tả của Yersin chính xác ngay từ đầu.
  • "Tìm ra vi khuẩn là chữa được bệnh." Không. Huyết thanh mà chính Yersin mang đi thử ở Quảng Châu, Hạ Môn rồi Bombay cho kết quả đáng thất vọng. Phải rất lâu sau, khi có kháng sinh, dịch hạch mới thực sự bị chặn.
  • "Ông Năm" là vì ông là người thứ năm nào đó. Cái tên đến từ năm vạch trên quân hàm — Yersin phục vụ trong ngành quân y thuộc địa và về hưu với cấp đại tá. Chi tiết có khác nhau giữa các nguồn, nhưng đều quy về con số năm trên bộ đồng phục.

Đám tang dài ba cây số

Yersin mất tại nhà riêng ở Nha Trang đầu năm 1943, thọ 79 tuổi, giữa lúc Thế chiến thứ hai đang diễn ra. Các nguồn ghi ngày mất lệch nhau một ngày — cuối tháng 2 hoặc ngày 1/3/1943.

Di chúc của ông nói rõ ông muốn gì:

"Tôi muốn được chôn ở Suối Dầu. Hãy chôn tôi nằm úp xuống. Yêu cầu ông Bùi Quang Phương giữ tôi lại tại Nha Trang, đừng cho ai đem tôi đi nơi khác. Mọi tài sản còn lại xin tặng hết cho Viện Pasteur Nha Trang, và những người cộng sự lâu năm. Đám táng làm giản dị, không huy hoàng không điếu văn."

Ông xin một đám tang giản dị. Ông không được như ý. Dân xóm Cồn và Nha Trang kéo đến để tang, đoàn người đưa tang dài hơn ba cây số.

Ông không có vợ con. Toàn bộ gia sản ông cho hết Viện Pasteur Nha Trang và những người làm việc cùng mình.

Vì sao câu chuyện này chưa khép lại

Mộ ông ở Suối Dầu, Khánh Hòa. Sau khi đất nước độc lập, những con đường mang tên ông vẫn giữ nguyên tên — một điều hiếm. Trên mộ dựng một ngôi chùa nhỏ, và người dân vẫn hương khói tới nay. Bia mộ gọi ông là ân nhân được nhân dân Việt Nam tôn kính. Năm 2014, ông được truy tặng danh hiệu công dân danh dự Việt Nam.

Ông chưa từng trả lời câu hỏi "vì sao không về Pháp" bằng một tuyên ngôn. Nhưng ông đã trả lời bằng thứ khó cãi hơn lời nói. Bằng lá thư rủ Émile Roux sang chơi: *"Hãy đến đây với tôi... một khung cảnh thanh bình tuyệt đối và nhiều công việc cần làm."* Bằng cái diều đo bão cho dân chài. Bằng dòng di chúc xin đừng cho ai đem ông đi nơi khác.

Một người có thể chọn được chôn ở bất cứ nghĩa trang danh giá nào của châu Âu đã chọn nằm lại một triền đồi ở Khánh Hòa. Và tám mươi năm sau, vẫn có người tới quét mộ cho ông.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao vi khuẩn dịch hạch mang tên Yersinia pestis?

Vì mô tả của Yersin năm 1894 chính xác ngay từ đầu: ông xác định đúng vi khuẩn Gram âm, bất động, lấy từ hạch bạch huyết, và gửi chủng về Paris cho đồng nghiệp kiểm chứng độc lập. Kitasato Shibasaburō tìm thấy vi khuẩn trước vài ngày nhưng mô tả mâu thuẫn, nhiều khả năng do mẫu nuôi cấy bị nhiễm. Tên khoa học được đổi để vinh danh Yersin sau khi ông đã qua đời.

Yersin đã làm gì cho Việt Nam ngoài y học?

Ông tìm ra cao nguyên Lâm Viên năm 1893, nơi sau này thành Đà Lạt. Ông nhập và trồng thành công cây cao su, bán mủ cho hãng Michelin để lấy tiền nuôi phòng thí nghiệm. Ông trồng canhkina lấy ký ninh chữa sốt rét, giúp Đông Dương tự lo được nhu cầu trong Thế chiến thứ hai. Năm 1902 ông làm hiệu trưởng đầu tiên của Trường Y khoa Hà Nội.

Vì sao người dân gọi Yersin là Ông Năm?

Cái tên bắt nguồn từ năm vạch trên quân hàm của ông. Yersin phục vụ trong ngành quân y thuộc địa suốt sự nghiệp ở Đông Dương và về hưu năm 1920 với cấp đại tá, quân hàm có năm vạch. Các nguồn giải thích chi tiết hơi khác nhau, có nguồn nói là năm vạch mạ vàng trên bộ đồng phục trắng thời ông còn làm bác sĩ tàu biển, nhưng đều quy về con số năm.

Chia sẻ:FacebookTelegram

Đọc tiếp